Chương 12: Liên Trì Cảnh Sách

25/04/201116:08(Xem: 28224)
Chương 12: Liên Trì Cảnh Sách

LIÊN TRÌ CẢNH SÁCH
Thích Quảng Ánh Việt dịch
Nhà xuất bản Văn Hóa Saigon 2007

Chương XII

LIÊN TRÌ CẢNH SÁCH

1. Hạnh đại hiếu ở thế gian

Đại sư Liên Trì dạy: ”Giúp cha mẹ giải thoát sinh tử, mới tròn bổn phận làm đạo con”. Hạnh hiếu lớn nhất ở thể gian không gì hơn khuyên cha mẹ niệm Phật, phát nguyện vãng sanh thế giới Cực Lạc. Giả sử chúng ta cúng dường cha mẹ rất nhiều vàng ngọc châu báu, xây nhà cao đẹp lộng lẫy cho cha mẹ ở, nhưng lúc già chết đến, cha mẹ không thể mang theo được. Trong cuộc sống dẫu nhiều năm được gần gũi bên cha mẹ, ân cần thăm hỏi với tâm mến thương, tất cả đều chỉ là hư giả, tạm thời. Chỉ có khuyên cha mẹ thường niệm một câu Nam mô A-di-đà Phật mới tròn đạo hiếu thảo. Đây mới thật sự mời đón cha mẹ đến chỗ hoàn toàn lợi ích. Nguyện khắp thiện hạ, những người con có tâm hiếu thảo, cố gắng phụng dưỡng và báo đáp công ơn cha mẹ với tâm hiếu thảo này.

2. Đức khiêm tốn tự hổ thẹn

Tu hành chính là tu sửa cho ngay thẳng hành vi của chúng ta. Trong quá trình học Phật, nếu chúng ta không có đức tính khiêm tốn, tự mình hổ thẹn để tiếp nhận sự dạy bảo, chỉ dẫn và phê bình người khác, còn trở lại tự phụ, ngông cuồng không coi ai ra gì, hạng người này vĩnh viễn không bao giờ tiến bộ, cũng không đủ tư cách đứng trong hàng đệ tử của Phật.

3. Mục đích của sự tu hành

Trong quá trình tu hành, tất cả pháp môn như Lục độ Vạn hạnh đều dùng để dừng ác tu thiện, chính là thành tựu cho chúng ta sức thanh tịnh để niệm một câu Nam mô A-di-đà.

4. Tự thanh tịnh ý mình

Giáo nghĩa chư Phật dạy không ngoài 16 chữ “việc ác chớ làm, siêng làm việc lành, thanh tịnh ý mình, lời chư Phật dạy”. Trong 16 chữ ấy quan trọng nhất là bốn chữ “ thanh tịnh ý mình. Với người niệm Phật để thanh tịnh được ý mình, phải bền vững nắm chắc một câu Nam mô A-di-đà Phật. Dùng nhất tâm niệm Phật để chặt đứt và hàng phục muôn vàn vọng niệm, thanh tịnh từ tâm. Nếu niệm Phật không dán đoạn, sẽ hiện rõ tánh Phật xưa nay có sẵn nơi mỗi chúng ta.

5. Không có chỗ trụ tâm

Đáng tiếc cho người đời, phần nhiều ham chú trọng ở chỗ “hạnh ác không làm, siêng làm hạnh lành”. Lại còn chấp trước công đức của mình đã tạo ra, cuối cùng công đức đạt được chỉ thành tựu phước báu ở cõi nhân thiên, nên còn luẩn quẩn trong vòng sinh tử luân hồi, thật đáng tiếc vậy! Phần đông người đời lại lơ là điều tối quan trọng là ”tự tịnh ý mình”. Người học Phật cần phải dùng tâm thanh tịnh không chấp trước để niệm danh hiệu phật. Không nên chấp trước vào tất cả các công đức đoạn ác tu thiện (có làm mà không có chấp trước). Đem tất cả công đức ấy hồi hướng sinh về thế giới Cực Lạc ở Phương Tây, mới thật sự thành tựu đạo nghiệp của chúng ta

6. Vô thường

Sự vinh hoa phú quý ở đời như hoa nở rồi rụngu, việc tụ tán ở thế gian lại đồng như mây đến rồi đi. Trời đất bao quán vạn sự rất tự nhiên. Hoa nở rồi tàn, mây tụ rồi tán, sóng vỗ sóng tan, mặt trời lên lại xuống… Nơi nơi đều vì chúng ta thuyết pháp và chỉ thuyết một bài pháp duy nhất là “vô thường”. Vạn vật trong vũ trụ giống như điện chớp, mộng huyễn, bóng ảnh, bọt nước, như hạt sương giả có tạm thời. Điều ấy, nhắc nhở chúng ta không nên chấp trước, mà hãy chín chắn nhìn cho rõ và thật sự buông xuống. Trong sinh hoạt, phải tuỳ duyên bất biến làm chủ chính mình.

