Buông đao thành Phật

13/12/201310:32(Xem: 15099)
Buông đao thành Phật
buong-dao-thanh-Phat
Đọc tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, người ta thường thấy câu thành ngữ “Buông đao đồ tể, lập tức thành Phật”. Đồ tể là người làm nghề giết mổ, chuyên giết mổ súc vật; trong khi đó, một trong những trọng giới của nhà Phật là giới sát. Người Phật tử đã không được phép hại mạng sống của chúng sanh, lẽ nào người sống bằng nghề giết mổ, cả đời lấy đi mạng sống của biết bao sinh vật, chỉ cần buông đao xuống là đã có thể thành Phật, lại còn thành Phật ngay lập tức? Tất nhiên, người đọc cũng hiểu, thành ngữ này có tính thậm xưng, nói quá hơn sự thật, để nhắc nhở rằng mọi người đều có Phật tính; chỉ cần nhận thức được hành vi mang nghiệp nặng của mình, quyết tâm từ bỏ, thì có thể thành Phật. Kinh điển nhà Phật có đề cập trường hợp phạm ác nghiệp nặng nề nhưng khi biết hối cải thì đã đạt được thánh quả.

Trường hợp thứ nhất được nêu trong kinh Angulimala, bản kinh số 86 thuộc Trung bộ, nói về một sát thủ nổi tiếng có biệt danh là Daku Angulimala (Kẻ đeo xâu chuỗi bằng ngón tay người). Dưới thời Đức Phật, ở xứ Kosala của vua Pasenadi, một dạo, có một kẻ chuyên giết người để chặt lấy một ngón tay, sau đó xâu các ngón tay ấy vào thành một chuỗi đeo ở cổ. Người này hoạt động đơn độc, không cướp của, nhưng có sức mạnh và khéo lẩn tránh. Hành vi của người này khiến dân chúng khắp cõi Kosala đều hoang mang. Dân chúng xứ Kosala cầu xin nhà vua truy lùng để trừ họa hại cho dân nhưng quan quân mấy lần vây bắt đương sự mà không thành công. 
buong-dao-thanh-Phat

Theo kinh Bổn sanh thì Đức Phật quán sát biết người này trong các tiền kiếp cũng từng có quan hệ thân tộc với Ngài và vốn là người có thiện tâm, chẳng qua vì có tà kiến rằng cần phải kiếm đủ 1.000 ngón tay để làm lễ vật dâng người dạy thần thông cho mình thì thần thông ấy mới có hiệu nghiệm nên mới trở nên tàn ác. Đức Phật quyết tâm thu phục Angulimala, vừa giải thoát tà kiến cho người này, vừa tiêu trừ họa hại cho dân chúng. Lúc ấy, Angulimala đã thu thập đủ 999 ngón tay và đang bị truy bắt ráo riết. Lệnh truy bắt Angulimala đến tai một người là phu nhân của một vị đại thần trong triều của Pasenadi; tuy không biết Angulimala là ai nhưng vị phu nhân này đoán rằng đó chính là con trai của mình, vốn có tên là Ahimsaka (Kẻ không gây hại), cái tên đã được đặt nhằm giải trừ một điềm báo khi con bà mới sanh rằng đứa trẻ lớn lên sẽ trở thành một kẻ giết người không gớm tay. 

Cũng theo kinh Bổn sanh thì người con này đã được nuôi dạy rất cẩn thận để trở thành người hiền, nhưng khi trưởng thành, lại được gửi đến cách nhà vài trăm dặm để theo học một vị thầy nổi tiếng đương thời, và lập tức trở thành sát thủ ngay sau khi rời khỏi nhà thầy nên gia đình không biết về hành vi tàn ác của người con. Bà mẹ thương con, khẳng định Angulimala là con mình, tìm cách báo cho Angulimala biết lệnh truy bắt của nhà vua. Nghe tin Angulimala trốn tránh tại một khu vực hẻo lánh, bà lên đường tìm con. Bấy giờ cũng là lúc Đức Phật quyết định cứu giúp Angulimala. Đức Phật dùng thần thông tiến vào con đường nơi Angulimala rình rập chờ giết người thứ 1.000. Nhiều người thấy Đức Phật đi vào con đường ấy đều năn nỉ Ngài không nên đi tiếp vì sợ Ngài bị Angulimala làm hại. Từ chỗ ẩn nấp, trước hết Angulimala thấy có một người đang đi trên đường và nhận ra đó chính là mẹ mình. Kẻ sát nhân vừa lóe lên ý định sát hại bà để thành tựu xâu chuỗi 1.000 ngón tay thì trông thấy Đức Phật cũng đang đi tới. 

Trong một thoáng, anh ta nghĩ rằng không nên giết mẹ mà hãy cố giết vị sa-môn kia, mặc dù giết vị sa-môn thì khó khăn hơn là giết mẹ, một người phụ nữ yếu đuối. Anh ta đuổi theo Đức Phật, nhưng càng đuổi thì khoảng cách giữa anh ta với Đức Phật càng xa, mặc dù Đức Phật vẫn đi theo nhịp thiền hành. Ngạc nhiên, Angulimala gọi lớn, “Sa- môn, hãy đứng lại!”. Đức Phật trả lời y, “Ta đã đứng lại rồi, này Angulimala. Còn ngươi, cũng hãy đứng lại!”. Câu trả lời của Đức Phật làm Angulimala hoang mang. Và thiện tính của người này bừng sáng. Những câu đối đáp tiếp theo giữa kẻ sát nhân và Đức Phật đã củng cố ý thức của anh ta. Angulimala xin được theo Phật, từ bỏ ác nghiệp. Kinh Trung Bộ cho biết sau đó Angulimala tu tập tinh tấn, nhẫn nhục chịu nhiều quả báo đau khổ, rồi đạt thánh quả A-la-hán.

Trường hợp thứ hai được ghi trong kinh Đại Bát Niết- bàn thuộc Đại Chính tân tu Đại tạng kinh, chỉ nhắc qua trường hợp một người làm nghề bán thịt ở thành Ba- la-nại có tên là Quảng Ngạch, mỗi ngày đều giết không biết bao nhiêu là con dê; một hôm gặp được Tôn giả Xá-lợi-phất, xin thọ Bát giới kinh một ngày một đêm, nhờ nhân duyên ấy, sau khi qua đời, được thác sanh lên cõi trời của Tỳ-sa-môn thiên vương ở phương Bắc.

Đấy là những sự tích lấy từ trong kinh điển nhà Phật, cho thấy những người làm ác một khi nhận thức được ác nghiệp, quyết tâm từ bỏ, đều có thể đạt tới sự giác ngộ tối thượng. Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ còn ghi nhận trường hợp vua Asoka (A-dục), một vị vua nổi tiếng tàn bạo, giết sạch ngay cả những người anh em cùng cha khác mẹ của mình để chiếm ngôi, mở rộng đế quốc của mình bằng những chiến dịch chinh phạt hung hãn; nhưng cũng chính cảnh tang tóc của chiến tranh đã khiến nhà vua hối hận. Ông quay đầu về với lý tưởng hòa bình của Phật giáo, trở thành một Phật tử thuần thành, một vị hoàng đế của lòng từ, góp phần truyền bá Phật giáo ra ngoài đất Ấn Độ, được người đời xưng tụng là bậc hộ pháp vĩ đại nhất của Phật giáo.

Nhìn từ góc độ cá nhân, con dao chỉ là vật để giết mổ. Nhưng đứng ở góc độ xã hội như trường hợp vua Asoka, đao trong câu thành ngữ dẫn trên có thể được hiểu là biểu tượng của quyền lực. Con người có quyền lực có thể vì tham vọng, vì vô minh, vì tà kiến mà trở nên tàn bạo. Nhưng ngay khi nhận thức được ác nghiệp, thì chính quyền lực đem lại phúc lợi lớn cho nhiều người.

Lịch sử luôn lên án những cuộc chinh phục vì tham vọng, những hoạt động buôn bán vũ khí, buôn bán nô lệ quy mô toàn cầu, những cuộc chiến tranh xâm lược tiêu diệt hẳn một vài dân tộc và nền văn hóa, vì tà kiến cho rằng chỉ có đấng thượng đế mà mình tôn sùng mới chính đáng, còn tất cả những niềm tin khác biệt đều là tà giáo. Lịch sử cũng phê phán gay gắt những bạo chúa sử dụng quyền lực giết hại nhiều người, cưỡng đoạt của nhân dân làm kiệt quệ đất nước chỉ phục vụ cho cá nhân và dòng tộc. Lịch sử cũng kết tội những nhà tư bản chỉ biết lũng đoạn đầu cơ bóc lột người lao động, người tiêu thụ để làm giàu cho chính mình, tập trung những khoản của cải kếch xù mà không biết giúp đỡ ai.

