Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

1. Tình Cha

25/02/201110:43(Xem: 5380)
1. Tình Cha

SUỐI NGUỒN YÊU THƯƠNG
Tâm Chơn

TÌNH CHA

Xin được bắt đầu bằng câu chuyện viết về “Người Cha” rất tuyệt vời mà tôi đã đọc trong một cuốn sách dạy làm người.[1]

Truyện kể rằng:

“Khi ông Trời bắt đầu tạo ra người cha đầu tiên trên thế gian, ngài chuẩn bị sẵn một cái khung thật cao. Một nữ thần đi qua ghé mắt xem và thắc mắc: ‘Thưa ngài, tại sao người cha lại cao đến như vậy? Nếu ông ta chơi bi với trẻ con thì phải quỳ gối, nếu ông ấy muốn hôn những đứa con mình lại phải cúi người thật bất tiện.’ Trời trầm ngâm một chút rồi gật gù: “Ngươi nói có lý. Thế nhưng nếu ta chỉ để người cha cao bằng những đứa trẻ thì lũ trẻ biết lấy ai làm tầm cao mà vươn tới?’

“Thấy Trời nặn đôi bàn tay người cha to và thô ráp, vị nữ thần lại lắc đầu buồn rầu: ‘Ngài có biết Ngài đang làm gì không? Những bàn tay to lớn thường vụng về. Với đôi bàn tay ấy, người cha phải chật vật lắm mới có thể găm kim đóng tã, cài nút áo cho con trai, thắt chiếc nơ hồng cho con gái. Bàn tay ấy không khéo léo để lấy những mảnh dằm nằm sâu trong da thịt mềm mại của trẻ.’

“Ông Trời mỉm cười đáp: ‘Nhưng đôi bàn tay to lớn vững chãi đó sẽ dìu dắt bọn trẻ qua mọi sóng gió, cho tới lúc trưởng thành.’

“Vị nữ thần đứng bên cạnh nhìn Trời nặn người cha với một đôi vai rộng lực lưỡng. ‘Tại sao ngài phí như thế?’, nữ thần thắc mắc. Ông Trời đáp: ‘Thế người cha sẽ đặt con ngồi đâu khi phải đưa nó đi xa? Lấy chỗ đâu cho đứa con ngủ gật gối đầu khi đi xem xiếc về khuya? Quan trọng hơn, đôi vai đó sẽ gánh vác cả gia đình.’

“Ông Trời thức trắng đêm để nặn cho xong người cha đầu tiên. Ngài cho tạo vật mới ít nói, nhưng mỗi lời phát ra là một lời quyết đoán. Tuy đôi mắt của người cha nhìn thấu mọi việc trên đời, nhưng lại bình tĩnh và bao dung.

“Cuối cùng, khi đã gần hoàn tất công việc, Trời thêm vào khoé mắt người cha vài giọt nước mắt. Nhưng sau một thoáng tư lự, Ngài lại chùi chúng đi. Thành ra người đời sau không mấy khi thấy được những giọt lệ hiếm hoi của người cha, mà chỉ có thể cảm và đoán được rằng ông ta đang khóc.

“Xong việc, ông Trời quay lại nói với nữ thần: ‘Ngươi thấy đó, người cha cũng đáng yêu như người mẹ mà ta đã dồn công sức để tạo ra.’

Thật vậy! Bên cạnh tấm lòng bao la như biển lớn, bất tận như suối nguồn của mẹ là một tình cha vút cao vòi vọi như ngọn Thái Sơn.

Thế nên người xưa đã ví:

“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”
Hay:
“Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.”
Bởi lẽ:
“Có cha mẹ mới có ta,
Làm nên là bởi mẹ cha vun trồng.”

Chính nhờ cha mẹ mà chúng ta nên vóc nên hình, công thành danh toại. Công ơn đó lớn tợ biển trời mà bổn phận làm con phải luôn luôn ghi nhớ, ngõ hầu đáp đền trong muôn một.

“Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”

Như tất cả chúng ta đều biết, cha mẹ đã vì con cái mà sớm hôm tần tảo, mưa nắng dãi dầu. Mẹ cực khổ thế nào thì cha cũng lao nhọc chừng ấy. Nhưng vì cha thường nghiêm nghị, ít nói nên con cái không nhận ra được tình yêu thương của cha. Thật ra thì cha cũng như mẹ, cũng thấp thỏm lo âu những khi con vắng nhà. Dù cha không tựa cửa ngóng trông con như mẹ nhưng bên tách trà khuya nguội lạnh cha đã lặng lẽ đợi chờ. Cha không nói, nhưng lòng cha cũng tơ vò trăm mối!

