02. Trăng tròn tháng Giêng

07/02/201109:32(Xem: 17808)
02. Trăng tròn tháng Giêng

THƯƠNGYÊU LÀ THÔNG CẢM
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tôn Giáo TL. 2005 - PL. 2549

-02-

Trăngtròn tháng Giêng

Cóba dịp lễ lớn trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy:MaghaPujalà ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày Đức Phậtthuyết kệ Ovāda-pātimokkha(Giải thoát giáo), là cănbản cho các giới luật sau này; Vesakha Pujalà ngày lễRằm tháng Tư, tức là ngày lễ Tam Hợp Đản Sinh - Thành Đạo- Đại Niết Bàn; và Asalha Pujalà ngày lễ Rằm thángSáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân,và sau đó, chư Tăng Nam tông bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Rằmtháng Giêng còn gọi là ngày Phật Di Chúc, kỷ niệm ngày ĐứcPhật tuyên bố xác định nền tảng của giáo pháp và giớiluật đã thiết lập vững vàng, và Ngài sẽ nhập diệt (bátniết bàn) 3 tháng sau ngày đó.

*

1)Ovādapātimokkha

KhiĐức Phật ngụ tại khu vườn trúc (Trúc lâm) trong thành Vươngxá, có 1250 vị tỳ-khưu dù không hẹn trước đến lễ báiNgài vào ngày trăng tròn tháng Magha theo lịch Ấn Độ, tươngứng với tháng Giêng âm lịch. Các vị ấy là những đệtử đầu tiên đã xuất gia với Ngài và đều đắc quả A-la-hán.Có sách ghi rằng trong số đó, 1000 vị là thuộc nhóm Jatilatức nhóm đạo sĩ tóc bính đã xin xuất gia theo Đức Phậtsau khi được nghe Ngài giảng bài kinh Lửa Cháy (Tương Ưng35.28); và 250 vị kia là thuộc nhóm Aggasāvaka trước kia làđệ tử của ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.

Trongdịp nầy, Ngài giảng bài kinh Ovāda-pātimokkha(Giảithoát giáo), tóm tắt căn bản của giáo pháp giải thoát vàđời sống tu tập của bậc xuất gia như sau:

ChưPhật thường giảng dạy,
Nhẫn,khổ hạnh tối thượng,

Niết-bàn,quả tối thượng,

Xuấtgia không phá người,

Sa-mônkhông hại người.

Khônglàm mọi điều ác,
Thànhtựu các hạnh lành,

Giữtâm ý trong sạch,

Chínhlời chư Phật dạy.

Khôngphỉ báng, phá hoại,
Hộtrì giới căn bản,

Ănuống có tiết độ,

Sàngtọa chỗ nhàn tịnh,

Chuyênchú tăng thượng tâm,

Chínhlời chư Phật dạy.

Giớibổn căn bản này được ghi lại trong kinh Đại Bổn (TrườngBộ 14). Trong kinh Pháp Cú, ba câu kệ trên cũng được tìmthấy trong Phẩm Phật-đà, với câu kệ thứ hai được chuyểnthành câu kệ đầu (kệ số 183, 184, 185). Theo Chú Giải kinhPháp Cú, ba câu kệ này được Đức Phật nhắc lại lúc Ngàingụ ở tinh xá Kỳ Viên, để trả lời câu hỏi của Tôngiả A-nan.

Lúcđó, vào ngày Bố-tát đêm rằm tháng Magha, Tôn giả A-nan chợtnghĩ: "Ðức Thế Tôn đã dạy rõ về cha mẹ của bảy đờichư Phật, đã dạy về thọ mạng, cội cây của chư Phậtngồi thành đạo, đệ tử, vị thống lãnh Tăng đoàn và ngườingoại hộ chính thức. Tất cả điều đó đã được đứcThế Tôn nói rõ, nhưng Ngài không nói về phương cách giáogiới của bảy đời chư Phật trong ngày Bố-tát. Không biếtphương cách có giống như hôm nay hay khác?".

Nghĩthế, Tôn giả đến bạch Phật và thưa hỏi những điềunhư trên. Đức Phật trả lời:

- ChưPhật tuy khác nhau về thời gian bố-tát, nhưng tương đồngvề lời dạy khi giáo giới. Đó là:

Khônglàm mọi điều ác,
Thànhtựu các hạnh lành,

Giữtâm ý trong sạch,

Chínhlời chư Phật dạy. (PC 183)

ChưPhật thường giảng dạy,
Nhẫn,khổ hạnh tối thượng,

Niết-bàn,quả tối thượng,

Xuấtgia không phá người,

Sa-mônkhông hại người. (PC 184)

Khôngphỉ báng, phá hoại,
Hộtrì giới căn bản,

Ănuống có tiết độ,

Sàngtọa chỗ nhàn tịnh,

Chuyênchú tăng thượng tâm,

Chínhlời chư Phật dạy. (PC 185)

Lờigiáo giới trên chỉ được mỗi vị Phật tuyên bố lần đầutiên khi hội đủ 4 điều kiện (Caturansasan-nipāta):
-Ðúng vào ngày trăng tròn tháng Magha,
-Có các vị tỳ-khưu tự động đến bái kiến Ðức Phật,không hẹn trước,
-Các vị đó đều là Thánh tăng A-la-hán có lục thông, và
-Các vị đó đều xuất gia với Đức Phật như là Thiện LaiTỳ-Khưu (Ehi-bhikkhu).
Trongthời kỳ Đức Phật Thích Ca của chúng ta, số các vị tỳ-khưuđó là 1250 vị.

Vìthế, ngày rằm tháng Giêng mỗi năm được xem như là ngàylễ kỷ niệm Đại hội Chư Thánh Tăng. Ngày nầy được cửhành bằng nhiều hình thức nghi lễ khác nhau, như lễ hộiđặt bát đến chư Tăng, lễ thọ giới, lễ quy y, lễ thuyếtpháp, lễ nhiễu Phật, lễ thọ đầu đà, v.v. nhằm giúp ngườiPhật tử cư sĩ có cơ hội gieo duyên lành trong chánh pháp.Ðặc biệt là lễ thọ đầu đà (dhutanga), trong đó,các cư sĩ đến chùa, thọ bát quan trai giới, thức trọn đêmđể tham thiền, nghe pháp, tham vấn, luận đạo.

*

2)Phật Di Chúc

Trong45 năm hoằng pháp, Đức Phật truyền dạy tất cả nhữngđiều cần thiết cho những ai quyết tâm cố gắng theo chânNgài, cả bậc xuất gia lẫn hàng cư sĩ tại gia. Chẳng nhữngcác vị này đã nắm vững Giáo Lý mà còn có đủ khả năngđể rộng truyền đến kẻ khác. Như đã ghi lại trong kinhĐại Bát Niết Bàn (kinh số 16, Trường Bộ): "... Các vịđó đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, cókỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựuChánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp,sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng,trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thểchất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyềnbá Chánh pháp một cách thần diệu". Vào năm tám mươituổi, Ngài quyết định từ bỏ từ bỏ thọ, hành, khôngduy trì mạng sống lâu hơn nữa. Lúc ấy, Ngài đang ngự tạithành Vesali.

Vàongày trăng tròn tháng Magha, sau khi đi khất thực và thọ trai,Ngài đến nghỉ trưa tại đền Capala. Sau đó, Ngài cùng Tôngiả A-nan đi đến giảng đường Kutagara tại rừng Ðại Lâm.Ngài bảo Tôn giả A-nan đi mời tất cả Tỳ-khưu sống ởgần Vesali tụ họp tại giảng đường này.

ĐứcThế Tôn nói với các vị Tỳ-khưu:

-"Này các Tỳ-khưu, những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy,quý vị phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyềnrộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnhphúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thươngtưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc choloài Trời và loài Người.

Nàycác Tỳ-khưu, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảngdạy, quý vị phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập vàtruyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu,vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòngthương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì anlạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ,Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đềphần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỳ-khưu, chính nhữngpháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà quý vị phảikhéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạmhạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúngsinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnhphúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người".

RồiNgài nói với các Tỳ-khưu:

-"Này các Tỳ-khưu, đây là lời Ta nhắn nhủ quý vị. Cáchành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát,vì không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầutừ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ".

Ðólà lời Đức Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Ngài lại nóithêm:

Tađã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từbiệt quý vị, Ta đi một mình.

Tựmình làm sở y cho chính mình,

Hãytinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,

Nhiếpthúc ý chí, bảo hộ tự tâm.

