18. Một đời sống mới bắt đầu

27/11/201311:52(Xem: 29457)
18. Một đời sống mới bắt đầu

Tự truyện của mẫu thân Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Tác giả: Diki Tsering

Biên tập & giới thiệu:Khedroob Thondup

Nguyên tác: Cụ Bà Diki Tsering

Việt dịch: Thích Nguyên Tạng

Diễn đọc: Pt Quảng An



18. Một đời sống mới bắt đầu




Năm tháng sau khi chúng tôi đến Lhasa, Đức Đạt Lai Lạt Ma chuyển tới cung điện Potala. Đây là một kiến trúc trông thật to lớn, nhất là vì cung điện này được xây dựng trên một quả đồi. Lúc đầu tôi đã sững sờ khi nhìn thấy Potala. Tôi mất hai mươi phút để đi lên những bậc đá tới tầng trên cùng của mười ba tầng. Dường như có vô số những món trang trí bằng vàng, bạc và những bức tranh "thangka" treo đầy trên tường những căn phòng. Đây là một viện bảo tàng mà sự vĩ đại của nó tôi sẽ không bao giờ được nhìn thấy lại. Tôi đặc biệt bị thu hút bởi những bức chân dung bằng vàng khối của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba. Khi tôi mới tới Potala, tòa cung điện này đã có vẻ quen thuộc đối với tôi, cứ như là tôi đã ở đó trước kia. Khi còn ở Tsongkha, trước khi Đức Đạt Lai Lạt Ma ra đời, tôi đã nằm mộng thấy cung điện Potala rất nhiều lần, và tôi ngạc nhiên khi thấy những căn phòng giống hệt như những căn phòng mà tôi đã trông thấy trong các giấc mộng.

Ở mọi mặt của cung điện Potala là những cửa gỗ với những ổ khóa lớn bằng sắt. Có những điều lệ khi vào cung điện được ghi trên những tấm bảng lớn ở lối vào chính: không được đội nón, mũ hay mang giày ngoại quốc, không được mang dao, súng vào cung điện. Giày, nón, mũ của Tây Tạng thì được phép.

Chúng tôi thường đến cung điện Potala bằng ngựa trong tất cả những buổi lễ. Vào dịp vui tết Losar Tây Tạng, vì có quá nhiều sự kiện nên chính phủ dành cho chúng tôi một căn phòng ở tầng trên cùng của cung điện, với một nhà bếp và một phòng tiếp khách.

Lúc đầu tôi không quen nhiều tục lệ ở Lhasa, vốn rất khác tục lệ ở Tsongkha. Tôi cẩn thận quan sát những gì mà người khác làm, như vậy tôi sẽ không làm sai. Tôi có thể đi ra ngoài và đi bất cứ nơi nào tôi muốn, mang theo một người hầu gái. Đời sống của tôi chỉ bị giới hạn bởi những điều luật về xã hội. Tôi không bao giờ đến chợ hay những tiệm bán hàng nhỏ. Tôi chỉ đi ngựa qua những chỗ đó. Tôi đã tới tu viện Sera, Drepung, Ganden, tất cả đều là những tu viện nổi tiếng. Hai tu viện hạng nhất là Sera và Drepung.

Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma được mười một hay mười hai tuổi, ngài dự những kỳ thi về giáo lý Phật học đầu tiên của mình ở Drepung. Tôi đã ở đó mười ngày với ngài. Vì phụ nữ không được ở trong những tòa nhà chính của tu viện, nên tôi ngụ ở một nhà khách trong khuôn viên gia đình tôi. Mấy ngàn người chứng kiến cuộc thi của ngài. Những kỳ thi tương tự cũng được các học giả của Sera và rồi Ganden tổ chức. Là một người mẹ, tôi chỉ lo Đức Đạt Lai Lạt Ma không làm tốt khi trả lời những câu hỏi của các vị học giả hàng đầu, nhưng nỗi lo của tôi dường như vô ích, vì ngài luôn luôn làm tốt như được mong đợi.

Tôi không biết nhiều về ngoại giao, và còn phải học nhiều về xã hội Lhasa. Là một nông dân, tôi đã được nuôi dưỡng trong bầu không khí yêu thương và thành thật, hai đức tính được coi trọng ở Tsongkha. Tôi không biết mưu mô là gì, và tôi đã chưa biết rằng thế giới có thể độc ác và khó khăn. Dần dần tôi biết được rằng xã hội Lhasa không phải là xã hội mà hạng người như tôi tin tưởng.