Cho nên, chúng ta phải tập nhìn sâu, nghĩ suy cặn kẽ để thấu hiểu tình thương sâu lắng của cha. Bởi tình thương ấy chỉ biểu lộ khi con còn thơ ấu.

Mà thật ra, ngay khi mẹ mang thai con là cha đã thể hiện tình thương đủ đầy rồi! Cha khoe với họ hàng, bạn bè; cha hỏi han mẹ về những động đậy của con trong bụng ra sao, con đạp con chòi thế nào?...

Cha làm việc quên cả mệt mỏi, gánh vác hết mọi việc lớn nhỏ trong ngoài để mẹ bớt nhọc nhằn mà lo bảo dưỡng thai nhi. Mẹ vốn đã cẩn thận trong việc đi đứng ngồi nằm, nhưng hễ có cha là cha luôn bên cạnh mẹ để đỡ nâng, dìu dắt.

Nếu là người cha không mấy quan tâm đến vấn đề tâm linh, tôn giáo, thì khi mẹ sắp đến kỳ sanh nở cũng sẽ thầm vái van, cầu khẩn cho được “mẹ tròn con vuông.” Khi con đầy tháng, thôi nôi thì chính cha là người đứng ra lo việc cúng kiếng, cầu nguyện Phật Trời cho con đuợc khoẻ mạnh, thông minh. Cũng có những lúc cha thay mẹ mớm cơm cho con, hát ru con ngủ...

Không cần tìm kiếm đâu xa, nếu chịu nhìn cho kỹ, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy được tình cha qua hình ảnh những người cha trẻ chung quanh mình.

Vâng! Mới ngày nào người cha ấy còn là một thanh niên chưng diện bảnh bao, áo quần tươm tất, sao hôm nay trông đầy vẻ xốc xếch, luộm thuộm?

À! Thì ra chàng trai ấy bây giờ đã trở thành một người cha rồi. Khi đã mang vào trách nhiệm làm cha thì đâu có thời giờ dòm ngó tới bản thân mình nữa! Nếu như gia đình khá giả thì còn đỡ, bằng gặp cảnh khổ nghèo thì cha càng gầy guộc hơn vì phải ngược xuôi bươn chải. Tuy vậy, cha vẫn luôn dành thời gian ít ỏi để được gần con mà âu yếm, nâng niu trìu mến.

Bạn thấy đó, người cha trẻ ấy đã cõng con trên vai, có lúc đội con trên đầu, hớn hở, nghêu ngao đi khắp xóm làng. Lỡ khi con tiểu vãi trên đầu thì cha cũng thản nhiên mà lo rửa ráy cho con trước. Gặp khi trái gió trở trời, con ấm đầu lạnh cẳng, chớm bệnh ốm đau là cha mẹ buồn rầu đứng ngồi không yên, chạy ngược chạy xuôi rước thầy tìm thuốc. Lớn lên một chút, đi đâu cha cũng dắt con theo. Con quanh quẩn bên cha suốt những sáng chiều.

Nhất là ở miền quê, quanh năm bận bịu với nương khoai ruộng lúa, lúc nào con cũng quấn quít bên cha, cha con làm lụng cùng nhau, hủ hỉ nói cười dưới bóng tre, bên ao cá...

Ở chốn thành thị thì có khác, vì cuộc sống tất bật vội vàng, cha con ít khi gần gũi, nhưng hai buổi sớm chiều cha vẫn giành phần đưa đón con đến lớp. Cha con chở nhau trên xe, hoặc có khi đi bộ, miệng nói líu lo như thể trên đường không có ai ngoài hai cha con vậy!

Rồi con lớn lên, có bạn bè, dần dần rời xa vòng tay yêu thương của cha mẹ. Con chỉ đến bên cha mẹ vào những lúc cần thiết!

Riêng cha thì vẫn tháng tháng ngày ngày dõi theo từng bước chân con. Cha để ý, khuyên răn, nhắc nhở con dù không tự mình chăm sóc, vỗ về như mẹ. Cha rất ít khi lên tiếng nhưng đã dạy dỗ cho con rất nhiều điều hữu ích trong cuộc sống. Có thể nói, cha là người nhận trách nhiệm giáo dục con cái, gìn giữ kỷ cương nề nếp trong gia đình. Mẹ nặng về tình cảm, cha nghiêng về lý trí, nên “mẹ đánh 100 roi không bằng cha hăm một tiếng.”

