10. Ðẹp Vĩnh Viễn

25/02/201116:59(Xem: 9361)
10. Ðẹp Vĩnh Viễn

THỬ HÒA ĐIỆU SỐNG
Võ Đình Cường

ĐẸP VĨNH VIỄN

Trong bao nhiêu ngành nghệ thuật, nhiệm mầu nhất là nghệ thuật sống.

Anh ạ! có những lần muốn kéo dài thêm đời sống ngắn ngủi của kiếp hoa, em đã ngắt những đoá hồng đẹp, đem ép vào lòng sách. Mỗi ngày, mỗi dở ra xem, mỗi ngày, bay đi một ít tươi sáng ở những đóa hồng kia, và mỗi ngày, chen vào lòng em một chút thất vọng của thời gian, hoa dần mang những nét úa tàn, và trong mỗi nét úa tàn, lắng đọng nột bóng đêm. Đến khi hoa khô, cánh rã, em chỉ còn giữ lại những bả nhợt nhạt của đoá hồng xưa.

Từ đấy không bao giờ em nhìn một đoá hoa thắm mà em không liên tưởng đến sự rơi rụng của nó ở một phút sau, một cái ráng trời mà em không phập phồng lo sợ cho sự tan biến của nó trong khoảnh khắc, và đôi mắt trong của một thiếu nữ… Thôi, anh hiểu rồi, em muốn cái đẹp phải vĩnh viễn.

Chỉ chừng ấy cũng đủ để anh hiểu rằng em không phải là một chân nghệ sĩ. Nguồn mỹ cảm của em không tinh, em đã đem cả bầu tham lam của lòng em để thưởng thức cái đẹp. Trong phút giây thẩm mỹ, em chỉ có một ý muốn giữ gìn. Nhưng ở đời có cái gì được vĩnh viễn. Hơn nữa, trong biến chuyển luân hồi của mọi vật, cái đẹp lại càng mong manh. Em hãy tìm xem có phải nhờ sức nhanh của sự biến hiện mà vẻ đẹp qua trong phút giây càng tăng thêm lộng lẫy, những hạt sương, những hạt kim cương chốc lát dính đầu lá ngọc, những vì sao băng, thêu những đường chỉ bạc qua tấm nhung trời, những chiếc pháo cải rơi hoa sáng trong đêm đen… Đóng cứng chúng lại, chưa chắc chúng đã như khi chỉ thoáng qua. Nếu mọi vật không chuyển di; Ôi, sẽ chán chường cho cuộc đời biết mấy!

Đừng oán thán sự chuyển di, phải tự trách lòng ta sao không biết chiều theo sự chuyển di mà cứ dừng lại để đón bắt mãi những dòng nước chảy qua kẻ tay. Đi với thời gian, mà không đi cũng chẳng được. Ngồi trên thuyền thời gian, ta nghênh ngang rong chơi trên biển không gian luôn luôn biến đổi.

Sóng triều rào rạt, bào ảnh lô nhô không phải không đẹp trước mắt nhà nghệ sĩ, và nhà đạo sĩ biết nhìn đời. Chúng chỉ đáng ghét đối với những kẻ quá tham lam, nên đôi mắt trở thành cận thị nhìn không xa quá mạn thuyền, nên đã dại khờ khắc dấu vào đấy để hòng tìm lại thanh kiếm đã rơi sông.

Mà cần chi phải giữ lại, cái đẹp không thiếu một nơi nào và một thời nào. Chỉ có cái đẹp hẹp hòi, em dành riêng phần em là mau tan biến. Những vẻ đẹp mỹ lệ như Tây Thi tiếp nối hiện mãi qua thời gian. Chỉ có cái đẹp mỹ lệ của Tây Thi là ngắn ngủi. Hoa tiếp tục nở khắp mọi vườn từ vườn này sang vườn khác. Chỉ có hoa của riêng vườn em là có khi không nở.

Em ạ! Bao nhiêu triết lý đồ sộ và cao siêu của đạo Phật, gẫm lại mà xem, chỉ để rạch bỏ một ý niệm “về” của trong não mọi người.

Này em, muốn thấy vĩnh viễn, phải nhìn thấu qua hình dáng, đi sâu vào tuỷ chất của sự vật. Hình dáng đổi thay, tuỷ chất còn mãi, làn sóng và nước mênh mông. Bản thể chung cùng, nhân duyên biến hiện, ngọn đèn và ánh sáng. Những cái cùng nổi, chìm, ẩn, hiện trên cõi vô cùng.

Hãy nhìn cuộc đời với tâm lý của đứa trẻ khi nhìn vào ống kính vạn hoa. Hình ảnh tan biến theo từng cử động của bàn tay, nhưng lòng nó không mảy may e ngại, cảnh đẹp này xoá đi để tạo thành cảnh đẹp khác. Và giữa bao nhiêu sự chuyển di, vẫn còn những gì không mất, những mảnh kính màu trong lòng ống gương.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/05/2021(Xem: 11572)
Ni sư Thích Nữ Giới Hương có lẽ là vị trụ trì viết nhiều nhất ở hải ngoại. Đó là theo chỗ tôi biết, trong cương vị một nhà báo nhiều thập niên có liên hệ tới nhà chùa và công việc xuất bản. Viết là một nỗ lực gian nan, vì phải đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, phân tích nhiều, cân nhắc kỹ rồi mới đưa chữ lên mặt giấy được. Đặc biệt, Ni sư Giới Hương cũng là vị trụ trì viết bằng tiếng Anh nhiều nhất. Tôi vẫn thường thắc mắc, làm thế nào Ni sư có đủ thời giờ để gánh vác Phật sự được đa dạng như thế. Nghĩ như thế, vì tự thấy bản thân mình, nghiệm ra, không có đủ sức đọc và viết nhiều như Ni sư.
18/05/2021(Xem: 13416)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 9923)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 18605)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 13366)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 9192)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 16522)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 8096)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 12241)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 8439)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !