7. Robert Chalmers (1858-1938)

29/03/201103:01(Xem: 13029)
7. Robert Chalmers (1858-1938)

CÁCHỌC GIẢ ANH QUỐC VÀ PHẬT GIÁO ÂU MỸ
HT.Thích Trí Chơn
Nhà xuất bản Phương Đông 2010

ROBERT CHALMERS (1858-1938)

Robert_ChalmersSinh ngày 18-08-1858 tại Anh quốc, Robert Chalmers:

- Tốt nghiệp Tiến Sĩ Văn Chương (D. Litt.) tại Ðại học Oxford (miền trung nam nước Anh).

- Hội viên trường Oriel College (thành lập năm 1326 thuộc đại học Oxford).

- Hội viên Bảo Tàng Viện Anh quốc (Trustee of the Brit- ish Museum).

- Hội viên Hàn Lâm Viện Anh quốc (Fellow of the British Academy).

- Chủ tịch Hội Hoàng Gia Á Châu (President of the Roy- al Asiatic Society).

Robert Chalmers là con trai độc nhất của ông John và bà Juliet Chalmers. Khi còn nhỏ, ông được gia đình gửi đến học trường City of London. Năm 1877, ông ghi tên nhập học trường Oriel College. Ðầu tiên ông chọn học môn cổ điển (classics); sau ông bỏ ngành cổ điển, chọn khoahọc làm môn chính và môn phụ là sinh vật học (biology). Có lần ông địnhđổi sang học ngành bác sĩ y khoa (medicine).

Năm 1822, ông đỗ đầu trong kỳ thi vào trường Hành Chánh Dân Sự Cao Cấp (Higher Administrative Division of Civil Service)để học ngành tài chính (Treasury). Ông tiến rất nhanh, xuất sắc về các môn kế toán và thống kê. Năm 1903, ông nhận giữ chức vụ Phó Thư Ký (Assistant-Secretary) và sau đó Trưởng Phòng Kế Toán (Accountant-General) ở Bộ Hải Quân. Năm 1907, ông được bổ nhiệm làm chủ tịch suốt 4 năm ở Sở Thuế Vụ Nội Thương (Board of Inland Revenue) tại Anh quốc. Robert Chalmers lập gia đình lần đầu tiên năm 1888 với Maud Mary, con gái ông J.G. Forde Piggott. Bà này qua đời năm 1923 có được với Chalmers ba người con, hai trai một gái. Hai người con trai, một gianhập quân đội, và người kia làm luật sư. Cả hai đều hy sinh trong trận thế chiến thứ nhất năm 1915. Năm 1935, R. Chalmers tái kết hôn với Iris Florence, con gái của ông John Biles và là quả phụ của giáo sư R. Latta.Nhưng lần thứ hai lập gia đình này, R Chalmers không có người con nào.

Nghiên Cứu Phật Giáo Qua Thánh Ngữ Pali Trong Thời Gian LàmThống Ðốc Xứ Tích Lan

Một trong những lý do khiến R. Chalmers muốn đến Tích Lan (Sri Lanka)- nơi có nhiều chư Tăng, học giả thông suốt tiếng Pali, là vì ông thíchnghiên cứu thánh ngữ này khi ông còn theo học tại trường Hành Chánh, như trong một đoạn thư viết dưới đây của ông H. Butterfield, tổng thư kýtrường Pe- terhouse College (thành lập năm 1824 thuộc Ðại học Cam- bridge, Anh quốc) cho biết:

Tôi còn nhớ R. Chalmers có lần đã bảo với tôi rằng khi ông làm công chức ở ngành Hành Chính, ông cảm thấy ông có khả năng để học hỏi thêm một cổ ngữ, nên ông đã chọn Pali là thứ tiếng mà ông nghĩ rằng ông có thể nghiên cứu”.

