Mưa trên nón thông

12/07/201306:40(Xem: 11679)
Mưa trên nón thông

mua_rain1

MƯA TRÊN NÓN THÔNG

Huệ Trân

Tôi thức giấc vì tiếng sấm, và rồi dăm tia chớp lóe sáng bên khung cửa sổ.

Đồng hồ chỉ 4 giờ 30 sáng.

Tôi ngồi dậy, nhìn mưa qua khung cửa kính. Chẳng thấy gì nhiều ngoài mầu xanh thẫm của rừng thông đang thỏa thuê đùa giỡn cùng mưa. Cả hai, dường như đang vui vẻ lắm! Mưa tuôn sối sả, thỉnh thoảng gầm gừ, lóe chớp như để rừng cây ngả nghiêng rượt tìm, tựa trò chơi cút bắt.

“Chờ tôi với!”Tôi thì thầm như thế, rồi bước xuống giường, pha một bình trà. Cái ấm điện mà khi nước sôi, cũng reo vui như đun bằng củi lửa. Gói trà sư huynh cho, tôi có mang theo đây.

- Sư huynh sang quá, uống trà thượng hảo hạng

- Phật tử cúng dường chứ huynh mua hồi nào mà sang với hèn!

- Thế à? Vậy thì nói lại, sư huynh từ bi quá, có trà ngon không để dành uống, mà lại cho muội.

- Từ bi gì! Tại lúc này hay khó ngủ, nên ít uống trà.

Huynh đệ thường vui đùa thế thôi, chứ Phật tử cúng dường món chi, cũng chia sớt cho nhau.

Nào ngờ, gói trà nhỏ theo tôi lên núi. Xa chùa, xa thầy, xa huynh đệ. Tôi đi để tìm tôi. Lá trà bỗng rưng rưng trong ngón tay nhón bốc, bỏ vào bình.

Chờ trà ngấm, tôi rót một tách, mở cửa phòng, bước ra hiên trước. Hiên này có mái rộng nên chỉ khi mưa thật lớn, với sự hợp sức của gió, nước mưa mới tạt vào.

Từ hàng hiên này, tôi có thể nhìn bao quát suốt đồi cỏ xanh dẫn lên chánh điện. Bên trái, gần là tôn tượng Đức Thích Ca chuyển pháp luân lần đầu, đang giảng Tứ Điệu Đế cho ngũ huynh đệ Kiều Trần Như, xa hơn chút, là hồ sen đang đơm nụ, nơi tôn tượng Quán Thế Âm vời vợi giữa đất trời; Bên phải là tôn tượng Đức Thích Ca đản sanh đang thanh thản bước bảy bước hoa sen, xa hơn chút là tôn tượng Ngài Di Lạc đang cười đùa với trẻ con vây quanh. Nơi đây, tôi cũng nhìn thấy gác chuông, nơi mỗi ngày, hai lần tôi thỉnh đại hồng chung.

Tôi vừa nhấp ngụm trà đầu ngày là lúc gió tạt qua dùi chuông, gióng lên một tiếng, vang động núi rừng trong cơn mưa tinh khôi

Lắng lòng nghe! Lắng lòng nghe!

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm (*)

Có lần, tôi xướng kệ, trước khi thỉnh chuông thì tình cờ một chiếc xe chạy ngang. Rất ít khi có ai ngang đây, vì dọc theo đồng cỏ, con đường sỏi nhỏ ngoằn ngoèo dẫn tới bờ sông là gia đình hàng xóm cuối, cũng cách chùa non hai dặm. Người trên xe bước xuống, đứng yên, ngước lên gác chuông. Tất nhiên, họ không hiểu được nội dung bài kệ, nhưng điều gì khiến họ dừng lại và tỏ lòng thành kính thế kia? Còn tôi thì vẫn thong thả, sau mỗi câu kệ lại thỉnh một hồi chuông. Khi tôi kết thúc:

Thỉnh chuông pháp thâm diệu

Tạo công đức vô biên

Đệ tử xin hồi hướng

Cho chúng sanh mọi miền (*)

thì họ vẫn đứng yên. Tôi ra khỏi gác chuông, hướng về họ, chắp tay xá. Họ đồng loạt chắp tay xá lại, rồi mới lên xe, đi tiếp.

Lòng tôi thật ấm áp. Một điều gì rất gần gũi, thân thương và mầu nhiệm trong tinh thần Bát Nhã mà tôi và nhóm người địa phương vừa tình cờ cảm nhận được. Tôi tin tưởng như thế, vì chúng tôi có cần ngôn ngữ gì trao đổi với nhau đâu! Ngoài hai vợ chồng già người da đỏ là hàng xóm gần nhất cách chùa hơn nửa dặm thì đây là nhóm dân địa phương đầu tiên tôi thấy họ và họ thấy tôi, sau một tuần lễ tôi về đây.

Hình như tách trà nóng đang làm dịu cơn mưa. Ngộ không! Tưởng chỉ mời nhau theo phép lịch sự, vậy mà mưa cũng nhẹ hạt, xuống uống trà, còn sấm chớp thì đã biến mất cả rồi!

