9. Hạnh Phúc

25/02/201116:59(Xem: 6927)
9. Hạnh Phúc

THỬ HÒA ĐIỆU SỐNG
Võ Đình Cường

HẠNH PHÚC

Hạnh phúc chân thật là sự hỷ xả, và hơn nữa, sự thi ân.

A, con bướm vàng! Con bướm vàng cao sang đang lướt ngang trên lá lục. Nhưng đuổi theo nó làm chi? Đã dễ gì em bắt được, mà dù em có nắm được trong tay, nó cũng chỉ còn là thân hình một con nhộng, hai cánh vàng sẽ tan ra làm muôn mảnh vụn trong năm ngón tay siết chặt của em thôi.

Em có nhớ chăng, những buổi chiều vàng, rong chơi trong đồng ruộng, em có định ý bắt đâu, thế mà những con bướm trắng, bướm vàng bỗng rủ nhau đến đậu quanh em. Cũng thế em ơi, ngày em biết không cần đuổi hạnh phúc là ngày hạnh phúc bay lại đậu gần em. Em hãy thản nhiên, để yên cho nó đậu. Nếu em cựa quậy định ý bắt, là nó vụt bay ngay. Đừng bảo nó khó tính, chính em đã khó tính, muốn đuổi bắt cho được nó để giam lại cho riêng em nên nó phải bay đi.

Anh đã từng thấy mỗi năm, đến trưa mùng năm tháng năm, người ta đi tìm bắt những con thằng lằn, rắn mối … đem về làm thuốc. Họ đi lang thang cả buổi trưa mà chẳng bắt được con nào. Họ không bắt được có lẽ là buổi trưa nắng quá, rắn rít đều ẩn vào bụi sâu. Nhưng cũng có lẽ là tại người ta ùa nhau đi tìm. Trong chữ tìm đã sẵn nghĩa khó gặp, anh đã từng thấy nhiều kẻ chạy đi tìm những vật họ đang nắm trong tay. Khi thôi tìm thì té ra chúng nằm sờ sờ ra đấy.

Em ơi, hạnh phúc rất giản dị. Nó nằm sẵn trong lòng, nếu không nhận thấy ở trong lòng thì không thể gặp nó ở đâu cả, dù em có đi tìm khắp mặt đất.

Có những đứa bé rất dại khờ, cho nên rất dễ ác. Chúng rủ nhau đi bắt chuồn chuồn. Những con chuồn chuồn mình đỏ nọc như trái ớt chín, có những cánh mỏng và thưa như những mảnh the nhỏ mới cắt ở một tấm the đỏ nào đó. Chúng đậu rung rinh, ru mình trên hoa cỏ ống. Lũ trẻ nín thở đi nhè nhẹ từng bước, đưa tay run run chực rình bắt chúng ở phía sau đuôi. Nhưng dễ gì bắt được. Thường thường phải năm bảy lần bắt hụt mới may ra có một lần kẹp được đuôi chúng giữa hai ngón tay. Ồ, sung sướng, cho nên dễ điên cuồng, lũ trẻ cẩn thận ngắt mất nữa cánh chuồn chuồn rồi mới bỏ vào hộp, để chúng khỏi bay. Khi chuồn chuồn đã đầy hộp, lũ trẻ ngồi bệt xuống cỏ, hớn hở dở nắp ra xem. Ô sao mà xấu thế, cả một đống chuồn chuồn đứt cánh đang cựa quậy, lúc nhúc giữa bốn thành hộp.

Em ơi, nếu không thể chắp thêm cánh cho nó thì thôi, đừng bao giờ cầm giữ hạnh phúc bằng cách ngắt cánh nó đi. Hạnh phúc ta chờ đợi bên ngoài là những gì có cánh, nó phải bay luôn, và bởi thế nên nó đẹp. Khi bay, con đom đóm có thể làm cho chúng ta tưởng lầm một ánh sao trời. Nhưng khi rơi xuống cỏ, nó chỉ là một con bọ tanh hôi.