Nhưng lịch sử cũng ghi nhận công ơn không ít những nhà chính trị, quân sự phải giải quyết vấn đề độc lập, tự do, phú cường cho đất nước, biết sử dụng công cụ quyền lực để trừng trị kẻ xấu xa hại dân hại nước một cách chính đáng, biết giảm thiểu thiệt hại trong mọi quá trình tranh chấp, biết dưỡng sức dân trong chiến tranh để hướng đến lúc xây dựng trong hòa bình.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 143
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/11/2011(Xem: 12310)
Phật giáo không hoàn toàn là một tôn giáo theo cái nghĩa mà từ này vẫn được hiểu , vì Phật giáo không phải là “ một hệ thống tín điều và nghi lễ thờ cúng liên kết bất kể tín đồ nào đó với một chủ tể siêu nhiên ”.
26/11/2011(Xem: 14168)
Ngày nay có nhiều người cảm thấy khó chịu khi nhìn thấy có vị tu sĩ mang giày da, mặc áo đời thường, thậm chí ra vào chùa ngang nhiên, tăng tục khó phân. Lại nữa, y phục trong chùa lại lắm màu lắm vẻ, chất liệu thì mỏng dính, thướt tha chảy dài, gấm vóc lụa là thay nhau trình diễn. Nhìn ra có vẻ mất trang nghiêm, xuất gia lánh xa bụi trần chỉ cần 3 y và 1 bình bát sao đành chịu vùi vào thế tục. Khiến người than trách.
25/11/2011(Xem: 13261)
"Của cải kếch xù của một người như thế nếu không biết sử dụng thích đáng thì cũng sẽ bị vua chúa tịch thu, bị trộm cắp vơ vét, bị thiêu hủy vì hỏa hoạn...
24/11/2011(Xem: 11110)
Xin chào các vị pháp sư, các vị đồng tu! Chúc các vị năm mới an lạc! Năm nay cũng là một năm rất hy hữu khó được. Tôi nhận lời mời đến Cang Sơn, Nhật Bản tham dự hội nghị của Liên Hiệp Quốc, một hội nghị mười năm giáo dục liên tục. Ngay đêm giao thừa tôi đã đến Nhật Bản, cho nên năm nay ăn tết truyền thống của chúng ta ở Nhật Bản.
21/11/2011(Xem: 13939)
Trầm Tháp (agarwood incense) xứ Huế
15/11/2011(Xem: 13548)
Từ Ân Thiền Đường là một ngôi chùa nhỏ ở Santa Ana, có những độc đáo riêng, khó tìm được ở nhiều nơi khác.
08/11/2011(Xem: 15988)
Cách ngôn Trung Hoa có câu: ‘Tĩnh tọa thường tư kỷ quá, nhàn đàm mạc thuyết tha phi’, khi ngồi một mình vắng vẻ, hãy thường xuyên suy nghĩ về lỗi lầm của chính mình. Trong lúc đàm luận nhàn rỗi, chớ nên kể lể chuyện xấu của người. Đây là châm ngôn tu thân của người đời. Dù chỉ là người dân thường, nếu ưu tư về lỗi lầm của mình thì có thể cách mạng được cả số phận; còn như một quân vương, nếu thấy được lỗi lầm của mình thì không những thay đổi cả mệnh đời, mà còn thay đổi cả vận mệnh quốc gia, đánh thức toàn trái tim dân tộc, và mãi mãi là tấm gương lịch sử cho những đế vương sau này học theo.
04/11/2011(Xem: 11790)
Chánh điện Chùa Phật Đà, San Diego, rực sáng bởi màu y vàng giải thoát của hàng trăm người “Em” tôi kính quý và thân thương vừa xuất hiện sáng hôm nay. Tôi đã nhìn và đã thấy trên từng nét mặt đoan trang thanh tú, từng nụ cười tươi vui rạng rỡ của các “Em” tôi, những người “Em” tôi vừa mới gặp lại hôm qua sau bao năm trường xa cách. Tôi và Em tôi đã cùng tắm chung gìong suối từ bi thanh lương dịu ngọt. Chúng ta có cùng đại nguyện lên đường để tìm an lạc của bản thân và muôn loài. Vậy là chúng ta đã có rất nhiều nhân duyên liên hệ với nhau từ muôn vạn kiếp. Chúng ta đã cùng gieo hạt từ bi trong nhiều kiếp xa xưa để hôm nay cây trí tuệ đơm hoa kết trái. Chúng ta đang cùng nhau bước vào trong nhà Như Lai, cùng mặc áo Như Lai và đang ngồi toà của Như Lai. Chúng ta đã cạo bỏ râu tóc để cùng về với nhau, mang chung giòng họ Thích, cùng kết duyên quyến thuộc Bồ Đề…
03/11/2011(Xem: 14777)
Tâm của con người vô cùng quan trọng, nó là trung tâm của sự sống, của vũ trụ và chứa nhóm tất cả muôn pháp. Nó là hào lũy ẩn náu của mọi tật xấu, nhưng cũng là mảnh đất phì nhiêu nẩy sanh mầm giống giác ngộ. Vì thế, chính tâm tạo nên hạnh phúc và cũng chính tâm tạo biết bao nỗi khổ đau.
01/11/2011(Xem: 16744)
A lại da thức : A lại da là âm của tiếng Phạn Alaya có nghĩa là cái kho mà danh từ Hán-Việt gọi là tàng. Tất cả mọi chủng tử không phân biệt thiện ác, tốt xấu, sanh tử và niết bàn, mê ngộ và khổ vui, ngay cả vô ký đều được chứa đựng trong tàng thức này.