Bà Lalu thuộc một gia đình quan trọng ở Lhasa, trở thành một người bạn tốt của tôi. Bà là một trong những người ở Lhasa đã cho tôi những lời khuyên quý giá là phải thận trọng và dè dặt khi tiếp xúc với những người quý tộc. Lúc đó tôi không biết nói tiếng Lhasa và tôi không muốn lời nói của mình bị dịch sai nên tôi phải mất hai năm để học tiếng Lhasa. Bà mẹ của ông Tsaron là một người bạn tốt, cũng như bà Ragashar, cả hai thuộc giới quý tộc. Tất cả ba bà này đều khuyên tôi không nên quá thẳng thắn hay nói ra quá nhiều ý kiến với những người tới thăm tôi. Tôi rất biết ơn ba người bạn tuyệt vời này vì lời khuyên tử tế của họ, và cũng vì vậy mà tôi lo lắng, sợ hãi về tương lai.

Bà Ragashar thường đến thăm, hỏi tôi có bận việc gì hay không. Tôi sẽ nói là tôi không có nhiều việc để làm, và bà ta rủ tôi chơi cờ. Rồi bà ta kể chuyện cho tôi nghe và có thể nói chuyện vặt một chút, giống như tất cả những người đàn bà thường làm khi họ ngồi với nhau.

Sau khi chúng tôi đến Lhasa, người ta giao cho chúng tôi một thửa đất mà trước đây là của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba. Tòa Công Sứ Anh Quốc đã hỏi mua thửa đất này, nhưng ngài từ chối và nói rằng thửa đất sẽ rất có ích cho ngài về sau. Thửa đất này được gọi là Changseshar, có nghĩa là "Vườn Hướng Đông". Đây là một thửa đất lớn có nhiều cây cối. Vị tiên tri Nechung đã coi bói tìm những địa điểm thuận lợi nhất để xây nhà. Nhà của chúng tôi được xây bằng đá, có ba tầng và nhiều cột. Ngôi nhà này do chính phủ xây dựng. Ở bên ngoài sân của ngôi nhà này, một ngôi nhà hai tầng cũng được xây. Sau ba năm ở Norbulingka, chúng tôi đã chuyển tới ngôi nhà mới này, binh sĩ hộ tống trong một đoàn gồm hai trăm người cùng các nhạc công. Chúng tôi trú ngụ ở đây cho đến năm 1959.

Ở Lhasa chúng tôi có nhiều người phục vụ. Chúng tôi có một "chang-zo", tức là người nhận và trả lời thư từ, một người quản lý tài chánh, và một thư ký giúp việc cho viên quản lý đó. "Nyerpa", là người trông coi những vật dụng để trong nhà kho. Tôi có hai người hầu gái, con gái tôi có hai người hầu và một hầu gái trông coi bọn trẻ, chồng tôi có sáu người hầu, và con trai tôi, Gyalo Thondup, có bốn người hầu. Chúng tôi có hai nhà bếp, một cho người hầu và một cho những người trong gia đình. Trong mỗi nhà bếp có một đầu bếp, một người rửa chén, và một người rửa rau. Người quản lý chuồng ngựa với nhiều người giúp việc trông coi năm trăm con ngựa của chúng tôi.

Ở Tsongkha chúng tôi có ruộng đất riêng, và chúng tôi canh tác với sự giúp đỡ của các tá điền (nông dân làm ruộng thuê)Nhưng ở Lhasa, những "miser" (nông dân không có ruộng đất)làm tất cả công việc, trong khi các địa chủ sống bằng sức lao động của những người này. Tôi đã tức giận khi thấy một số gia đình đối xử tồi tệ với "miser" của họ. Có khi "miser" phải đi sáu hay bảy ngày đường để đưa nông sản về cho chúng tôi, mà viên "chang-zo" và viên "nyerpa" của tôi cũng không thèm nói chuyện với họ, hay không thèm biết sự có mặt của họ. Tôi bảo những người này phải gọi "miser" bằng tên của họ đàng hoàng, chứ không được gọi họ là "kei" và "mei" ("người nam" và "người nữ").