Nhờ thế mà:

“Mẹ dạy thì con khéo,
Cha dạy thì con khôn”

Tục ngữ Ý có câu: “Người mẹ yêu thương con dịu dàng, người cha yêu thương khôn ngoan” cũng là nói lên ý này.

Nói đến tình cha, trong Phật giáo có câu chuyện rất cảm động về tình thâm phụ tử mà vua Bình-sa[2]đã dành cho thái tử A-xà-thế.[3]

Truyện kể rằng: “Từ ngày hoàng hậu Vi-đề-hy[4]thọ thai, bà bỗng dưng khởi lên cơn thèm thuồng kỳ lạ. Bà thèm những món ăn tươi sống, có mùi máu tanh hôi. (Dĩ nhiên là Bà đã kiềm chế được cơn thèm ma quái đó.). Các vị quan cận thần tiên đoán rằng đứa trẻ trong bụng hoàng hậu sau này sẽ là một đứa con đại nghịch. Nghe vậy, hoàng hậu hoang mang lo sợ.

“Thế nhưng hoàng hậu cũng phớt lờ đi lời khuyên phá bỏ thai nhi nghịch tử của các cận thần. Vua Bình-sa thì dứt khoát hơn. Ngài thẳng thắn bác bỏ lời tâu trình đó và quyết giữ lại bào thai. Vua nói rằng, dẫu sau này thái tử có giết ngài thì ngài cũng không oán trách, vì đó là giọt máu của mình. Tình phụ tử nặng sâu đã không cho phép vua hủy hoại bào thai dù sau này nó có là nghịch tử.

“Và sự tình quả là như thế. Khi thái tử A-xà-thế lớn lên, dù biết ngai vàng trước sau cũng là của mình, nhưng vì không cưỡng lại được lòng tham muốn sớm lên ngôi cực độ, lại thêm nghe lời xúi giục của Đề-bà-đạt-đa[5]nên thái tử đã âm mưu hành thích vua cha để soán ngôi. Cơ mưu không thành, thái tử bị bắt quả tang. Triều đình kiến nghị rằng ‘pháp bất vị thân’, thái tử phải chịu tội chết. Nhưng vì tình phụ tử thiêng liêng, Vua Bình-sa chẳng những không trị tội mà còn vui vẻ nhường ngôi sớm hơn dự định để con được tròn ước muốn.

“Thái tử A-xà-thế lên ngôi vua. Những tưởng thái tử nhận ra được tình yêu thương thắm thiết của vua cha và tỏ lòng biết ơn vua cha đã tha tội chết mà lo đền đáp. Ai ngờ, A-xà-thế như mất cả nhân tính, nhẫn tâm hạ ngục cha mình và còn ra lệnh bỏ đói cho đến chết.

“Đứng trước cảnh ngộ này, mẫu hậu Vi-đề-hy vô cùng đau khổ. Biết không thể nào khuyên ngăn được việc làm độc ác của A-xà-thế, bà đã nén lòng bi thương tìm cách đưa thức ăn vào cho đức vua. Mỗi ngày, bà giấu thức ăn trong búi tóc để đem vào ngục cho đức vua. Nhờ vậy vua mới duy trì được sự sống.

“Không lâu sau, A-xà-thế phát hiện việc làm lén lút này, liền cấm bà đem thức ăn cho vua cha. Thế là bà phải tìm cách khác. Trước khi vào thăm đức vua, bà tắm rửa thật sạch rồi thoa mật ong vào người, hầu đức vua được đắp đổi sự sống qua ngày.

“Cuối cùng, chuyện này cũng bị phát giác. Thế là A-xà-thế cấm tuyệt mẫu hậu không được tới lui thăm vua cha nữa.

“Ở trong ngục, dù bị bỏ đói khát nhưng nhờ Vua Bình-sa biết thực hành phương pháp tu tập, tĩnh tâm tham thiền, kinh hành niệm ân Tam Bảo như lời Phật dạy nên dung sắc không thay đổi.

“A-xà-thế biết vua cha sắc diện vẫn còn tươi tắn bình thường nên đã hạ lệnh cắt gót chân, xát muối rồi đưa vào hơ lửa. Không chịu nổi cực hình tàn nhẫn mà đứa con bất hiếu đã bày ra, đức vua băng hà.

