Niềm vui an cư

19/09/201317:24(Xem: 11629)
Niềm vui an cư

Như thông lệ hàng năm vào khoảng đầu tháng 7, Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni đều qui tụ về một ngôi chùa nào đó trên đất Úc để An Cư Kiết Ha. Chúng tôi hàng cư sĩ tại gia cũng được Giáo Hội cho phép tùng hạ, và Trường Hạ năm nay được tổ chức tại chùa Phổ Quang ở Tây Úc.

quangduc-group-2

Chúng tôi đến phi trường Tây Úc khoảng 3giờ chiều; không gian nơi đây đón tiếp chúng tôi với những hạt mưa lất phất còn vương lại sau một cơn mưa. Trên đường về chùa cảnh vật chung quanh thật vắng vẻ, tỉnh lặng dễ khiến cho lòng người buồn theo, nhưng sao lòng tôi lại nô nức rộn ràng như chờ đợi một tin vui. Về đến chùa tôi thật ngạc nhiên không ngờ nơi đây lại có một ngôi chùa to lớn với vườn cây cảnh chung quanh thật đẹp đẽ, trang nghiêm.

Nhóm chúng tôi gồm 18 người đến từ Melbourne, lẽ ra được sắp xếp vào 2 phòng, nhưng vì tất cả đều muốn ở chung nên Ban Tổ Chức phải cung cấp thêm nệm; có một sư cô mang từng tấm nệm cho chúng tôi.

Sáng hôm sau lên chánh diện chuẩn bị làm lễ, tôi được một Phật tử cho biết Trụ trì chùa Phổ Quang là một Sư Cô và khi nhận diện được vị Trụ Trì là Sư cô tối qua khiêng niệm đến phòng chúng tôi, tôi chợt giật mình và cảm động biết bao. Việc làm của Sư Cô Bảo Sơn có lẽ là bài học đầu tiên tôi học được trong khóa An Cư Kiết Hạ này.

Một điều khác làm cho tôi xúc động nữa là sự ân cần nhiệt tình của Phật tử chùa Phổ Quang, nhất là quý đạo hữu trong Ban Trai soạn, lúc nào cũng hoan hỷ, vui vẽ hết lòng phụ giúp tôi hoàn tất công việc nhà trù khi nhóm của tôi phát tâm cúng dường trai phạn một ngày. Một ly nước trái cây, một ly thuốc nước trợ sức, vài ly nước lạnh mà các đạo hữu đã mang đến khuyên tôi nên uống cho đỡ mệt, tôi đã uống những ly nước đó mà tưởng như mình đang uống nước Cam lồ.

Xin chân thành cám ơn quý đạo hữu Hoàng, Tường, Gia Phát, “chú tiểu” Lan, Diệu Lạc và một số Đạo hữu khác mà tôi chưa được biết tên. Tôi cũng xin nói với quý Đạo hữu rằng không phải riêng cá nhân tôi mà hầu như quý Đạo hữu đến từ Melbourne và các tiểu bang khác đều cảm kích tấm lòng của quý đạo hữu. Quý đạo hữu đã

cho chúng tôi thấy được tình đạo và tinh thần trách nhiệm trong công việc, và lời thành kính tri ân sâu xa nhất, con kính xin gởi đến chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni đã mở rộng lòng từ bi cho phép chúng con hàng cư sĩ tại gia được phép tùng hạ tu học, đã tạo duyên lành giúp cho chúng con quên đi những ưu tư, phiền não của đời sống, để được thanh thản, an vui trong lời kinh tiếng kệ, để trí huệ được khai thông qua những lời khai thị, giáo huấn của quý Ngài trong các thời thuyết giảng, hội thảo Phật Pháp trong suốt khóa tu. Con thấy vui, vui lắm…

Đầu nguồn con thác dữ
Là khe đá hiền mơ
Nửa đời về chốn cũ
Lòng vui như trẻ thơ.

Trường Hạ Phổ Quang, Tây Úc, 9/7/05

Thanh Phi

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/11/2014(Xem: 9198)
Đêm hôm đó là một đêm trời mưa. Mưa dai ẳng như tình quê xứ Huế, nhưng không phải Huế. Mưa đang rơi trong trời đêm Thụy Sĩ. Càng về khuya, mưa rơi càng nặng hạt. Vạn vật im lìm đứng lặng trong đêm. Thời gian nhẹ trôi. Không gian yên vắng. Tất cả đang chìm vào tĩnh mịch giữa đêm khuya. Mọi nhà hàng xóm đều tắt đèn yên nghỉ. Không còn một tiếng động dù nhỏ nào, ngoài tiếng mưa rơi rả rích lẫn với tiếng tâm tình rù rì của anh em Gia Đình Phật Tử Trí Thủ chúng tôi ngồi quây quần bên nhau trên căn gác xếp nhà anh Khá.
31/10/2014(Xem: 10806)
Sáng nào tôi cũng đi thiền nhặt rác 2 - 3 vòng quanh công viên Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy. Vừa thong thả bước những bước thảnh thơi, không vội vàng, không suy tư vừa nhặt rác, nếu thấy có. Chân nhẹ bước, tay lượm rác, tay cầm rác, mũi hít thở không khí trong lành buổi ban mai. Hà Nội mùa thu đẹp lắm. Càng ngày tôi càng yêu mùa thu Hà Nội. Mùi hoa sữa vẫn thơm đầu ngày mới. Ánh mặt trời dần rạng tỏ sớm mai. Tôi mê ngắm mặt trời mọc và lặn từ bao giờ chẳng biết. Dù ở đâu cũng thấy bình minh và hoàng hôn đẹp vô cùng. Bagan hay Aytthaya. Siem Riep hay Ngũ Hành Sơn. Mandalay hay Chieng Mai. Hồ Tây hay Bồ Đề Đạo Tràng. Bà Nà hay Lâm Tỳ Ni. Đẹp vô cùng và thấy tâm an lạc và thảnh thơi đến khó tả.
31/10/2014(Xem: 12714)
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
31/10/2014(Xem: 12476)
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha. Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
31/10/2014(Xem: 11942)
Mùa Xuân ta lên núi Hăm hở làm sơn ̣̣đồng Bỏ con đường khói bụi Cho sách vở vời trông... Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
28/10/2014(Xem: 10828)
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
26/10/2014(Xem: 14041)
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
24/10/2014(Xem: 22808)
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
24/10/2014(Xem: 11547)
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen. Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
23/10/2014(Xem: 20541)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại. Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.