Gyalo Thondup


Gyalo Thondup (trái) & Đặng Tiểu Bình

Tôi thức dậy lúc sáu giờ, lễ Phật hai trăm lạy rồi tụng kinh. Dùng điểm tâm lúc tám giờ rưỡi. Gần như suốt ngày tôi ở trong vườn Changseshar, tôi chỉ đi ra ngoài khi cần thiết, như đi thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma, đi lễ chùa hay đi đến cung điện Potala trong những dịp lễ quan trọng. Tôi đi ngủ lúc chín giờ tối.

Sau khi sống ở Lhasa được khoảng một năm, tôi cho con trai Gyalo Thondup đi học ở trường Seshing. Cậu ta học ở đó hai năm rồi đi du học ở Trung Quốc. Ở trường cậu rất nghịch ngợm, hay trốn học đi thả diều với bạn bè. Một hôm thầy giáo bắt gặp cậu ta đang trốn học và đánh cậu ta bằng roi. Tôi đã nổi giận vì tôi nghĩ rằng người ta không được đánh trẻ con mạnh tay, nhưng rồi tôi thấy rằng đó là lỗi của con tôi. Sau đó cậu ta không trốn học nữa.

Một năm sau khi chúng tôi đến Lhasa, chồng tôi bảo con gái và con rể của chúng tôi tới ở với chúng tôi. Khi có mấy thương gia trở về Tsongkha, chồng tôi nhờ họ đưa hai đứa con này đi Lhasa cùng với họ. Tsering Dolma là con gái độc nhất của chúng tôi lúc đó, và chúng tôi muốn cô ta ở cùng với chúng tôi. Một năm sau khi cô ta đến Lhasa, con trai tôi, Thubten Jigme Norbu cũng đến ở với chúng tôi, và như vậy mọi người trong gia đình đã đoàn tụ. Norbu ở với chúng tôi một năm rồi đi tu ở Tu viện Drepung. Sáu năm sau cậu ta trở về Kumbum và trụ trì ở đó ba năm. Con trai tôi, Lobsang Samten ở cùng với Đức Đạt Lai Lạt Ma hơn hai năm rồi được cho đi học ở Seshing một năm và sau đó cũng đi tu ở Drepung.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/03/2026(Xem: 3653)
Trong việc huấn luyện Huynh trưởng trại Vạn hạnh cấp cao — những huynh trưởng sẽ kế thừa và "lèo lái" tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPT) theo tinh thần Phật giáo — phương pháp giảng dạy đóng vai trò quyết định. Để tổ chức không bị "thế tục hóa" hay biến thành một câu lạc bộ kỹ năng đơn thuần, giảng sư cần có một sự cân bằng tinh tế, nhưng trọng tâm phải đặt vào thực chứng và sự chuyển hóa tự thân. Con Đường Đưa Người Huynh Trưởng Từ Tri Thức Đến Chuyển Hóa
04/03/2026(Xem: 3127)
Trong tâm niệm Hồi hướng Phước lành đến nhị vị Ni Sư của Hiền Như Tịnh Thất đã quá vãng. Thầy Tánh Tuệ và chư Bồ Đề quyến thuộc của tịnh thất đã thực hiện thiện pháp Bố thí giếng nước cho dân nghèo xứ Phật với ước nguyện Hồi hướng công đức này đến chư Ni Sư, nguyện cầu nhị vị Ni Sư thừa tư Phước lực và Tam Bảo lực cao đăng Phật quốc. Xin chân thành CẢM NIỆM CÔNG ĐỨC toàn thể môn đồ pháp quyến cùng tất cả chư Phật tử của Hiền Như tịnh thất đã góp một bàn tay ủng hộ cho thiện pháp này được thành tựu viên mãn. Kính chúc chư Tôn Đức và quý thiện hữu vô lượng an lành trong Hồng ân Tam Bảo.
16/02/2026(Xem: 2403)
