Bước đầu tu tập

28/01/201417:36(Xem: 10767)
Bước đầu tu tập

hoa_sen (2)
BƯỚC ĐẦU TU TẬP

Trong Phật giáo cũng như bất cứ tôn giáo nào, một người bước vào ngưỡng cửa tín ngưỡng, cũng phải tìm hiểu về tôn giáo mình đang theo, ít ra nắm vững giáo lý của một tôn giáo do minh muốn chọn. Đó là nguyên tắc, nhưng phần lớn người đến với đạo Phật, họ đến bằng lòng sùng tín hơn là học hỏi tìm hiểu, vì thế, không tránh khỏi mê tín qua việc cầu khấn, đốt vàng mã, xin xăm bói quẻ và vô số hình thái mà giáo lý nhà Phật không hề khuyến khích.

Ở đây, ta đề cập đến những tâm hồn muốn đến với Phật giáo bằng trí tuệ để tiến hóa tâm linh chứ không vì lợi dưỡng trong cuộc sống. Qua giai đoạn khá dài cho việc "bước đầu học Phật" để nắm vững giáo lý (không phải là tín điều như các tôn giáo khác); người tín đồ bắt đầu bước vào lãnh vực tu tập, có nghĩa là chuẩn bị cho một hành trình giải thoát tâm linh mà hệ quả kiếp người chập chùng khổ đau do nghiệp nhân quá khứ đem đến một bài học trong cỏi luân hồi.

Thật vậy, tôn giáo không phải là vật trang trí cho tín đồ, mà tín đồ cũng không phải là nhân tố biểu trưng tầm vóc cho một tôn giáo để xác định ưu thế tôn giáo trong xã hội. Ý thức kiếp nhân sinh là Vô Thường, Giả tạo, Khổ đau, nên người đến với Phật giáo là người tự tìm cho mình con đường thoát khổ, tự mình thoát khổ ngay kiếp sống hiện tại mà không cậy vào ngoại lực Thần linh để trốn trách nhiệm nhân quả tích tụ trong nhiều đời do mình đã tạo.

Tứ Thánh Đế là giáo lý căn bản của Phật giáo giúp cho hành giả tìm được mấu chốt của vấn đề, sau khi nắm được mấu chốt, các pháp hành như Bát Chánh Đạo, lục độ, Tứ nhiếp pháp..,là những nấc thang tự chỉnh đốn thân khẩu ý thường nhật. Tuy nhiên, đó là những nấc thang tiệm tiến nếu tự thân không đi sâu vào pháp hành tâm linh thì sự hoán chuyển xấu thành tốt, bất thiện thành thuần thiện chỉ là lộ đồ giáo dục hành thiện.

Cố gắng bỏ xấu chọn tốt là công đoạn gỡ rối cho một cuộn chỉ, cái rối của nghiệp lực bao phủ kiếp nhân sinh mà ngổi gỡ từng manh mối thì e rằng trọn kiếp chưa đủ để giúp ta giải thoát khổ đau mà chỉ có khả năng giúp ta thành con người hoàn thiện giữa những cái bất thiện. Chính vì vậy, các tông phái Phật giáo đều có pháp hành chuyên biệt. Phật giáo Nam Tông thông dụng pháp Vipassana, Phật giáo Kim Cang thừa, tuy dùng nghi thức ngoại tướng để dẫn sâu vào tự tánh, Kim cương thừa có bốn thứ lớp Tantra: Kriya Tantra, Carya Tantra, Yoga Tantra và Annutarayoga Tantra. cũng không thiếu các chân sư lấy vô tướng, tịch tĩnh làm bạn song hành. Ta nghe Lạt ma Dilgo Khyentse Rinpochenói:

AN TRÚ NƠI CÔ TỊCH
LÀ THỰC HÀNH CỦA MỘT BỒ TÁT

Khi từ bỏ những nơi chốn không thuận lợi, những cảm xúc hỗn loạn dần dần phai nhạt;

Khi không có những phóng dật, các hoạt động tích cực phát triển một cách tự nhiên;

Khi sự tỉnh giác trở nên trong trẻo hơn, niềm tin nơi Giáo Pháp tăng trưởng –

An trú nơi cô tịch là thực hành của một Bồ Tát.

Khi bạn sống ở một nơi cô tịch, những cảm xúc tiêu cực của bạn dần dần giảm bớt, sự tự chủ và tiết chế của bạn tăng trưởng.