Anh nói thế không phải để khuyên em sống luôn trong ảo tưởng. Anh có cần phải khuyên em như thế làm gì khi mọi vật là ảo tưởng cả rồi. Chính biết sự đời là sương khói, nên anh mới khuyên em đừng nắm bắt, gìn giữ một cái gì, nếu em muốn có hạnh phúc. Em không bao giờ muốn đoán bắt một làn hương, bởi em biết nó phải tan biến. Nhưng mọi sự vật ở đời mà em tưởng bền chắc, cũng đều dần dần tan biến cả. Em ơi làm sao em muốn níu chúng lại.

Đừng nhìn anh với đôi mắt nghi ngờ như thế, anh nói thật đấy. Mọi vật đều chuyển di xê dịch đổi thay. Không có vật gì có thể đứng yên, chỉ có sự luôn luôn thay đổi là không bao giờ thay đổi. Dòng nước tuôn trào, đời qua không ngừng nghỉ. Cái dại của người là đã bám víu vào nhiều sự vật ở đời quá, và cái khổ của họ là phải thấy chúng tan vỡ dần.

Cho nên đừng cố nắm giữ hạnh phúc khi nó không thể ở cùng em. Em sẽ chỉ giữ lại vang bóng của nó, và một nỗi thất vọng khôn cùng mà thôi. Cái khôn ngoan của em là biết mở lồng đúng lúc cho chim hạnh phúc bay đi, khi nước mây bắt đầu réo gọi nó. Nếu nấn ná giam cầm, em sẽ vun trồng một mầm chết, một sáng mai nào đấy, em sẽ thấy nó chết queo giữa lồng, giữa lòng em.

Anh kết luận, đừng đuổi bắt, đừng tìm kiếm, nhất là đừng có giam giữ hạnh phúc, khi nó không cùng em muốn ở. Không phải tom góp cho nhiều. Chính là phải sa thải dần dục vọng, dục vọng bớt xuống thì hạnh phúc tăng lên, cái cân hai đĩa, bớt một ít bên này, thì bên kia tuy chẳng thêm chi mà thành nặng.

Không phải thâu vào cho nhiều những gì em không thể giữ được. Chính là phải phát ra những gì quí giá của lòng em. Cái cử chỉ tung vãi là cái cử chỉ đẹp nhất. Anh liên tưởng đến người vãi mạ tung cánh tay rộng trên nền trời, và cái mùa sau gặt hái. Phân phát hạnh phúc cho mọi người, ấy là một cách gieo mầm hạnh phúc cho chính em.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2014(Xem: 11276)
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
31/10/2014(Xem: 12068)
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha. Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
31/10/2014(Xem: 10914)
Mùa Xuân ta lên núi Hăm hở làm sơn ̣̣đồng Bỏ con đường khói bụi Cho sách vở vời trông... Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
28/10/2014(Xem: 10582)
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
26/10/2014(Xem: 12865)
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
24/10/2014(Xem: 22249)
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
24/10/2014(Xem: 11246)
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen. Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
23/10/2014(Xem: 19649)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại. Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.
23/10/2014(Xem: 11417)
Bằng cách này hay cách khác, Đức Phật luôn gợi nhắc cho chúng ta rằng mỗi người chúng ta đều sở hữu các khả năng và phẩm chất tốt đẹp, cần phải biết vận dụng và phát huy để làm cho cuộc sống trở nên giàu sang hiền thiện, tránh mọi khổ đau và để thực nghiệm hạnh phúc an lạc. Trong bài kinh Nghèo khổ thuộc Tăng Chi Bộ, Ngài đơn cử câu chuyện một người nghèo túng về của cải vật chất nhưng không biết cách nỗ lực khắc phục tình trạng nghèo khó của mình nên phải liên tiếp rơi vào các cảnh ngộ khó khăn để nhắc nhở chúng ta về các tai họa khổ đau mà chúng ta sẽ phải đối diện, nếu không biết nỗ lực nuôi dưỡng và phát huy các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình.
23/10/2014(Xem: 14750)
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…