“Ngay khi đức vua băng hà thì cũng là lúc vợ vua A-xà-thế hạ sanh một hoàng nam. Được tin, A-xà-thế vui mừng khôn xiết liền chạy đến tìm mẫu hậu mà thưa hỏi rằng: ‘Mẫu hậu ơi! Con có hoàng tử rồi! Ngày trước vua cha có vui mừng, có sung sướng và yêu thương con như thế này không hở mẹ?’

“Mẫu hậu hướng ánh mắt u buồn về phía xa xăm rồi quay lại nhìn A-xà-thế trìu mến: “Phụ hoàng thương con nhiều lắm. Thương con tha thiết y như con thương hoàng tử vậy! Mẹ còn nhớ khi con còn nhỏ, con bị mụn nhọt ở đầu ngón tay. Mụn nhọt hành con đau nhức khóc la suốt cả đêm. Mẹ dỗ hoài mà con không nín. Cha thấy con như vậy nên đã lấy miệng ngậm ngón tay nhọt cho con bớt nhức. Và hơi ấm trong miệng vua cha đã đem lại sự êm dịu cho con.

“Đến lúc lâm triều, vua cha cũng bồng con theo, vừa ngậm tay con vừa luận bàn việc triều chính. Bất thần, mụn nhọt bể ra, máu mủ vọt cả vào miệng vua cha. Vua cha định lấy tay con ra khỏi miệng nhưng lại sợ con đau nên người đành nuốt hết máu mủ vào bụng. Nhờ vậy mà con không còn đau nhức nữa!.”

“Nghe đến đây, A-xà-thế giật cả mình. Một nỗi ân hận vô biên đã khiến A-xà-thế phải thảng thốt, kêu lên thất thanh: ‘Thả cha ta ra! Thả cha ta ra!’

“A-xà-thế vừa la vừa chạy như một kẻ mất hồn. Vừa tới nơi ngục lạnh thì đức vua đã hóa ra người thiên cổ. A-xà-thế khóc lóc thảm thiết, đau đớn vô cùng. Nỗi ân hận ám ảnh, dày vò lương tâm A-xà-thế mãi cho đến khi gặp Phật, được Phật hóa độ mới thôi..”

Bạn ơi! Câu chuyện đã cho chúng ta thấy một tình cha cao cả biết dường nào! Và trường hợp thức tỉnh của Vua A-xà-thế cũng giống như rất nhiều người trong chúng ta:

“Ở đời ai cũng có lần,
Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành.
Người xưa khó nhọc nuôi mình,
Khác gì mình đã hết tình nuôi con.”

Cha thương con, một tình thương giấu kín trong lòng nên chúng ta chỉ thấy sự nghiêm khắc của cha mà không nhận ra tấm lòng cao cả tiềm ẩn trong từng lời nói khô khan. Chúng ta đâu ngờ rằng “tấm lòng của người cha là một tuyệt tác của tạo hóa” đang bị chính chúng ta phớt lờ, ruồng bỏ.

Chúng ta chạy theo nhu cầu phàm tục, văn minh vật chất, quay lưng với huyết thống cội nguồn, không thèm nhớ nghĩ đến người cha đã một đời lam lũ vì con. Nếu có mẹ cận kề thì cha đỡ phần cơ cực. Bằng như mẹ sớm lìa trần thì cha phải một mình cam phận “gà trống nuôi con”, đảm trách cả vai trò làm mẹ:

“Nghiêng mình mở hột nút ra,
Con ơi, con bú cho cha yên lòng”

Hỡi ôi! có những buổi trưa hè oi bức, bên chiếc võng đong đưa kẽo cà kẽo kẹt, cha cất giọng khô cằn hát ru con:

“Thôi đừng khóc nín đi con,
Cha dỗ cha bồng cha hát cha cưng.
Ngủ đi con ngủ cho ngoan,
Mặt trời đã xuống hoàng hôn đã tàn.”

Rồi có những đêm trời mưa tầm tã, con nhớ mẹ khóc nấc từng cơn. Cha ôm con vào lòng ấp ủ mà nghe uất nghẹn buồng tim. Những khi trời nóng nực, cha ngồi suốt bên con, tay gãi lưng, tay quạt, miệng ngâm nga ầu ơ buồn bã:

“Ví dầu nhớ mẹ khó coi,
Đêm đêm lại khóc để cha chong đèn.
Tìm vàng tìm bạc dễ tìm,
Tìm câu nhân nghĩa khó tìm con ơi!”

Biết tay mình chai sần bởi năm tháng vất vả mưu sinh sẽ làm đau da thịt mịn màng con trẻ nên cha hết sức nhẹ nhàng khi xoa lưng con. Tiếng cha khàn khàn, lạc lõng đã không đủ êm dịu để đưa con vào giấc ngủ say, nên chốc chốc con lại giật mình khóc ré lên. Và thế là cha phải “năm canh chầy thức đủ năm canh.”

