Thầy

19/11/201306:29(Xem: 12146)
Thầy

sa_mon
Có người nhiều phước báu thì tìm ra ngay người Thầy tâm linh của mình từ lúc còn rất nhỏ, có người thì phải đi lòng vòng mất quá nhiều thời gian, có người lại quá bất hạnh mãi đến khi tóc đã bạc, hay nhắm mắt rồi mới biết đến Phật pháp thì đã quá muộn rồi.

Có lẽ không ở đâu trên thế giới chữ Thầy lại có nhiều danh từ như ở Việt Nam.

Thầy : có nhiều vùng miền ở vùng thôn quê phía Bắc gọi Thầy là Cha (Cha đẻ) ; Thầy dạy chữ (Thầy giáo); Thầy thuốc (Bác sĩ) ; Thầy dạy nghề (truyền nghề) ; Thầy Tâm Linh (các vị tu sĩ) và có cả thầy bói, thầy cúng, thầy phong thủy …

Và đã là con người, trong một kiếp người có lẽ không ai là chưa gặp một người Thầy nào bao giờ cả, kể cả những người chưa bao giờ cắp sách đến trường hay không một lần biết gọi nhưng vẫn có Thầy và gặp Thầy đấy. Bạn cứ ngẫm mà xem !

Là người Việt Nam cứ mỗi độ đông về hay ở phương Nam không có mùa đông đi nữa thì cứ đến tháng 11 hàng năm người người ai cũng nhớ về một người Thầy nào đó của mình cho dù người Thầy ấy hiền từ, nhân hậu, dữ dằn hay là Thầy ‘’máy chém’’* hay một người Thầy khó tính, khắt khe, nghiêm khắc… với trò của mình thì kỷ niệm vui buồn ấy cũng ùa về một thời để mà nhớ.

Nghĩ suy về chữ Thầy thì đúng là Thầy chỉ là một cái nghề, nhưng là ngành nghề đặc biệt, một nghề đòi hỏi hội tụ của nhiều yếu tố tính nhân văn để làm nghề hơn những ngành nghề khác, đó là nghề nhà giáo (dạy chữ, dạy nghề), nghề Thầy thuốc( cứu người), đó là những ngành nghề cao quí nhất, được mọi người tôn vinh. Rất nhiều người, cứ nghĩ rằng trong mỗi đời người chỉ cần học, cần gặp và có hai người Thầy ấy( Thầy giáo, thầy thuốc) ở bên đã là đủ lắm rồi, cuộc đời mình đã chắc chắn đủ lông cánh bay xa, bay cao và phía trước là cả một bầu trời ngập tràn hạnh phúc.

Nhưng cuộc đời đâu có đơn giản thế, mong muốn của con người là vô cùng tận không ai ít muốn, biết đủ cả. Vì vậy mà người có quyền lực cao nhất là vua của một nước rồi vẫn chưa đủ, lại muốn làm vua của nhiều nước khác và tham vọng đến bá chủ của thiên hạ. Người giầu rồi thì cứ muốn giầu thêm nữa, thêm nữa ; ai cũng muốn mình là chủ sở hữu của người này, người kia, của đất nước này, của món đồ kia. v.v…Chính vì vậy mà trên thế giới từ khi con người có mặt ở hành tinh này không bao giờ thôi bớt xung đột và ham muốn, dẫn tới chiến tranh tàn khốc, không bao giờ bớt ngừng khai thác tài nguyên, thiên nhiên của trái đất một cách không khoa học và thiếu khôn ngoan dẫn đến trái đất bị thương nghiêm trọng.

Con người sinh sống trong một thời đại mà khoa học đang ở mức tột đỉnh, sự tiện ích của các sản phẩm khoa học mang đến cho loài người trong một thập niên qua là vô cùng to lớn mà không ai có thể phủ nhận. Nhưng bên cạnh đó thì tính nhân văn trong mỗi con người trên khắp thế giới lại đang bị xói mòn và tan chảy theo tỉ lệ ngược lại. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc con người ngày càng khổ đau hơn, Chủ nghĩa hưởng thụ và sống thực dụng, sống nhanh đang làm cho lòng thương cảm của con người bị chai lỳ đi, trơ ra trước nỗi bất hạnh của nhân loại. Ta thản nhiên đi, thản nhiên bước qua, ta rụt tay vào trước tiếng kêu cứu và bàn tay đang đưa ra van xin ta cứu giúp của đồng loại.