Tôi cám ơn mưa, trở vào phòng, chuẩn bị y áo, ôm trong hai tay, với chiếc nón lá rồi bước ra màn sương, tiến lên chánh điện cho thời công phu.

Mưa vẫn còn lất phất và gió sớm khá lạnh. Chậm bước trên con đường sỏi, ngước nhìn trời đất bao la, rừng thông im vắng, tôi cảm nhận thân phận mình nhỏ bé biết bao. Bỗng dưng, chiếc nón lá như khép lại, vừa khít đầu, và chiếc nón đang che mưa gió cho tôi là chiếc nón thông. Vâng, đúng thế. Thay vì lên chánh điện bằng cửa chính, qua con đường lát sỏi, thì tôi đã rẽ lên đồi thông lúc nào không hay! Chánh điện có thể vào bằng ba cửa, nhưng mưa gió thế này, vào bằng cửa chính mới đỡ ướt át. Vậy mà, tôi đang đi trên thảm cỏ ướt, dưới những tàng cây thông, cành và lá đan nhau như chiếc nón vĩ đại rộng vành che mưa cho tôi. Tôi cứ thong thả như đi dưới nắng ấm, hạnh phúc bội phần như chính mưa cũng đang ôm ấp tôi.

Hạnh phúc sẽ đến khi tự ngã ra đi.

Những lời được nghe dạy, loáng thoáng đâu đó chợt về. Đi dưới mưa, cùng đất trời và thiên nhiên hòa nhập thế này, tôi mới mơ hồ hiểu phần nào, vì đâu có đôi lúc mình đã từng khi thì tự ty, lúc lại ngã mạn! Bởi những lúc đó lòng mình hạn hẹp, chỉ thấy cái ta, dẫu có biết “núi cao còn núi cao hơn” vẫn chỉ là biết để mà biết. Phố thị luôn chen chúc nên lòng người dễ hơn thua, và còn hơn thua thì còn cả tự ti lẫn ngã mạn!

Xin cám ơn những duyên khởi đã kết đủ, để tôi quyết định về đây. Nơi này, mây lúc nào cũng mênh mông vô tận, gió lúc nào cũng thênh thang, đồi thông lúc nào cũng bát ngát hương rừng cỏ nội, chim chóc lúc nào cũng ríu rít ca ngâm …. Tất cả đất trời ấy, thiên nhiên ấy đã ôm ấp và giúp “cái ta” nhỏ xíu, nhận rõ hơn về lẽ vô thường.

Buổi chiều, trên bước thiền hành ra tận ven sông, khi khổng khi không tôi bỗng nhớ tới một chi tiết trong cuốn Nẻo Về Của Ý của thầy Nhất Hạnh, viết từ thập niên 60. Cuốn sách đó tôi đã từng đọc say mê nhưng lâu rồi, chưa xem lại. Chi tiết chợt hiện về là tên một địa danh: Bedford!

Đó chính là địa danh có ngôi chùa hiu quạnh tọa lạc giữa rừng thông mà tôi đang trú ngụ. Trong Nẻo Về Của Ý, có dăm đoạn Thầy kể, đã từng dừng chân ở Bedford trong một thời khóa cắm trại với nhiều trẻ nhỏ. “Để trốn nắng thành phố, tôi đã về đây, sống với thiên nhiên, với rừng xanh, hồ biếc và trẻ thơ” (**)Rừng Bedford luôn khiến thầy nhớ về Phương Bối, một địa danh gần Đà Lạt mà thuở xưa Thầy đã cùng bao thân hữu bỏ tâm huyết để tạo dựng thành.

Khi trại hè kết thúc, Thầy đã viết như vầy: “Bedford đã rét rồi. Bọn trẻ con đã về hết. Rừng Bedfrod trở nên im lặng thêm. Tôi đã để nhiều thì giờ nghĩ đến Phương Bối. Và càng nghĩ tới Phương Bối tôi lại thấy tâm hồn tôi êm dịu hơn lên, giầu có hơn lên. Tôi tin giờ này ở khắp nơi, những con chim của Phương Bối đều đang nghĩ về Phương Bối. Rừng Bedford đã cho tôi sống những giờ thanh tịnh. Mai mốt về đô thị, có lẽ trên hình bóng Phương Bối, tôi cũng sẽ thấp thoáng hình bóng của Bedford …” (**)

Cái chi tiết bất chợt nhớ lại này, khiến bước thiền hành bớt cô đơn. Tôi từng đọc nhiều sách Thầy viết, nhưng sao bỗng dưng lại nhớ cái chi tiết đúng lúc, đúng cảnh này? Thầy ơi, chắc không phải tình cờ đâu. Có phải từ phương xa, Thầy vừa cảm nhận được ngã rẽ của đứa con, đang một mình đi tìm điều muốn tìm? Thầy ơi, có phải Thầy đã xót thương con mà nhắc con rằng, con không một mình. Bước chân Thầy từng in dấu nơi đây, hãy lắng tâm chánh niệm, con sẽ thấy bước chân con đang bên dấu chân Thầy…

Thế nhân ơi! Ai có thể cảm thông được sự mầu nhiệm này!

