Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Rèn cách diễn đạt giản dị, trong sáng

01/03/201104:52(Xem: 1476)
Rèn cách diễn đạt giản dị, trong sáng

CHÌA KHÓA SỐNG GIẢN DỊ
Lại Thế Luyện

CHƯƠNG 2: GIẢN DỊ TRONG SUY NGHĨ VÀ DIỄN ĐẠT

Rèn cách diễn đạt giản dị, trong sáng

Giản dị trong suy nghĩ sẽ tạo nên sự giản dị trong diễn đạt. Chúng ta suy nghĩ như thế nào thì chúng ta sẽ diễn đạt bằng ngôn ngữ tương ứng như vậy, bởi vì ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy. Do vậy, bạn hãy tích cực động não tư duy, đồng thời làm chủ ngôn ngữ diễn đạt của mình – dù là nói hay viết.
Suy nghĩ được những ý tưởng hay và tìm được ngôn ngữ thích hợp để diễn đạt những gì mình nghĩ là một công việc rất thú vị. Khi bạn sở hữu một ý tưởng tuyệt vời hay một chân lý nào đó, bạn luôn có nhu cầu chia sẻ nó với người khác. Xã hội sẽ không thể phát triển được, nhân loại khó có thể tiến bộ được, nếu mỗi người chỉ khư khư ôm lấy những hiểu biết cho riêng mình. Vất vả cả đời để học hỏi được nhiều điều hay mà lại không tìm được cách diễn đạt tốt để chia sẻ với người khác, để giúp ích cho đời, thì những điều ta học được sẽ trở thành uổng phí!
Dĩ nhiên, có được những ý tưởng hay đã là điều rất khó rồi, nhưng tìm được cách diễn tả cho người khác hiểu được, cảm nhận được những cái hay đó còn là điều khó hơn gấp bội. Vì vậy, ở đây tất sẽ phải đặt ra vấn đề diễn đạt như thế nào cho có hiệu quả nhất?
°
Sống giữa thời đại bận rộn, hối hả và nhiều lo toan ngày nay, con người ta không mấy thích đọc hoặc thích nghe những điều dài dòng, rắc rối, phức tạp. Cho nên, bạn tuyệt đối đừng sử dụng những cách diễn tả lan man, dông dài, thừa thãi, rườm rà, nhàm chán...
Sự uyên bác của chúng ta – nếu có – cũng không hề phụ thuộc vào số lượng câu chữ của chúng ta. Thế cho nên, dù nói chuyện, viết thư từ cho bất cứ ai, bạn nên tập cách diễn đạt thật cô đọng. Chẳng thà nói ít mà giàu hình ảnh, nhiều ý tưởng, súc tích thông tin thì người đọc, người nghe sẽ chú ý nhiều hơn so với việc “nói dài, nói dai, và nói dở”.
Thêm một tật nữa cần tránh là tật thích dùng những ngôn từ “đao to búa lớn”. Người phụ nữ đẹp không phải ở son phấn “bôi trét” lòe loẹt mà là bởi vẻ đẹp tự nhiên, giản dị. Một khi đã xinh đẹp tự nhiên thì không nhất thiết phải bôi trét thêm làm gì nữa, vì càng cố làm như vậy sẽ càng gây nên phản cảm mà thôi. Cũng vậy, lời hay ý đẹp tự nó đã đẹp rồi, không cần phải tô điểm bằng những ngôn từ inh tai nhức óc nhưng rỗng tuếch.
Nhìn chung, những người tư duy sắc sảo, suy nghĩ cô đọng, sáng sủa thì khi nói ra lời nói cũng sẽ cô đọng, sáng sủa. Tóm lại, phương châm giúp chúng ta giản dị trong diễn đạt là: “Ngắn mà hay, bao giờ cũng tốt hơn dài mà dở!”. Hơn nữa, biết diễn đạt cô đọng còn là một cách thể hiện sự tôn trọng thời gian của người khác cũng như thời gian của chính mình!
Ngoài ra, chúng ta còn phải quan tâm đến cả trình độ, đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của những người nghe mình, đọc mình, để từ đó có thể lựa chọn cách diễn đạt sao cho tối ưu nhất! Nhìn chung, con người ta chẳng mấy ai thích những ngôn từ khô khan, trừu tượng. Khi bạn biết diễn đạt bằng ngôn ngữ sinh động, hấp dẫn, gần gũi với cuộc sống thì sẽ được nhiều người hiểu và yêu thích hơn.
Tóm lại, khi biết cách diễn đạt cô đọng, sáng sủa, mỗi chúng ta sẽ học hỏi được nhiều ý tưởng hay và nhiều điều hữu ích hơn. Những nhà sư phạm, những người cầm bút, nếu biết diễn đạt giản dị, sáng sủa, rõ ràng thì sẽ giúp ích rất nhiều cho những bước tiến của xã hội – trong hiện tại cũng như tương lai!


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/10/202015:11(Xem: 247)
Như các phần trước đã nói, chân tâm không sinh diệt và vọng tâm sinh diệt luôn tồn tại nơi mỗi con người chúng ta. Bởi con người sống với vọng tâm nên tạo ra dòng lưu chuyển sinh tử khổ đau của chúng sinh hữu tình với những quả báo sai biệt. Tất cả đều có nguồn gốc từ nhân duyên vọng tâm thiện ác. Chân tâm không sinh diệt chính là dòng hoàn diệt, cho nên chấm dứt được khổ đau, sinh tử tạo thành quả báo cũng như các quốc độ thù thắng, vi diệu, bất khả tư nghì của các bậc hiền thánh. Như vậy, phàm phu là do sống với vọng tâm thiện ác vô thường, biến hoại, sinh diệt; còn những ai sống hay an trú trong chân tâm rỗng lặng không sinh diệt thì trở nên là những bậc hiền thánh. Điều này là một chân lý.
01/10/202018:45(Xem: 273)
Theo nhiều cách, khi thực hành Phật giáo cho phép chúng ta nhìn thấy những phần tiềm ẩn của bản thân. Giống như một vận động viên thể hình uốn dẻo các cơ của mình trong gương, chúng ta quan sát thể chất và tinh thần của mình từ mọi góc độ, và ghi nhận những gì ở đó. Đôi khi chúng ta thích những gì chúng ta thấy. Và đôi khi chúng ta không thích. Tuy nhiên, chính trong những khoảnh khắc mà sự phản chiếu của chúng ta khiến chúng ta thu mình lại, chúng ta sẽ tìm thấy cơ hội để phát triển.
01/10/202018:41(Xem: 272)
Mấy năm qua, tôi đã quyết định từ bỏ hầu hết tài sản thế gian của mình, và vui sống trong một trang trại. Có nhiều lý do giải thích tại sao tôi đưa ra quyết định này, từ trần tục đến tâm linh. Nhưng cải giải thích đơn giản nhất là nói rằng tôi muốn “Tự do”. Tôi cảm thấy bị vướng mắc trong một công việc của công ty không được như ý. Tôi xúc động trước sự tấn công dữ dội của các công ty phương tiện truyền thông liên tục nói với tôi rằng, tôi chỉ có một lần mua hạnh phúc. Và tôi khao khát có cơ hội thực hành Phật pháp trong hòa bình.
01/10/202018:34(Xem: 291)
Hội đồng Lập pháp Sikkim đã thông qua dự luật ngày 21 tháng 9 năm 2020, để thành lập một ngôi trường Đại học Phật giáo ở bang đông bắc Ấn Độ. Được biết với tên gọi Đại học Phật giáo Khangchendzonga (KBU), cơ sở này sẽ trở thành trường Đại học tư thục Phật giáo đầu tiên tại Ấn Độ, và là trường Đại học đầu tiên tại Sikkim do người dân bản địa Sikkim sáng lập.
01/10/202018:16(Xem: 376)
Khi nghe Đạo Phật nói “đời là bể khổ”, nhiều người đã hiểu lầm rằng Đức Phật có quan niệm bi quan. Sự thật không phải như vậy. Từ điển đã định nghĩa bi quan là “có thói quen nghĩ rằng cái gì sắp xảy đến đều là xấu cả, đều đáng chán và không tin tưởng ở tương lai” hoặc bi quan là “chán nản, không tin tưởng, hoặc mất niềm tin vào hiện tại, tương lai”.