Chính Gyalse Thogme đã nói:

Ở một nơi cô tịch,

Không có kẻ thù để đánh bại,

Không có người thân để bảo vệ,

Không có người trên để tôn kính,

Không có thuộc hạ để chăm nom.

Vì thế, ngoài việc điều phục tâm mình,

Bạn sẽ phải làm điều gì khác ở đó, hỡi những người trì tụng Mani?1

Phật giáo Bắc truyền còn nhiều pháp hành tùy mỗi thời đại, mỗi quốc độ căn cơ khác nhau mà chư tổ chế tác ra pháp hành khác nhau, mỗi pháp hành là một phương tiện giúp hành giả tiến sâu vào thế giới tâm linh, vì thế, pháp hành không phải là cứu cánh tuyệt đối. Chính vì thế một pháp hành không thể thích ứng cho mọi đối tượng, mỗi đối tượng tự mình tìm hiểu một pháp môn thích hợp với căn cơ của mình mới đưa đến kết quả nhất định.
Bước đầu chọn pháp, biết thế nào là một pháp thích hợp căn tánh của đương cơ? Cũng như dùng thuốc, nếu thuốc Tây, trong ba ngày biết được hiệu quả của thuốc, thuốc Bắc từ một tuần trở lên; pháp hành từ ba tháng mà cảm thấy có an lạc, có tiến bộ qua nhân cách và trí tuệ thì đó là pháp tương thích với đương cơ. Một pháp kiên trì suốt thời gian dài mà không thấy thay đổi thân tâm thì nên chuyển hướng. Đừng nên bắt chước số đông đang hành một pháp mà hãy chọn một pháp để tâm hành được tiến bộ. Vô lượng pháp môn tu tương thích với vô lượng căn cơ của hành giả.

Điều quan trọng là tín giả phải có lòng khát khao cầu pháp và chí hướng giải thoát.Không chỉ có một pháp môn thích hợp mà còn cần có một chân sư hoàn hảo, chỉ có chân sư hoàn hảo mới nắm bắt được nghiệp căn của đệ tử mà truyền năng lượng tuệ giác trong quá trình đệ tử hành trì. Năng lượng tâm linh của một vị minh sư giúp đỡ đệ tử rất nhiều; thứ nhất là năng lượng dương sẽ bạt nghiệp âm của đệ tử để tín giả đủ công năng hành trì đến khi đắc pháp, bấy giờ đệ tử mới đủ năng lực tự chuyển hóa nghiệp lực. Dĩ nhiên tính miên mật cho việc hành trì là điều tối cần. Bạn sẽ hỏi: làm sao tìm được một minh sư hoàn hảo, hay biết ai là minh sư hoàn hảo và xác định thế nào về sự hoàn hảo của một chân sư?

Thực ra tín giả khó mà tìm một chân sư hoàn hảo, chỉ có chân sư hoàn hảo tìm đến khi tâm thành của tín giả đạt đến một mức độ cảm ứng vô hình. Như vậy điều kiện tiên quyết cần phải có cho một tín giả đặt chân lên ngưỡng cửa tâm linh:

1/ hiểu đúng giá trị con đường tâm linh chứ không phải hình thức tôn giáo

2/ lòng khát khao chân thành tìm đường giải thoát

3/ chọn một pháp hành tương thích với căn cơ

4/ tâm luôn trong tình trạng xả ly và nuôi dưỡng tâm từ cao độ

5/ thể hiện tự tánh Tam bảo của tự thân.

6/ hiểu và nắm vững giáo lý Phật giáo để tránh sự lầm lạc trong quá trình hành trì.

7/ không nuôi thân bằng mạng sống của các động vật.

Như gạo đun đủ lửa, nước, thì tự khắc cơm sẽ chín, nghĩa là tự thân chuẩn bị đủ những tiêu chuẩn tâm linh thì minh sư hoàn hảo là một năng lượng tuệ giác sẽ đến với tín giả một cách tình cờ thông qua một hình thức nào đó.Đó là bước sơ khởi đi vào lãnh vực tu tập tâm linh. Trên con đường thẩm thấu tâm linh, hành giả còn phải kinh qua lắm chướng duyên, bế tắt do nghiệp thức lạc dẫn, nhưng bên cạnh hành giả, luôn có lực lượng minh sư bảo hộ như sự bảo hộ của chư Thần Kim Cang dành cho các hành giả Kim Cang Thừa.

