04. Phật tử Myanmar

15/03/201416:29(Xem: 9919)
04. Phật tử Myanmar

Phat_tu_Myanmar (2)
Phật tử Myanmar

Như chúng ta đã biết có đến 90% dân số Myanmar là Phật tử. Đạo Phật với chùa chiền, kinh sách, tu sỹ len lỏi đến từng làng mạc, thị trấn.

Dân Myanmar rất sùng đạo Phật. Tại bất cứ nơi đâu, thị xã hay vùng quê đều có ít nhất một ngôi chùa và một tu viện Phật giáo. Chùa Myanmar luôn rất đẹp và thường được dát vàng nên trông rất nguy nga, tráng lệ và ấn tượng.

Theo các thông tin chính thức, 99% Phật tử là người Miến, người Shan và người Karen. Phật giáo Myanmar gốc trước đây là Đại thừa nhưng sau này chuyển thành phật giáo Nguyên thủy hay Theravada.

Điểm khác biệt lớn nhất so với Việt Nam ở chỗ các quý tăng không ở chùa. Chùa chỉ là nơi thờ Phật và dành cho Phật tử. Quý sư ở các tu viện. Điều này cũng được hiểu rằng chùa được quản lý bởi cư sỹ.

Ở Myanmar người dân còn rất nghèo. Chuyện bạn gặp các ngôi nhà làm bằng cót, bằng lá là thường tình. Thu nhập của người dân nơi đây còn khá thấp. Bạn tôi cho biết người thường thu nhập 2 -3 đô la một ngày. Ấy vậy nhưng hầu như tiền họ kiếm được bao nhiêu là gom góp để xây chùa, tạc tượng, đúc chuông. Chính vì vậy mà chùa nhiều lắm. Riêng ở Bagan, với một vùng đất trên dưới 40 km2 mà có đến trên 4.000 đền, chùa, tháp lớn nhỏ. Có đến Bagan mới biết, từ thời xa xưa Phật tử Myanmar đã rất mến mộ đạo Phật. Họ hết mình làm tất cả những gì có thể để hoằng pháp, để hộ pháp, để Phật Pháp trường tồn. Có đến ngắm những ngôi chùa cách đây hàng thế kỷ mới hiểu phần nào về Phật tử Myanmar.
Phat_tu_Myanmar (5)Phat_tu_Myanmar (4)

Anh bạn tôi người Myanmar cho biết, người dân nước anh hầu như không còn tham nữa. Do không có tham nên lúc nào họ cũng vui vẻ và bình an. Tôi chứng kiến rất nhiều gia đình đưa nhau vào chùa. Họ thật sự hạnh phúc bên nhau. Tôi nhìn thấy khắp nơi dán các tấm biển giới thiệu ngày, giờ và địa điểm giảng pháp của các vị sư khác nhau. Và các Phật tử nơi đây thường xuyên đi nghe pháp.

Các Phật tử Myanmar rất mộ đạo. Họ không chỉ tích cực xây dựng chùa và làm những gì liên quan đến tượng Phật và chùa, không chỉ thường xuyên nghe pháp mà họ rất hay mua những tờ giấy có vàng và tự mình đắp lên tượng Phật. Nhờ đó mà các bức tượng Phật ngày càng có lớp vàng dày hơn.

Cờ Phật giáo được các Phật tử Myanmar treo khắp nơi. Ở Việt Nam ta hình như rất khó làm được như vậy vì phải xin phép rất phiền phức. Tôi còn nghe nói rằng, ở ta, thường chỉ được treo quanh và trong chùa. Ở Myanmar thì khác. Cờ bay khắp nơi. Và như vậy tính Phật lại càng ngấm sâu vào từng tế bào của mỗi người dân của bao thế hệ.

Chúng tôi ở một số khách sạn và nhiều buổi chiều có nghe thấy loa tụng kinh. Hay thật. Giọng tụng trực tiếp chứ không phải ghi âm sẵn (vì vẫn nghe thấy tiếng ho, tiếng ngừng….). Vì tụng bằng tiếng Pali nên tôi không hiểu nhưng nghe giai điệu thấy rất thích. Khi ngồi nghe tôi tưởng tượng ra các loa truyền thanh phường xã của Việt Nam ta thay vì phát những tin không ai muốn nghe mà mở kinh Phật cho dân nghe thì hay biết nhường nào. Nếu làm được như vậy, Phât giáo mới đi sâu vào từng người con đất Việt và thiện lành mới có cơ hội tăng trưởng.
Phat_tu_Myanmar (6)

Tự nhiên tôi nhớ đến xe bán bánh tráng “ông già” ở Sà Gòn. Ông bà là bố đẻ của em Truyền, học trò của tôi. Vừa bán bánh tráng, họ thường xuyên mở các bài kinh, bìa giảng của quý thầy cho người mua hàng và khách quanh đó cùng nghe. Tiếc thay đây vẫn là cá biệt, là số ít.