Làm sao tôi có thể ngăn được dòng lệ hạnh phúc!

Hơn bao giờ hết, tôi biết mình không cô đơn, dù thực tế chỉ có tôi cùng rừng núi bạt ngàn.

Giữa không gian Bedford mà tôi đang có Xóm Mới, Xóm Thượng, Xóm Hạ. Tôi còn có cả Thị Ngạn Am, thành phố Biển Dài, sông Hồng quê nội, núi Ba Vì xanh thẫm đồi Tây … Ôi, những địa danh đã nuôi dưỡng tôi, đã an ủi khi tôi khóc, đã che chở khi tôi lâm nguy, đã nâng đỡ khi tôi vấp ngã.

Nghĩa tình vời vợi biển rộng sông dài mà chỉ khi chúng ta mở con- mắt- tuệ, nhìn thấu tận cùng mới thấy tình thương kia vô điều kiện!

Huệ Trân

Thiên Di Am, chùa Chánh Pháp

Bedford, Kentucky

(*) Kệ thỉnh chuông Làng Mai

(**) Nẻo Về Của Ý

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/12/2013(Xem: 14430)
Đọc tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, người ta thường thấy câu thành ngữ “Buông đao đồ tể, lập tức thành Phật”. Đồ tể là người làm nghề giết mổ, chuyên giết mổ súc vật; trong khi đó, một trong những trọng giới của nhà Phật là giới sát. Người Phật tử đã không được phép hại mạng sống của chúng sanh, lẽ nào người sống bằng nghề giết mổ, cả đời lấy đi mạng sống của biết bao sinh vật, chỉ cần buông đao xuống là đã có thể thành Phật, lại còn thành Phật ngay lập tức?
13/12/2013(Xem: 20876)
Khi tâm được bình an, vắng lặng, nhìn lại bà con thân thuộc thì thấy mọi người đều mải mê lặn hụp trong đau khổ, trong vòng lẩn quẩn của thương ghét, từ đó khởi lên tình thương mà đạo Phật gọi là từ bi... Thương ghét
13/12/2013(Xem: 20920)
Bệnh tim mạch: Được coi là “kẻ giết người số 1” ở các nước phát triển. Nghiên cứu của Trường đại học Harvard cho thấy, huyết áp trung bình của người ăn chay giảm rõ rệt so với những người ăn thịt;
12/12/2013(Xem: 16503)
Bảy kỳ quan thế giới Phật giáo - Phim tài liệu của BBC. Phim do Sử gia Bettany Hughes trực tiếp thăm viếng và tường thuật và diễn giải sâu sắc về Cuộc đời Đức Phật, sự hành trì kế thừa suốt 26 thế kỷ, và đưa ra kết luận rất hay... Phụ tá với Sử gia Bettany Hughes, có Giáo sư Robert Thurman dạy Triết lý Phật Giáo đại học Columbia, Tiến sĩ Ulrich Pagal về Ngôn ngữ & Tôn giáo, và Ông Richard Coombrich Đại học Oxford.
12/12/2013(Xem: 27500)
Bé trai Ryan 5 tuổi sống tại bang Oklahoma (Mỹ) kể về lần nhìn thấy Marilyn Monroe tại một bữa tiệc nhưng chưa kịp tiến lại gần cô đã bị một cú đấm vào mặt bởi một vệ sĩ.
12/12/2013(Xem: 16170)
Đức Phật trả lời: “Tất cả chúng sinh đều mang theo nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa các chúng sinh” (Kinh Trung A Hàm)
12/12/2013(Xem: 10873)
Ở đời ai cũng đi tìm kiếm hạnh phúc. Đời người là cơ hội lớn nhất để có hạnh phúc. Phật giáo là những phương pháp, những con đường để con người thực hiện hạnh phúc; từ hạnh phúc nhỏ, có được có mất, đến hạnh phúc tối thượng, không được không mất. Khổ đau sở dĩ có vì con người không biết sống, tìm kiếm sai, mục đích sai, định hướng sai.
12/12/2013(Xem: 12017)
Xuất gia, tiếng Phạn là Pravrajya, là để chỉ người theo Phật giáo, từ bỏ gia đình, sống đời phạm hạnh, không màng danh lợi hay dục lạc, chỉ mong cầu giải thoát; họ ở trong rừng hay những nơi thanh tịnh, xa rời đời sống thế tục.
11/12/2013(Xem: 37723)
Nói về kiếp người Đức Lão Tử đã thốt lên rằng: “Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân, Ngô nhược vô thân, hà hoạn chi hữu?” Dịch : “ Ta có cái khốn khổ lớn, vì ta có thân, Nếu ta không thân thì đâu có khổ gì ?”
11/12/2013(Xem: 13510)
Người tu gánh vác được giáo pháp của Phật, làm lợi ích cho đời đều là những người trước hiếu thảo với cha mẹ. Kế đến biết quí kính Thầy Tổ là bậc tiền bối đã duy trì Phật pháp tồn tại, ngày nay chúng ta mới biết để tu hành. Nếu đi tu chỉ muốn cho thân mình được nhàn hạ sung sướng, mà không nghĩ đến công ơn của những bậc tiền bối,