MINH MẪN 27/01/2014

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/05/2011(Xem: 13005)
Từ khi ra thăm bốn cửa thành, Thái tử Tất Đạt Đa đã cảm nhận những nỗi thiết tha thống khổ của nhân loại khiến Ngài quyết tâm đi tìm một chân lý để cứu giúp chúng sinh còn đang lặng hụp trong biển đời sinh tử trầm luân.
28/05/2011(Xem: 14460)
Chữ niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim, nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà niệm và chánh niệm.
26/05/2011(Xem: 20046)
Nhận lời mời của quý vị, hôm nay có duyên cùng quý vị bàn về tam quy y trong Phật pháp tại Bờ biển Vàng (Golden coast) Queensland- Australia. Ðối với Phật pháp đây là đề tài rất quan trọng, là chỗ nhập môn tu học của chúng ta. Trước khi nói đến tam quy, đầu tiên phải có nhận thức chính xác về Phật pháp.
21/05/2011(Xem: 12742)
Ý tưởng về bồ đề tâm thật không thể nghĩ bàn! Nó khiến cho tất cả những công việc nào không liên quan đến việc làm lợi lạc cho chúng sanh trở nên buồn chán và bất toại nguyện. Ta thật sự sẽ không còn hứng thú hay thưởng thức được đời sống của mình, ngoại trừ công việc đầy ý nghĩa này. Tất cả mọi thứ khác sẽ trở nên vô nghĩa, trống rỗng và không có thực chất.
20/05/2011(Xem: 12117)
Ta cần có những thiện hạnh để chấm dứt những dục vọng vô độ và việc coi mình là quan trọng; cách hành xử tránh điều độc hại như thuốc độc...
19/05/2011(Xem: 23973)
Hầu như ai đến phố Bolsa cũng từng thấy một khất sĩ mà nhiều người gọi là “ông sư ở Phước Lộc Thọ.” Ông mặc bộ áo cà sa vàng, khoảng 40 tuổi, tay ôm bình bát, mắt nhắm nghiền như đang thiền định. Ông đứng từ sáng đến chiều, ngày này qua ngày nọ bất kể thời tiết nóng hay lạnh. Phố Bolsa sáng sáng thường có các nhà sư đi khất thực bên ngoài những cửa tiệm, đặc biệt trong khu chợ ABC ở góc Bolsa và Magnolia. Họ xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần, xong biến mất như đã hoàn tất một giai đoạn trên con đường tu tập.
18/05/2011(Xem: 26221)
Con được biết - không chắc đúng không - hôm nay 28-4, là ngày Sinh Nhật Sư Phụ tròn 88 tuổi nên con viết vội đôi dòng kính chúc Sư Phụ luôn Phước Thọ tăng long, bách niên thọ thế để hàng đại chúng Bảo Vương của chúng con nói riêng và Giáo hội nói chung luôn có được bóng mát chỡ che tinh thần và trí tuệ của một trong số rất ít còn lại hàng đại lão hòa thượng của PGVN. Riêng con vẫn còn đó một đại tự điển sống về Phật học tinh hoa cũng như về lịch sữ Việt Nam thời cận đại.
15/05/2011(Xem: 12150)
Nhân quả đồng thời được nói một cách cô đọng trong kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm… và rải rác trong các kinh điển Đại thừa. Có lẽ người đầu tiên dùng thành ngữ “nhân quả đồng thời” là Đại sư Trí Khải (thế kỷ thứ 6) trong Pháp Hoa Huyền Nghĩavà trong các tác phẩm Thiên Thai tông của ngài, y cứ trên kinh Pháp Hoa. Thành ngữ này cũng là một giáo lý chính yếu của Hoa Nghiêm tông vào thế kỷ thứ 7. Nói một cách vắn tắt và đơn giản, nhân quả đồng thời là quả giác ngộ, quả Phật vốn đã nằm nơi nhân tu hành để đạt đến giác ngộ, để thành Phật. Nhân của thành Phật là “nhân địa pháp hạnh của Như Lai” được nói trong kinhViên Giác:
14/05/2011(Xem: 21784)
Xuất phát từ một nhận thức có tính thuyết phục về đạo Phật, quyển "Thuần Hóa Tâm Hồn" được viết với một văn phong hiện đại, trong sáng và tinh tế; nghiêm trang nhưng vẫn đan xen đôi nét hóm hỉnh.
14/05/2011(Xem: 13528)
Phật Đản lại về, cuối xuân đầu hạ, cây đủ lá xanh tràn trề sức sống, hoa sen rộ nở đóa đóa diệu hồng, trắng mát, tỏa hương khoe sắc, như đón bậc vĩ nhân...