Đi đến các chùa ở Myanmar chúng tôi thấy Phật tử địa phương mua hoa, trái cây lễ Phật. Tuy nhiên họ bày rất ngăn nắp với số lượng vừa phải. Hai thứ hay được dâng cúng Phật nhất là chuối và dừa. Có lẽ bởi thông dụng nhất. Chúng tôi chưa hề thấy ở đâu Phật tử cúng đồ mặn. Chỉ 100% là hoa và trái cây. Thật là thanh tịnh và sạch sẽ, thơm tho.
Phat_tu_Myanmar (3)

Phật tử Myanmar rất thành tâm và tính tín ngưỡng cũng cao. Chùa nào cũng có chỗ linh thiêng. Cũng thấy giới thiệu chùa nọ thiêng, Phật kia phù hộ độ trì. Và quan sát tôi thấy các Phật tử rất thành kính và rất thường xuyên lễ Phật, ngồi thiền hay tụng kinh.

Cũng nói luôn rằng ở đất nước này không hề có hiện tượng mặc áo ngắn tay, áo hở nách, quần cộc vào chùa. Các Phật tử cũng tự nguyên tháo dày dép để tỏ lòng tôn kính đến Đức Phật và ngôi chùa. Chuyện này xảy ra bất kể ngày đêm và ở bất cứ ngôi chùa hay ngôi tháp nào. Có hôm, 3 giờ sáng chúng tôi trèo lên một ngôi tháp rất cao ở Bagan. Trời rất lạnh, vậy mà các Phật tử địa phương vẫn nhiệt tình soi đèn pin cho chúng tôi leo và nhắc tháo dày dép. Chao ôi, sao mà họ tốt và thành kính đến vậy.

Myanmar là đất nước của Phật giáo nguyên thủy nên không có các vị ni, tức quý cô. Nữ giới không được xuất gia. Và ở đất nước này có đến hơn môt nửa triệu tăng. Quý thầy là lực lượng quan trọng cho hoằng pháp và hướng dẫn các Phật tử tu tập.

Quãng thời gian ở Myanmar tôi thật sự quý kính những bạn đồng tu nơi đây. Một số thành viên trong đoàn còn không muốn về. 13 ngày trôi đi quá nhanh để rồi chúng tôi muốn quay lại đây lắm.

Khi tôi gõ những dòng này thì nhà hàng xóm đang tụng kinh. Tôi dừng máy ngồi nghe. Không biết cả khu chung cư tôi đang ở có bao nhiêu phần trăm nhận mình là Phật tử và trong đó có bao nhiêu phần trăm là tu thật. Tôi nhớ đến những nụ cười của các Phật tử Myanmar, đến câu nói của anh bạn “Ở nước tôi hầu như không có ai còn tham nữa”. Vậy thì các Phật tử Myanmar không tham, không sân và dĩ nhiên là không si. Họ đang gần Phật rồi. Phật bên cạnh họ thật rồi.

Vậy thì còn tôi thì sao? Còn bạn thì sao?

TS Nguyễn Mạnh Hùng – Công ty sách Thái Hà

Mời đón đọc các bài tiếp theo:

5, Tu Pht như ở Myanmar

6, Bình an như Myanmar

7, Tượng Phật ở Myanmar

8, Kinh sách và đọc như ở Myanmar

9, Bí mật Myanmar

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/02/2021(Xem: 9642)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.
01/02/2021(Xem: 19598)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/2021(Xem: 10421)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.
01/02/2021(Xem: 17041)
Phần này bàn về các danh từ gọi dụng cụ gắp cơm và đưa vào miệng (ăn cơm) như đũa hay trợ, khoái, giáp cùng các dạng âm cổ của chúng. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), TQ (Trung Quốc), ĐNA (Đông Nam Á), HT (hài thanh), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), VBL (tự điển Việt Bồ La/1651) ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị/1895).
29/01/2021(Xem: 10601)
Ở đời không phải ai cũng chấp nhận sự chân thành của bạn. Những người quanh ta luôn công nhận việc tốt mà ta đã và đang làm, trở thành đương nhiên như thế… và đến một ngày kia bạn quá mệt mỏi liệu có ai bên cạnh bạn và cảm thông với bạn không? Vì trong suy nghĩ của họ bạn là người tự nguyện cho đi..., trong hoàn cảnh như thế liệu bạn có tiếp tục cho đi nữa hay không? Tất nhiên là có, chúng ta hãy tiếp tục sống tốt nhưng phải là người tốt thông minh. Hãy tin rằng không có nỗ lực nào là uổng phí, hãy có quan điểm và lý tưởng của chính mình, luật nhân quả luôn đền bù cho bạn xứng đáng. Nhà Phật dạy có Luân Hồi-Ngiệp Báo. Không ai phủ nhận rằng quan tâm chăm sóc người khác là tốt, nhường nhịn người khác đều là tốt, tuy nhiên quan tâm quá, họ sẽ làm khó ta vạn lần, nhiệt tình quá họ sẽ đâm ra nghi ngờ, thậm chí khiến bạn bị tổn thương …
28/01/2021(Xem: 10585)
Chúng ta đã quen với thể loại thơ Thiền sáng tác nhiều thế kỷ trước từ các ngài Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Hương Hải… Hay gần đây như với thơ của các ngài Nhất Hạnh, Mãn Giác, Tuệ Sỹ, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Ni Trưởng Trí Hải… Đó là nói cho chặt chẽ. Nếu nói cho nới rộng hơn, thơ Thiền cũng là Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Trịnh Công Sơn… Mỗi thời đại đều có những nét riêng, mỗi tác giả cũng là một thế giới độc đáo. Mặt khác, thơ Thiền mỗi quốc độ cũng khác. Trong khi phần lớn thơ Thiền Nhật Bản cô đọng với thể haiku, thơ Thiền Trung Hoa có nhiều bài hùng mạnh như tiếng sư tử hống, như với Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác, hay Tín Tâm Minh của ngài Tăng Xán. Không ngộ được tự tâm, sẽ không có văn phong đầy sức mạnh như thế. Nơi đây, chúng ta nêu câu hỏi: Làn gió Thiền Tông đã ảnh hưởng vào thơ Hoa Kỳ ra sao? Và sẽ giới thiệu về bốn nhà thơ.
28/01/2021(Xem: 13093)
Mọi người đều biết câu chuyện Xá Lợi Phất thăm Cấp Cô Độc khi bị bịnh nặng và giảng cho Cấp Cô Độc bài pháp về quán chiếu, khi thiền trong Tứ Niệm Xứ mà chữa bịnh cho Cấp Cô Độc. Quán về Phật pháp tăng, 18 giới gồm 6 căn 6 trần 6 thức, rồi quán về 7 đại: đất nước gió lửa không kiến thức, quán về thời gian không gian và cuối cùng là quán về 5 uẩn. Cấp Cô Độc nghe xong hết bịnh. Cũng câu chuyện như vậy, nhưng nó khác đi chi tiết là lúc về già sắp mất: Xá Lợi Phất khai thị Cấp Cô Độc chú trọng về 5 uẩn, hãy trả 5 uẩn về lại cho 5 uẩn khi duyên hội tụ đã hết. Hãy trả Pháp về lại cho Pháp. Và Cấp Cô Độc chết thành A la hán vì đã ngộ được đạo về cõi trời.
28/01/2021(Xem: 13070)
Chùa Thiếu Lâm Tự mở ra khóa ngồi thiền cho 18 vị tu thành A la Hán. Khoá tu này trong 30 ngày ngồi trong tịnh thất suốt ngày đêm. Vị chủ trì là Hòa thượng trụ trì của Thiếu Lâm Tự. Thời bấy giờ là mùa xuân, cảnh đẹp hoa nở và thời tiết ấm áp. Mọi thiền sinh miệt mài tập trung thiền định đạt được 30 ngày miên mật thì bỗng xảy ra tiếng nói vọng vào từ ngoài cửa. Giọng nói đầy êm dịu thanh thoát và trong trẻo của một cô gái. Mỗi tiếng phát âm đi sâu vào tim người nghe một cảm giác êm dịu nhẹ nhàng như vuốt ve trái tim của con người.
27/01/2021(Xem: 8100)
Kính thưa quý đọc giả, tôi đột nhiên thấy được quyển sách với nhan đề “Khéo Dùng Cái Tâm” do Hội Phật Học Bát Nhã biên soạn, liền mượn về ngay để nghiên cứu. Tôi sở dĩ nghiên cứu tác phẩm này là do chủ đề “Khéo Dùng Cái Tâm” lôi cuốn tư tưởng của tôi. Chủ đề rất hấp dẫn khiến tôi tò mò không biết nội dung trong đó nói gì đành phải bỏ hết thời gian để đọc cho xong. Toàn bộ quyển sách chỉ nói về Ma Nhập, nhưng quý đọc giả cần phải đọc qua để biết Ma Nhập quan hệ như thế nào đối với con người chúng ta, đồng thời cần phải tỏ tường để tránh né và đối trị.
27/01/2021(Xem: 7946)
Đức Phật ngồi thiền 49 ngày dưới cội Bồ Đề mới ngộ được đạo tìm được đường giải thoát cho chúng sinh khỏi sinh tử luân hồi. Từ đó đến nay trên 2000 năm biết bao nhiêu cách tọa thiền, đi thiền, nằm thiền, trà thiền, tất cả quá nhiều phương pháp đường lối. Từ Nguyên thủy đến Đại thừa, có rất nhiều đường lối thiền.