7. Nương pháp chẳng nương người

Phật dạy phương pháp tu rất nhiều. Kế đến Tổ sư làn lượt làm thiện tri thức dạy bảo chúng ta, lại thêm bạn hữu đồng tu cũng vô số. Vậy chúng ta hãy nắm lấy một nguyên tắc lớn “nương pháp chẳng nương người”. Lấy toàn bộ giáo pháp của chư Phật làm chuẩn mực, bởi chỉ có chư Phật nói ra mới đạt tới cứu cánh rốt ráo viên mãn. Vì thế, tất cả người tu hành nên nghe và lấy giáo pháp của chư Phật làm nguyên tắc, mới không đến nỗi nghe nói sao hay vậy, mà đi lạc vào đường tà.

8. Chỉ và quán

Có người nói rằng: Thế nào gọi là Chỉ và Quán? Quả thật chỉ niệm một câu A-di-đà Phật chính là chỉ và quán rồi. Có thể chuyên niệm danh hiệu Nam mô A-di-đà Phật đến khi không còn khởi niệm, vọng niệm không sinh gọi là chỉ. Khi niệm danh hiệu Phật thường biết từng niệm, từng niệm rõ ràng đều đặn gọi là quán. Có thể nương vào chương đại Thế Chí Bồ-tát Niệm Phật Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm: ”Thu nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục”. Chân thật chấp trì danh hiệu Phật chính là Chỉ và Quán vậy.

9. Cần học làm Phật, không cần giỏi Phật học (lý thuyết)

Thời mạt pháp này, chúng ta là hạng chúng sinh học Phật, nghiệp chướng nặng nề, phước báo mỏng manh, căn cơ phần nhiều ngu si yếu đuối. Dù sao nhất định cũng phải niệm danh hiệu Phật, lòng tin mạnh mẽ nguyện cầu sinh cõi Cực Lạc. Không cần phải nghiên cứu thật nhiều về Phật học, các pháp Chỉ Quán hoặc kinh điển. Chúng ta cần học làm Phật chứ không phải học về Phật học (lý thuyết). Thành thật trên sự tu hành là diệt tham, sân, si; siêng tu Giới, Định, Tuệ; lại thêm thường siêng tu Nam mô A-di-đà Phật, thì sự tu hành đã xứng đáng lắm thay!

10. Tức tâm tịnh độ

Dù bạn dốc sức nghiên cứu các pháp môn Chỉ Quán, có thể nơi giáo chỉ tông Thiên Thai đã dung hội và quán thông. Thậm chí còn có thể tụng thuộc làu làu Tam tạng kinh điển, đều không có chỗ dùng. Bạn vẫn là kẻ phàm phu còn trói buộc trong vòng luân hồi sinh tử. Muốn thành Phật phải trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Tuy cái gì bạn cũng không biết, nhưng chỉ cần bạn thành thật chấp trì danh hiệu Nam mô A-di-đà Phật với lòng tin sâu xa và tâm nguyện tha thiết cầu sinh về cõi Cực Lạc, là có thể thành tựu việc giải thoát sinh tử một đời, sẽ vượt phàm vào thánh. Pháp môn niệm Phật thật không thể nghĩ bàn. Xin khuyên tất cả Phật tử hãy biết tâm mình là cõi Tịnh độ, nên an tâm niệm Phật chớ để thời gian qua suông, vì mạng người có hạn!