Hơn nữa, trước khi đến nhận chức Thống Ðốc xứ Tích Lan (Governor of Ceylon) từ năm 1913 đến 1916, R. Chalm- ers đã theo học Pali nhiều năm với giáo sư Rhys Davids (1843-1922) tại Anh quốc, và ông ta cũng đã bắt đầu phiên dịch các kinh điển Phật Giáo từ Pali ra Anh văn.

Thực vậy, trong thời gian ở Tích Lan, R. Chalmers đã tỏ ra là một nhàngữ học Pali uyên bác khiến các học giả, chư Tăng Tích Lan bấy giờ rất khâm phục. Có lần ông được mời chủ tọa buổi lể phát thưởng tại trường đại học Ðông Phương (Vidyodaya Pirivena) ở Colombo (thủ đô TíchLan); chư Tăng Tích Lan tưởng R. Charlmers không thể nói rành tiếng Pali, nên họ đã yêu cầu ông trong buổi lễ phát biểu bằng Anh văn, và sẽ có người dịch ra tiếng Sinhalese (Tích Lan). Nhưng R. Chalmers đã từ chối bảo rằng ông có thể nói chuyện trực tiếp bằng tiếng Pali. Và, trongsuốn hơn nửa giờ, trước đông đảo quần chúng, chư Tăng Tích Lan, R. Chalm- ers đã phát biểu tiếng Pali trôi chảy, rõ ràng từng chữ, với câu kết luận khiến mọi người hiện diện hôm đó vô cùng ngạc nhiên và thán phục: “Tôi cầu mong Thánh ngữ Pali sẽ được mãi mãi phát triển tại đảo Tích Lan” (May this noble Pali Language ever flourish in Lanka).

Tại Tích Lan, R. Chalmers tiếp tục công trình nghiên cứu Phật Giáo qua cổ ngữ Pali. Theo bà Rhys Davids (1858- 1942) cho biết, trong thời gian ở đây, ông ta đã chuẩn bị cho ấn hành (phiên âm Pali theo mẫu tự LaTinh) tập Papanca- Sùdani, chú giải về Trung Bộ Kinh (MajjhimaNikaya),với sự cộng tác của các học giả, chư Tăng Tích Lan bấy giờ, nhất là Thượng Tọa Ramalàne Dhammàràna. Trong thư đề ngày 25-06-1915 do bí thư của R. Chalmers ký thay ông ta để phúc đáp cho T.T. Dhammàràna có đoạn viết như sau:

Tôi đã trình bày sự việc với ông thống đốc (R. Chalm-ers) về lờithỉnh cầu ghi trong thư của Thượng Tọa đề ngày 24 tháng 6 vừa qua, việcThượng Tọa muốn gặp ông thống đốc để thảo luận về công tác hoàn tất và cho ấn hành cuốn Papanca-Sùdani mà ông R. Chalmers đã mong đợi từ lâu, tôi kính xin trả lời để Thượng Tọa rõ là hiện nay ông Thống Ðốc chưa có thì giờ, nhưng ông ta rất mong được gặp, tham khảo ý kiến với Thượng Tọatrong công trình phiên dịch này vào một ngày khác thuận tiện, mà tôi sẽthông báo cho Thượng Tọa biết sau”.

Những Ðóng Góp Của R. Chalmers Cho Nền Phật Học TâyPhương

a) Tham gia Hội Phiên Dịch Kinh Tạng Phật Giáo Pali và Ban Dịch Thuật toàn bộ Kinh Bổn Sanh (Jataka)

Sau khi về hưu, R. Chalmers được mời làm giáo sư dạy ở trường Peterhouse College, và tại đây ông tiếp tục nghiên cứu cả hai cổ ngữ Sanskrit (Phạn) và Pali. Dưới sự hướng dẫn, khuyến khích của Tiến Sĩ RhyDavids (1842-1922), R. Chalmers đã tham gia Hội Phiên dịch Kinh Tạng Pali (The Pali Text Society) tại Luân Ðôn, và Ban Dịch Thuật gồm nhiều học giả do giáo sư E.B. Cowell (1826-1903) thành lập tại Cambridge (Anh quốc) để dịch toàn bộ Kinh Bổn Sanh (Jatakas) gồm 550 mẩu chuyện tiền thân của đức Phật từ Pali ra Anh văn.