Tôi được mời phát biểu tối nay về sự xuất ly – tức là quyết tâm được tự do khỏi những vấn đề của chính mình – và đặc biệt là cách chúng ta có thể hiểu điều đó trong bối cảnh áp lực của cuộc sống ở một thành phố lớn, như ở đây là Moscow. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng khi bắt đầu phân tích chủ đề này, chúng ta sẽ nhận ra rằng phần lớn những vấn đề mà chúng ta phải đối mặt trong thế giới hiện đại không chỉ giới hạn ở việc sống trong một thành phố lớn.
11/02/2026(Xem: 3505)
Sách của Cư Sĩ Thiện Phúc - Phần 1 (PDF)
11/02/2026(Xem: 2937)
(1):Làm Việc Thiện, Thực Hiện bằng: Tâm Thanh Tịnh,... (Bằng)Tâm Vô Ngã, Hướng Đến Giải Thoát thì sao? Đó là Công Đức hành trì những điều sau: Làm Thiện Không Danh Lợi, Không Cầu Báo Ân,
05/02/2026(Xem: 3796)
Nam Mô Di Lặc Tiên Quang Phật! Kính thưa chư Tôn đức, chư Pháp hữu & quí vị hảo tâm. Không còn bao lâu nữa là Xuân Bính Ngọ sẽ đến. Trong tâm tình Hiểu và Thương những mảnh đời bất hạnh, khốn khó ở quê nhà khi năm cùng tháng tận không biết lấy chi để mừng Xuân, đón Tết.. Duyên may, nhờ sự quan tâm san sẻ của chư Tôn đức Tăng Ni & quý vị Phật tử, các vị hảo tâm.. Hội Từ thiện Trái Tim Bồ Đề (Bodhgaya Heart Foundation) chúng con, chúng tôi vừa thực hiện một buổi phát quà từ thiện ''Xuân Yêu Thương'' dành cho những người dân nghèo tại xã Tóc Tiên, Châu Pha, Long Điền, Đất Đỏ, Phú Mỹ, Long Thành. (5 Feb 2026).
04/02/2026(Xem: 2666)
HIỂU ĐÚNG VỀ XÁ LỢI PHẬT 🌹 Phật là người có thật trong lịch sử, không phải thần thoại Một trong những lý do khiến công chúng hoài nghi xá lợi là vì họ cho rằng “Phật chỉ là truyền thuyết”. Tuy nhiên, điều này không đúng về mặt học thuật. Các nghiên cứu hiện đại – từ Ấn Độ học, khảo cổ học, ngữ văn Pali/Sanskrit cho tới lịch sử Đông Nam Á – đã xác nhận rằng Siddhartha Gautama (tức Đức Phật Thích Ca) là một nhân vật lịch sử, sinh ra vào khoảng năm 563 TCN tại Kapilavastu, thuộc bộ tộc Śākya, vùng biên giới Ấn Độ – Nepal ngày nay.
04/02/2026(Xem: 2605)
NỘI DUNG SỐ NÀY: · THƯ TÒA SOẠN, trang 2 · THƯ CHÚC XUÂN (Chủ nhiệm Ns Chánh Pháp), trang 3 · NGUỒN VUI THÙ THẮNG (Nguyên Siêu) trang 4 · TIẾNG CHUÔNG, XUÂN THỂ (thơ HT Thắng Hoan), trang 6 · MÂY VẪN CÒN BAY (HT Thích Thái Hòa), trang 7 · THÔNG ĐIỆP TẾT BÍNH NGỌ 2026 (Hội Đồng Giáo Phẩm), trang 8 · THƯ CHÚC XUÂN BÍNH NGỌ 2026 (Hội Đồng Điều Hành), trang 9 · MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ (thơ Chúc Hiền), trang 10
03/02/2026(Xem: 2487)
NỘI DUNG SỐ NÀY: · THƯ TÒA SOẠN, trang 2 · THƯ MỜI LỄ ĐẠI TƯỜNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THẮNG HOAN (GHPGVNTNHK), trang 5 · TƯỞNG NIỆM BẬC CHÂN NHÂN (thơ Thích Chúc Hiền), trang 6 · TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG ĐLHT THÍCH THẮNG HOAN (Môn đồ pháp quyến), trang 7 · NGUỒN VUI, PHÁP NHŨ, TA VỚI TA, PHÁP HỶ (thơ HT Thích Thắng Hoan), trang 10 · TRƯỞNG LÃO HT THÍCH THẮNG HOAN, NỤ CƯỜI VÀ SỨ MỆNH HOẰNG PHÁP (Huỳnh Ki
03/02/2026(Xem: 2478)
(I): Việc Làm Tạo Phước (1):Làm những Việc Thiện trong Đời Sống Thế Gian. Như Chăm Sóc Cha Mẹ, Xây Nhà Tình Thương,Cúng Dường Tam Bảo, Bố Thí Kẻ Bần Cùng,...Ấy, những việc TẠO PHƯỚC ta Thường Quan Tâm.