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/05/2011(Xem: 13714)
Ý tưởng về bồ đề tâm thật không thể nghĩ bàn! Nó khiến cho tất cả những công việc nào không liên quan đến việc làm lợi lạc cho chúng sanh trở nên buồn chán và bất toại nguyện. Ta thật sự sẽ không còn hứng thú hay thưởng thức được đời sống của mình, ngoại trừ công việc đầy ý nghĩa này. Tất cả mọi thứ khác sẽ trở nên vô nghĩa, trống rỗng và không có thực chất.
20/05/2011(Xem: 13060)
Ta cần có những thiện hạnh để chấm dứt những dục vọng vô độ và việc coi mình là quan trọng; cách hành xử tránh điều độc hại như thuốc độc...
19/05/2011(Xem: 25542)
Hầu như ai đến phố Bolsa cũng từng thấy một khất sĩ mà nhiều người gọi là “ông sư ở Phước Lộc Thọ.” Ông mặc bộ áo cà sa vàng, khoảng 40 tuổi, tay ôm bình bát, mắt nhắm nghiền như đang thiền định. Ông đứng từ sáng đến chiều, ngày này qua ngày nọ bất kể thời tiết nóng hay lạnh. Phố Bolsa sáng sáng thường có các nhà sư đi khất thực bên ngoài những cửa tiệm, đặc biệt trong khu chợ ABC ở góc Bolsa và Magnolia. Họ xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần, xong biến mất như đã hoàn tất một giai đoạn trên con đường tu tập.
18/05/2011(Xem: 27212)
Con được biết - không chắc đúng không - hôm nay 28-4, là ngày Sinh Nhật Sư Phụ tròn 88 tuổi nên con viết vội đôi dòng kính chúc Sư Phụ luôn Phước Thọ tăng long, bách niên thọ thế để hàng đại chúng Bảo Vương của chúng con nói riêng và Giáo hội nói chung luôn có được bóng mát chỡ che tinh thần và trí tuệ của một trong số rất ít còn lại hàng đại lão hòa thượng của PGVN. Riêng con vẫn còn đó một đại tự điển sống về Phật học tinh hoa cũng như về lịch sữ Việt Nam thời cận đại.
15/05/2011(Xem: 13326)
Nhân quả đồng thời được nói một cách cô đọng trong kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm… và rải rác trong các kinh điển Đại thừa. Có lẽ người đầu tiên dùng thành ngữ “nhân quả đồng thời” là Đại sư Trí Khải (thế kỷ thứ 6) trong Pháp Hoa Huyền Nghĩavà trong các tác phẩm Thiên Thai tông của ngài, y cứ trên kinh Pháp Hoa. Thành ngữ này cũng là một giáo lý chính yếu của Hoa Nghiêm tông vào thế kỷ thứ 7. Nói một cách vắn tắt và đơn giản, nhân quả đồng thời là quả giác ngộ, quả Phật vốn đã nằm nơi nhân tu hành để đạt đến giác ngộ, để thành Phật. Nhân của thành Phật là “nhân địa pháp hạnh của Như Lai” được nói trong kinhViên Giác:
14/05/2011(Xem: 25645)
Xuất phát từ một nhận thức có tính thuyết phục về đạo Phật, quyển "Thuần Hóa Tâm Hồn" được viết với một văn phong hiện đại, trong sáng và tinh tế; nghiêm trang nhưng vẫn đan xen đôi nét hóm hỉnh.
14/05/2011(Xem: 14369)
Phật Đản lại về, cuối xuân đầu hạ, cây đủ lá xanh tràn trề sức sống, hoa sen rộ nở đóa đóa diệu hồng, trắng mát, tỏa hương khoe sắc, như đón bậc vĩ nhân...
12/05/2011(Xem: 10920)
Hầu hết mọi người Phật tử Việt Nam đều không những có nghe biết mà còn thường xuyên sử dụng từ ngữ “Phật sự” Nhưng chính vì được nghe biết và sử dụng quá thông thường, cho nên, đôi khi chúng ta lại không có cơ hội để suy nghiệm về ý nghĩa thâm diệu của nó để ứng xử một cách kiến hiệu trong đời sống thường nhật. Cũng vì lý do này đã dẫn đến việc đánh mất tinh thần cốt tủy trong các Phật sự mà chúng ta đã, đang và sẽ thực hiện.
11/05/2011(Xem: 10431)
Sống ở đời, chúng ta ai cũng có những nỗi khổ niềm đau, dù ít hay nhiều. Bởi thân thể ta đau nhức là khổ, giận hờn là khổ, tiếc thương cũng khổ… Có rất nhiều yếu tố làm cho ta khổ, nhưng chung quy mọi khổ đau đều xuất phát từ chính mình.
09/05/2011(Xem: 30586)
"Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother's Day) mồng mười tháng năm (năm đó). Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Ðông Kinh (Tokyo), nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng..."