b) Công trình phiên âm, dịch thuật Kinh tạng Pali

Dưới đây là những bộ kinh do R. Chalmers đã phiên âm Pali theo mẫu tựLa Tinh (Romanized Pali):

- 1896-1898: Tập II, Majjhima Nikàya (Trung bộ Kinh) thuộc Kinh tạng (Sutta Pitaka).

- 1899-1902: Tập III, Majjhima Nikàya (Trung Bộ Kinh) thuộc Kinh tạng.

R. Chalmers cũng đã dịch từ nguyên bản Pali ra Anh văn các bộ kinh:

- 1895: Tập (Vol.) I, Stories of Buddha’s Former Births (Jatakas),gồm 150 mẩu chuyện Tiền thân của đức Phật, trong Tiểu bộ Kinh (KhuddakaNikàya) thuộc Kinh Tạng. Tập này được xuất bản trong toàn bộ 6 tập (Vols.) dưới sự chủ biên của học giả E.B. Cowell.

- 1926: Tập I, Further Dialogues of the Buddha (Majj-hima Nikàya),Trung Bộ Kinh thuộc Kinh Tạng.

- 1927: Tập II, Further Dialogues of the Buddha (Majj-hima Nikàya),Trung Bộ Kinh thuộc Kinh Tạng.

- 1932: Woven CAdences (Sutta Nipàta), Kinh Tập hay “Những bàiPháp sưu tập” trong Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikàya) thuộc Kinh Tạng.

Tập này gồm 300 trang do Ðại học Harvard tại Boston (Hoa Kỳ) xuất bảncuốn thứ 37 trong bộ “Ðông Phương Học” (Harvard Oriental Series).