Những người có quyền lực, có nhiều tiền trong tay cũng không hề tìm được hạnh phúc hay được an ổn, bất an luôn rình rập, nói chi đến người nghèo khổ, bệnh tật. Nỗi khổ niềm đau cứ bủa vây ta, giam nhốt ta mà không sao thoát ra được. Chỉ khi đó, có nhiều người còn đủ tỉnh táo, mới hốt hoảng đi tìm một người Thầy đó là người Thầy tâm linh, những người Thầy đã và đang đưa chân lý Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo của đức Phật, đế hướng dẫn cho con người thoát khỏi và vượt qua vòng tục lụy mà 2600 năm trước đức Phật đã nhận thấy.

Nhưng không phải ai cũng tìm được những người Thầy chân chính, những người Thầy tâm linh để cho ta nương tựa, để mang Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo để ta đi, để ta vượt qua được những bế tắc, nghịch cảnh hay tư vấn cho ta những phương thức thực tập để ta vượt qua được nỗi khổ niềm đau, để ta đứng dậy đi tiếp và đi vững chắc trên bước đường đời đang chờ ta ở phía trước.

Có người nhiều phước báu thì tìm ra ngay người Thầy tâm linh của mình từ lúc còn rất nhỏ, có người thì phải đi lòng vòng mất quá nhiều thời gian, có người lại quá bất hạnh mãi đến khi tóc đã bạc, hay nhắm mắt rồi mới biết đến Phật pháp thì đã quá muộn rồi.

Quan niệm về những người Thầy tâm linh trong thập niên đầu thế kỷ 21 cũng phải cần thay đổi : điều kiện cần và đủ để trở thành một người Thầy tâm linh trong một thế giới toàn cầu này thì phải có trình độ hơn những người mà họ muốn được nghe hướng dẫn. Thầy tâm linh giờ đây không chỉ là gõ mõ, thuộc kinh là đủ và chỉ biết dừng lại ở lời khuyên người tìm đến bằng những câu quen thuộc ‘’ Con về chịu khó niệm Phật, đừng làm việc ác, chịu khó làm lành… ‘’như vậy vẫn chưa đủ so với những gì mà thế hệ trẻ bây giờ đang đòi hỏi, đang muốn khám phá, đang muốn tìm tòi, đang muốn lựa chọn cho mình một con đường, một tôn giáo vượt trội so với các tôn giáo khác về logic khoa học, để nương tựa trong một thế giới mà mọi sự thay đổi đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ.

Để đạo Phật hòa nhập với cuộc sống và thu hút giới trẻ, giới trí thức đến với đạo Phật. Có rất nhiều Thầy ngày đêm không biết mệt mỏi, trau dồi kiến thức tu học để có trí tuệ hơn hẳn người cần được tư vấn, giúp đỡ một cái đầu để trở thành một người Thầy tâm linh đúng nghĩa, đồng thời phải tu tâm, giữ mình trong sạch như người đời nghĩ tưởng : tu sĩ phải là một người rất chuẩn mực về đạo đức thì mới xứng đáng làm người Thầy tâm linh.

Để làm một Thầy giáo, một Thầy thuốc chân chính đã khó làm một người Thầy tâm linh còn khó gấp vạn lần. Với chỉ một chữ Thầy mà đức Phật đã dạy phải kính Thầy như kính Phật, kính Pháp.

Nhân ngày 20/11 Ngày nhà Giáo Việt Nam tất cả những ai đã nhận Phật làm Thầy điều đó cũng có nghĩa là đã nhận các vị tu sĩ (những người xuất gia) làm Thầy thì hãy cùng chắp tay kính lạy các Thầy với tất cả tấm lòng biết ơn và ngàn lần xin cám ơn Thầy, người Thầy tâm linh của chúng con.

Sài Gòn tháng 11 năm 2013

Giác Hạnh Hoa

Nguon: daophatngaynay.com/vn
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/05/2021(Xem: 13302)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 9782)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 18242)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 13228)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 9063)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 16198)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 7918)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 12036)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 8223)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/2021(Xem: 12067)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.