Thời trẻ cha cực khổ đã đành, khi tuổi già bóng xế rồi mà vẫn còn tần tảo:

“Cha tôi nay đã già rồi,
Vẫn còn làm lụng để nuôi cả nhà.
Sớm hôm vừa gáy tiếng gà,
Cha tôi thức dậy để ra đi làm.”

Cha ơi!

“Cha lăn lộn giữa cuộc đời,
Áo cơm đè một kiếp người gian nan.
Cha bơi lội giữa nhân gian,
Đắng cay cơ cực nguy nàn... một cha.”

Để rồi, cuộc sống khó nghèo đôi lúc đã làm cho cha rơi nước mắt. Và cha đã khóc vì thấy mình không lo cho con được đủ đầy, để con thua sút bạn bè. Nhìn con thiếu hụt mà lòng cha nghe đau nhói!

Có câu chuyện rằng:

“Người cha làm nghề sửa khóa, nuôi đứa con trai bại liệt đã mất mẹ. Năm nào cũng vậy, đến mùa Noel, một công ty dịch vụ thường thuê người cha đóng vai ông già Noel. Đêm lễ, cậu con trai nằm một mình trong căn phòng nghèo nàn, trống vắng, vì người cha phải đến những địa chỉ qui định. Mỗi khi đến những nhà đang sum vầy hạnh phúc, chúc những lời tốt đẹp, miệng ông cười rất tươi nhưng lòng đau nhói. Người cha đang nghĩ tới đứa con ở nhà một mình...

“Sau đêm lễ, người cha kể cho con nghe về ông già Noel. Nào là râu bạc trắng, miệng ông cười rất tươi, tay ông lắc chuông vàng, vai mang túi quà, lòng tràn đầy tình thương trẻ thơ... Và ông sẽ đi bất cứ nơi đâu, đến không thiếu một đứa trẻ nào. ‘Thế khi nào ông già Noel đến nhà mình hở cha?’ ‘Chắc sang năm, con ạ!’

“Một năm nữa lại trôi qua. Người cha đến công ty đăng ký việc làm và đóng lệ phí một suất.

“Đêm Noel, cậu bé nằm mong ngóng và tưởng tượng mọi điều. Chợt ông già Noel xuất hiện đúng như hình ảnh người cha từng kể. Đến bên cậu, ông già Noel nhẹ nhàng âu yếm: ‘Ta biết con rất ngoan, rất yêu cha của con, con rất tốt bụng, con rất dũng cảm, con rất... Chúc con một đêm an lành, nhiều hồng phúc... Chúc con... ’

“Ông già Noel đi rồi, lòng cậu con trai tràn ngập hạnh phúc. Cậu nhủ lòng sẽ kể với cha rằng ông già Noel rất nhân từ, rất yêu trẻ thơ và còn khóc với mình nữa...”[6]

Câu chuyện đã cho chúng ta thấy một tình cha ngọt ngào sâu lắng. Vậy mà, chúng ta lại vô tình không đón nhận tình thương nồng ấm đó. Trái lại, chúng ta còn buông lời hằn học, trách móc những khi ngỡ cha không chịu đáp ứng ước muốn của mình. Để rồi khi sực tỉnh ra thì đã muộn màng, như trong câu chuyện sau đây:

“Một chàng trai sắp tốt nghiệp đại học. Đã từ lâu anh mơ ước một chiếc xe thể thao tuyệt đẹp được trưng bày ở cửa hiệu. Và anh đã nói với cha điều ước muốn đó. Ngày tốt nghiệp đến, anh náo nức chờ đợi...

“Buổi sáng, người cha gọi anh vào phòng riêng. ‘Con trai, ta rất tự hào về con’, ánh mắt ông nhìn anh thật trìu mến. Rồi ông trao cho anh một hộp quà được gói rất trang trọng. Ngạc nhiên, chàng trai mở hộp quà và thấy một quyển sách được bọc bằng vải da, có tên chàng được mạ vàng. Tức giận, anh ta nói lớn tiếng: ‘Với tất cả tiền bạc mà cha có, sao chỉ tặng con một quyển sách này thôi?’ Rồi anh chạy vụt ra khỏi nhà, vứt quyển sách vào góc phòng.