R. Chalmers qua đời năm 1938 tại Anh quốc, hưởng thọ 80 tuổi. Trước khi mất, ông đã hiến tặng toàn bộ thư viện gồm nhiều kinh sách Pali giá trị của ông cho bà I. B. Horner, một học giả Pali lúc ấy đang làm quản thủ thư viện tại trường Newnham College, thuộc đại học Cambridge; và saunày bà được bầu làm chủ tịch “Hội Phiên Dịch Kinh Tạng Pali” (The Pali Text Society) tại Luân Ðôn từ năm 1959-1981.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/04/2026(Xem: 1096)
(1):Vô Ngã là không có “Bản Ngã” cố định, Không Trường Tồn và Tự Chủ suốt thời gian. Tức VÔ NGÃ không có cái “TÔI” hoàn toàn. Do Duyên Sinh, Không Tồn Tại riêng mình, nhớ ghi.
14/04/2026(Xem: 956)
Khi Nào Hưởng Phước Đức Vô Lượng Vô Biên? Bố Thí: Tâm Trong Sạch nhớ liền: khắc sâu. Vật Được Thí Phải Chân Chính: đứng hàng đầu. Trọng Người Nhận Hết Mực, nhớ lâu thực hành.
14/04/2026(Xem: 1220)
Liệu thế giới có tốt đẹp hơn nếu chúng ta nhìn nhận cuộc sống như một dòng chảy vô tận, không có khởi đầu và kết thúc, thay vì coi nó như một câu chuyện có điểm khởi nguyên và ngày tận thế? Câu hỏi đầy gợi suy ngẫm này mời gọi chúng ta khám phá quan niệm Phật giáo về Samsara — vòng luân hồi bất tận của sinh, tử và tái sinh — và cách nó tương phản với những câu chuyện sáng thế mang tính tuyến tính được tìm thấy trong các truyền thống tôn giáo khác, đặc biệt là trong các tôn giáo thuộc Abrahamic faiths (Do Thái giáo, Ki Tô giáo, Hồi giáo,…)
14/04/2026(Xem: 1244)
"McMindfulness ám chỉ một phiên bản 'mì ăn liền': nhanh chóng, rập khuôn, và rốt cuộc chỉ là những 'calo rỗng' của một truyền thống nuôi dưỡng tâm hồn sâu sắc." "From Temples to Dojos: Zen’s Influence on Samurai and the Martial Arts"
14/04/2026(Xem: 1019)
Con đường tu tập vốn dĩ không phải là cuộc chạy đua để chứng minh mình hơn người, mà là hành trình trở về với chính mình, để tâm hồn ngày càng nhẹ nhàng, hiền hòa và sáng tỏ. Thế nhưng, trong đời sống hôm nay, có không ít người phát tâm tu tại gia: ăn chay, tụng kinh, niệm Phật, đi chùa thường xuyên… nhưng rồi lại tự hỏi: “Sao càng tu, lòng càng nặng? Sao càng học đạo, cái tôi lại càng lớn? Sao càng cầu an lạc, lại càng thấy bất an?”
14/04/2026(Xem: 996)
Với lòng thành kính, con đảnh lễ bậc mà ánh sáng từ bi của Ngài Xua tan bóng tối của sợ hãi và dẫn dắt chúng sinh Trên con đường rộng lớn đưa đến giải thoát. Ở đây, con xin vắn tắt trình bày về các hiện tượng của cõi trung ấm.
11/03/2026(Xem: 4182)
Trong việc huấn luyện Huynh trưởng trại Vạn hạnh cấp cao — những huynh trưởng sẽ kế thừa và "lèo lái" tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPT) theo tinh thần Phật giáo — phương pháp giảng dạy đóng vai trò quyết định. Để tổ chức không bị "thế tục hóa" hay biến thành một câu lạc bộ kỹ năng đơn thuần, giảng sư cần có một sự cân bằng tinh tế, nhưng trọng tâm phải đặt vào thực chứng và sự chuyển hóa tự thân. Con Đường Đưa Người Huynh Trưởng Từ Tri Thức Đến Chuyển Hóa
04/03/2026(Xem: 3344)
Trong tâm niệm Hồi hướng Phước lành đến nhị vị Ni Sư của Hiền Như Tịnh Thất đã quá vãng. Thầy Tánh Tuệ và chư Bồ Đề quyến thuộc của tịnh thất đã thực hiện thiện pháp Bố thí giếng nước cho dân nghèo xứ Phật với ước nguyện Hồi hướng công đức này đến chư Ni Sư, nguyện cầu nhị vị Ni Sư thừa tư Phước lực và Tam Bảo lực cao đăng Phật quốc. Xin chân thành CẢM NIỆM CÔNG ĐỨC toàn thể môn đồ pháp quyến cùng tất cả chư Phật tử của Hiền Như tịnh thất đã góp một bàn tay ủng hộ cho thiện pháp này được thành tựu viên mãn. Kính chúc chư Tôn Đức và quý thiện hữu vô lượng an lành trong Hồng ân Tam Bảo.
16/02/2026(Xem: 2472)
Tôi được mời phát biểu tối nay về sự xuất ly – tức là quyết tâm được tự do khỏi những vấn đề của chính mình – và đặc biệt là cách chúng ta có thể hiểu điều đó trong bối cảnh áp lực của cuộc sống ở một thành phố lớn, như ở đây là Moscow. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng khi bắt đầu phân tích chủ đề này, chúng ta sẽ nhận ra rằng phần lớn những vấn đề mà chúng ta phải đối mặt trong thế giới hiện đại không chỉ giới hạn ở việc sống trong một thành phố lớn.
11/02/2026(Xem: 3677)
Sách của Cư Sĩ Thiện Phúc - Phần 1 (PDF)