30/09/202019:58(Xem: 376)
Cư sĩ Mahā Silā Vīravong, sử gia Lào, nhà ngữ văn, giáo viên dạy tiếng Pali, người hiện đại hóa bảng chữ cái Lào, một nhân vật trí thức lớn của nền độc lập Lào. Trong các cuộc đấu tranh chống lại sự cai trị của thực dân đế quốc Pháp, bằng cách tích cực hoạt động trong phong trào của Lào Issara mà ông lưu vong tại Vương quốc Thái Lan vào năm 1946.
29/09/202020:00(Xem: 422)
Bảy đại diện của Hội nghị Hàn Quốc về Tôn Giáo và Hòa Bình (KCRP), bao gồm Hòa thượng Viên Hạnh (원행스님 - 圓行和尚), Tổng vụ Viện trưởng Thiền phái Tào Khê đời thứ 36, đã gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ Hàn Quốc Chung Sye-kyun (정세균; Đinh Thế Quân), và cam kết hợp lực để tìm ra một kế hoạch hợp tác, đôi bên cùng có lợi cho cả các hoạt động tôn giáo và phòng chống cơn đại dịch hiểm ác Virus corona.
29/09/202017:49(Xem: 351)
Có lẽ chuyến du lịch hành hương không gian mạng, các bạn nhìn thấy một thứ tương tự như thế này từ một cửa hàng trực tuyến: “Chuỗi hạt Tây Tạng Mala Charm Vòng đeo tay Cát tường tuyệt đẹp này với các hạt màu phấn nhẹ nhàng, phù hợp để thực hành chân ngôn thần chú, và để đeo làm đồ trang sức”.
29/09/202009:28(Xem: 421)
Tứ là bốn, nhiếp là thu phục, pháp là phương pháp. “Tứ Nhiếp Pháp” là bốn phương pháp lợi tha, đã được Đức Phật Thích Ca dạy cho các đệ tử tại gia cũng như xuất gia của Ngài. Bốn pháp này nếu thực hành đúng đắn sẽ có công năng giúp con người lìa xa cuộc sống buông lung, phóng túng… mà theo đó dễ có những hành động bất thiện gieo khổ đau cho người và phiền não cho mình. Tứ Nhiếp Pháp giúp con người quay về với đường ngay nẻo phải, hay chính xác hơn là trở về với Phật pháp. Phật pháp là con đường tu hành chân chính, hướng về tâm linh đi đến giác ngộ giải thoát.
29/09/202007:49(Xem: 332)
Trong khi ý tưởng về Phật giáo đã đạt đến một vị thế rõ ràng trong triều đại nhà Minh (1368-1644) đã lỗi thời trong giới học giả, nó vẫn tồn tại bởi vì vẫn còn tồn tại quan niệm phổ biến, ngay cả trong giới Phật giáo đương đại, rằng Phật giáo đã đạt đến đỉnh cao về trí tuệ, và triết học vào triều đại nhà Đường (618-907), trước khi bị tê liệt bởi nhiều cuộc khủng hoảng và đàn áp, sau đó suy tàn vào triều đại nhà Tống (960-1279) và kế đến triều đại nhà Minh. Đây không phải là hoàn toàn nhầm lẫn, cũng không phải là đầy đủ câu chuyện. Nhà xuất bản Đại học Columbia một lần nữa đã phát hành một nghiên cứu đột phá, có thể thay đổi sự hiểu biết của học giả - và có lẽ là nhiều năm sau, sự hiểu biết phổ biến – về kinh nghiệm của Phật giáo vào triều đại nhà Minh.