“Nhiều năm trôi qua, chàng trai giờ đã là một nhà kinh doanh thành đạt. Anh có một ngôi nhà khang trang và một gia đình hạnh phúc. Người cha lúc này đã già. Một hôm anh nghĩ mình cần phải đi gặp cha. Anh đã không gặp ông ấy kể từ ngày tốt nghiệp.

“Trước lúc lên đường, anh nhận được bức điện tín rằng người cha đã qua đời và để lại tất cả tài sản cho con trai. Anh cần phải về ngay lập tức để chuẩn bị mọi việc.

“Khi bước vào ngôi nhà của cha, bỗng nhiên anh cảm thấy một nỗi buồn và ân hận khó tả xâm chiếm tâm hồn. Đứng trong căn phòng ngày xưa, những ký ức bỗng ùa về trong anh... Và bất chợt, anh nhìn thấy quyển sách khi xưa nằm lẫn trong những tập giấy tờ quan trọng của cha ở trên bàn. Nó vẫn còn mới nguyên như lần đầu tiên anh nhìn thấy cách đây nhiều năm.

“Nước mắt lăn dài, anh lần giở từng trang, bỗng có vật gì đó rơi ra... Một chiếc chìa khóa! Kèm theo đó là tấm danh thiếp ghi tên người chủ cửa hiệu, nơi có bán chiếc xe thể thao mà anh từng mơ ước. Trên tấm thiếp còn ghi ngày tốt nghiệp của anh và dòng chữ “đã trả đủ.”[7]

Bạn ạ! Tình thương của cha là như vậy đó. Ngẫm kỹ lại xem, tình cảm, kiến thức, sự nghiệp, công danh... của chúng ta đều do cha mẹ tạo nên. Bổn phận làm con không cho phép chúng ta phụ rẫy công ơn lớn lao sâu dày đó.

“Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,
Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ.
Đạo làm con chớ hững hờ,
Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.”

Chúng ta sống ỷ lại vào cha, dựa nương vào mẹ mà không biết rằng:

“Có cha có mẹ thì hơn,
Không cha không mẹ như đờn đứt dây.
Đờn đứt dây còn thay còn nối,
Cha mẹ mất rồi ruột rối như tơ.”

Và vị trí người cha rất quan trọng:

“Còn cha gót đỏ như son,
Một mai cha mất gót con đen sì.”
Hay:
“Còn cha nhiều kẻ yêu vì,
Một mai cha thác ai thì nuôi con.”
Hoặc là:
“Con có cha như nhà có nóc,
Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.”

Than ôi! Chỉ những ai sớm mất cha mẹ mới nghe lòng trống trải những khi chiều xuống; có chịu cảnh mồ côi mới nghe đau đớn xót xa những lúc đêm về:

“Lòng riêng nhớ mẹ thương cha
Bóng chim tăm cá biết là tìm đâu.”
Hay:
“Lá vàng rơi nhẹ bên thềm,
Mồ côi mới biết nỗi niềm bơ vơ.”
Hoặc là:
“Lời ru vang vọng bốn bề,
Mà câu hiếu đạo chưa hề trả xong.”

Vậy, hỡi những ai diễm phúc còn cha mẹ hiền, xin chớ làm cha mẹ buồn mà lỗi đạo làm con. Cha mẹ đã dành trọn cuộc đời hy sinh cho con mà không hề mong con đáp lại:

“Biển Đông có lúc đầy vơi,
Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng.”
Nhưng trớ trêu thay:
“Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng,
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.”

Cha mẹ nuôi con không mong con nuôi lại! Chúng ta đừng bao giờ khởi lên ý niệm tính thiệt so hơn mà làm đau lòng các bậc sanh thành như trường hợp sau đây:

“Ông Năm có hai con: một trai, một gái đều đã thành đạt, đã có gia đình hẳn hoi. Vậy mà ông vẫn không ‘cậy vào con’ được. Đã 74 tuổi rồi mà ông vẫn thui thủi một mình kiếm ăn bằng nghề mài dao kéo trong căn nhà trống trước dột sau. Người con trai lớn của ông là một viên chức nhà nước cũng có nhà, có xe nhưng tuyệt nhiên y không hề nghĩ tới chuyện phụng dưỡng cha già.

“Những ngày ông Năm đau ốm, anh con trai ghé qua một chút, để lại ít tiền rồi đi. Đứa con gái còn tệ hơn, cứ ghé qua là cằn nhằn cửi nhửi: ‘Già rồi mà không biết lo thân. Ba bán đất rồi về ở với con, mài dao mài kéo được mấy đồng!’

“Tuần trước, ông Năm lại bịnh. Bà con trong xóm chạy tới chạy lui chăm sóc. Anh con trai ghé qua: ‘Ba đưa giấy tờ đất cho con mượn thế chấp ngân hàng, con cần một số vốn làm ăn.’ Vừa lúc đó, đứa con gái cũng xuất hiện: ‘Ba bệnh hoài, biết chết nay sống mai? Thôi thì phân chia tài sản cho rồi, để nằm xuống rồi phiền phức lắm!’

“Ông Năm nghe đau ở ngực. Hai đứa con ruột thịt tới chỉ đòi mượn, đòi chia. Không đứa nào quan tâm ông đau ốm thế nào. Một người hàng xóm bưng qua tô cháo. Những giọt nước mắt lặng lẽ chảy dài trên gương mặt già nua tội nghiệp của ông...

“Hai ngày nay, bệnh ông Năm trở nặng. Bà con lối xóm đưa ông vào bệnh viện. Hai đứa con ông vẫn chưa hay biết gì, chúng đang khởi đơn đòi thừa hưởng miếng đất duy nhất của ông. Buổi chiều, tiếng người bạn già của ông Năm hớt hải gọi vào điện thoại: ‘Chú Hai ơi! Anh Năm không qua được nữa rồi! Chú vô bệnh viện mau.’

“Trong phòng cấp cứu, đứa con gái rên rỉ: ‘Vậy ba để miếng đất cho con hay cho anh Hai? Đã kêu lo tính trước mà không nghe!’ Người con trai vừa tới, ông Năm đưa mắt nhìn hai đứa con thân yêu của mình: ‘Ba đã sớm lo liệu vì không muốn chết rồi lại nằm không yên. Ba đã làm di chúc chia tài sản cho hai con. Chừng nào miếng đất ấy được bồi thường theo giá quy hoạch, hai con sẽ được chia đều. Ba không cần đứa nào thờ cúng hết. Ba không muốn nghe tụi con cằn nhằn mỗi lần cúng kiếng ba. Cứ hỏa thiêu rồi đem tro cốt rải xuống sông. Như vậy, tụi con không cần cúng mộ nữa.’

“Nói xong những lời cuối cùng và chừng như lòng dạ cũng thanh thản, ông Năm lặng lẽ ra đi.

“Đến bây giờ hai anh em mới thảng thốt nhìn nhau. Họ đã có những cái mình cần nhưng những lời trăn trối của cha như ngọn roi mãi quất vào lương tâm họ.”[8]

Do vậy, để không biến mình thành kẻ vong ân, bạc tình bội nghĩa, ngỗ nghịch bất hiếu, chúng ta phải lắng lòng nghe lại những lời dạy của cổ nhân:

“Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

SG, mùa sen nở 2007

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/07/2015(Xem: 20764)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 11796)
Có những tiếng những lời những âm thanh nghe hoài không chán, nghe mãi không quên, không nghe thì trông ngóng đợi chờ. Tiếng nói của người thương kẻ nhớ kẻ đợi người mong, âm thanh của những ngọt ngào êm dịu, lời ru miên man đưa ta về miền gợi nhớ, những yêu thương da diết chôn dấu trong từng góc khuất, những trăn trở buồn vui có dịp đi qua. Và còn nữa, những thứ mà lúc nào ta cũng trông mong, lời khen tán thưởng tiếng vỗ tay tung hô của thiên hạ.
29/06/2015(Xem: 9670)
Như truyền thông đại chúng đã loan tải vào ngày 24 tháng 4/ 2015 một trận động đất xảy ra tại đất nước Nepal đã làm thiệt mạng gần 9.000 nạn nhân, và làm sập hư trên 100.000 ngôi nhà, trong hiện tại có trên 200.000 người không nhà cửa, và hàng ngàn trẻ em mồ côi cha mẹ. Nhìn thấy cảnh đời bể dâu tang thương đổ nát của người dân Nepal, Hòa Thượng Hội Chủ Thích Như Huệ đã ra thông tư, cũng như tâm thư kêu gọi lòng từ tâm của người con Phật. Sau gần 2 tháng kêu gọi, với tấm lòng tùy tâm của đồng hương Phật tử xa gần trong và ngoài nước Úc, cũng như 37 tự viện thành viên của Giáo Hội đã đem đến kết quả với số tiền cứu trợ là $ 304.900. Úc Kim. Phái Đoàn Cứu Trợ Nepal thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan đã lên đường vào tối ngày 8.6.2015 tại sân bay Melbourne.
29/06/2015(Xem: 8269)
Thời tiết mùa hè năm nay bất thường. Đã có những ngày quá oi bức, và cũng có những ngày lù mù, không mưa không nắng, gió se lạnh. Khí hậu đôi khi cũng tác động vào lòng người, khiến họ dễ bẳn gắt, khó chịu. Những người đã nuôi dưỡng từ lâu sự kỳ thị, thành kiến, hay tỵ hiềm nào đó, có thể bị thời tiết nóng bức châm ngòi cho sân hận và sự bạo động. Đã có những cuộc khủng bố đơn phương hoặc nhân danh tổ chức (thế tục hay tôn giáo) diễn ra khắp hành tinh trong những tháng năm qua.
27/06/2015(Xem: 12291)
Qua 4000 năm Văn Hiến của dân tộc thì trên 2000 năm, Phật giáo có mặt, đồng hành cùng dân tộc. Tính từ thời lập quốc họ Hồng Bàng – Kinh Dương Vương tên nước là Xích Quỷ (năm 2879 trước c.n) đến thời nhà Lý vào năm 1010-1225 đã là 4000 năm, đến nay cũng gần 5.000 năm. Từ thời lập quốc ở Trường Giang, bị Hoa tộc lấn dần cho đến Hùng Vương qua 18 đời, đất nước Văn Lang chỉ còn lại Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay.Quê hương vốn ở Hồ Động Đình, do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh 100 con lập quốc. Kinh Dương Vương là con của Đế Minh và Vụ Tiên, là cháu ba đời của Thần Nông, mà Thần Nông là một trong Tam Hoàng thời thượng cổ.Như thế, Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương là họ Hồng Bàng, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân, Lạc Long Quân truyền cho Hùng Vương, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Từ thời kinh Dương Vương lập quốc đến nay, dân tộc trãi qua 11 lần thay danh đổi hiệu:
24/06/2015(Xem: 31685)
Lời vàng của Thầy tôi, một Hướng dẫn vào các sự Chuẩn bị cho Tâm-yếu của Phạm Vi Bao La từ Đại Viên Mãn, trình bày các con đường của bốn trường phái chính của Phật Giáo Tây Tạng mà không có bất kỳ mâu thuẫn nào giữa chúng.
23/06/2015(Xem: 13234)
Câu hỏi: Lý do tại sao Trịnh Hội lại đi học tu? Có phải bị mất phương hướng cuộc đời hay chán cuộc đời nhiều phiền toái?(Than Nguyen ) Trả lời: Xin chào anh Than Nguyen. Có hai lý do chính thưa anh. Thứ nhất vì cách đây 3 năm mình có lời cầu nguyện với chư Phật là nếu cho mình cơ hội làm xong công việc giúp những thuyên nhân Việt Nam cuối cùng tại Thái Lan, mình sẽ xuống tóc để cảm ơn. Thứ hai là, một công hai việc, mình muốn và cần một thời gian tĩnh lặng để xem mình thật sự muốn làm gì trong suốt quãng đời còn lại.
23/06/2015(Xem: 12483)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa
21/06/2015(Xem: 7602)
Văn phòng Chính phủ Tây Tạng lưu vong, Dharamsala đưa tin – Hội nghị Tôn giáo lần thứ 12 của bốn truyền thống Phật giáo Tây Tạng đã diễn ra vào các ngày 18-20/06/2015 tại Dharamsala miền bắc của bang Himachal Pradesh, Tây Bắc của Ấn Độ.
21/06/2015(Xem: 9935)
Trong đạo Phật có câu nói rất phổ biến là “Nhất niệm thông tam giới,” một niệm biến khắp ba cõi – cõi dục, sắc, và vô sắc. Một niệm tức là một móng tâm, một ý nghĩ khởi sinh từ tâm. Điều này cho thấy hai ý nghĩa: làn sóng vi ba khởi sinh từ tâm dù vô hình vô tướng vẫn có thể lan xa khắp ba cõi, và qua đó, ảnh hưởng của một niệm có thể bao trùm cả cõi không gian rộng lớn vô cùng. Quan điểm này có thể nhìn thấy rõ nhất trong thế giới truyền thông ngày nay. Chỉ trong chớp mắt, trong một cái nhấp tay hay cái bấm tay trên máy điện toán hay điện thoại cầm tay thì một bản tin, một sự kiện, một hình ảnh có thể đi khắp thế giới và ảnh hưởng đến hàng tỉ người trong “ngôi làng toàn cầu.”[1]
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]