Aitinh tấn trong Pháp và Luật này

Sẽdiệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Dựavào sự kiện lịch sử đó, ngày rằm tháng Magha (tháng Giêngâm lịch) mỗi năm được hàng Phật tử trong truyền thốngNguyên thủy tổ chức để kỷ niệm ngày Phật Di Chúc, 3 thángtrước khi Ngài nhập diệt.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/10/2020(Xem: 11550)
Nhiều người hâm mộ văn hóa thể thao biết rằng, vận động viên bi da chuyên nghiệp nổi tiếng, sinh quán tại Hồng kong và khi 12 tuổi cùng gia đình đến nhập cư tại Vancouver, Canada năm 1990, cư sĩ Phật tử Phó Gia Tuấn (傅家俊) (ba lần đoạt giải vô địch thế giới và 4 lần đạt vị trí Á quân, từng đứng hàng 10 trên thế giới) là một cư sĩ Phật tử ăn trường chay và thường công phu tu tập thiền định Phật giáo. Do đó, nhiều người đã nói về tầm quan trọng của việc giữ cho người chơi thể thao chuyên nghiệp ổn định về mặt cảm xúc trong suốt trò chơi. Việc học Phật pháp và công phu tập thiền định có giúp cho thành tích của cầu thủ Phật tử Phó Gia Tuấn không? Trên thực tế, các môn thể thao ưu tú ngày nay đang trở nên chuyên nghiệp hơn, và tâm lý học thể thao đã trở thành một phần không thể thiếu của các môn thể thể chuyên nghiệp. Theo nghiên cứu chứng thực của khoa học, việc công phu tu tập thiền định Phật giáo rất hữu ích đối với thành tích của vận động viên.
02/10/2020(Xem: 10403)
Như các phần trước đã nói, chân tâm không sinh diệt và vọng tâm sinh diệt luôn tồn tại nơi mỗi con người chúng ta. Bởi con người sống với vọng tâm nên tạo ra dòng lưu chuyển sinh tử khổ đau của chúng sinh hữu tình với những quả báo sai biệt. Tất cả đều có nguồn gốc từ nhân duyên vọng tâm thiện ác. Chân tâm không sinh diệt chính là dòng hoàn diệt, cho nên chấm dứt được khổ đau, sinh tử tạo thành quả báo cũng như các quốc độ thù thắng, vi diệu, bất khả tư nghì của các bậc hiền thánh. Như vậy, phàm phu là do sống với vọng tâm thiện ác vô thường, biến hoại, sinh diệt; còn những ai sống hay an trú trong chân tâm rỗng lặng không sinh diệt thì trở nên là những bậc hiền thánh. Điều này là một chân lý.
01/10/2020(Xem: 9850)
Theo nhiều cách, khi thực hành Phật giáo cho phép chúng ta nhìn thấy những phần tiềm ẩn của bản thân. Giống như một vận động viên thể hình uốn dẻo các cơ của mình trong gương, chúng ta quan sát thể chất và tinh thần của mình từ mọi góc độ, và ghi nhận những gì ở đó. Đôi khi chúng ta thích những gì chúng ta thấy. Và đôi khi chúng ta không thích. Tuy nhiên, chính trong những khoảnh khắc mà sự phản chiếu của chúng ta khiến chúng ta thu mình lại, chúng ta sẽ tìm thấy cơ hội để phát triển.
01/10/2020(Xem: 10368)
Mấy năm qua, tôi đã quyết định từ bỏ hầu hết tài sản thế gian của mình, và vui sống trong một trang trại. Có nhiều lý do giải thích tại sao tôi đưa ra quyết định này, từ trần tục đến tâm linh. Nhưng cải giải thích đơn giản nhất là nói rằng tôi muốn “Tự do”. Tôi cảm thấy bị vướng mắc trong một công việc của công ty không được như ý. Tôi xúc động trước sự tấn công dữ dội của các công ty phương tiện truyền thông liên tục nói với tôi rằng, tôi chỉ có một lần mua hạnh phúc. Và tôi khao khát có cơ hội thực hành Phật pháp trong hòa bình.
01/10/2020(Xem: 9813)
Hội đồng Lập pháp Sikkim đã thông qua dự luật ngày 21 tháng 9 năm 2020, để thành lập một ngôi trường Đại học Phật giáo ở bang đông bắc Ấn Độ. Được biết với tên gọi Đại học Phật giáo Khangchendzonga (KBU), cơ sở này sẽ trở thành trường Đại học tư thục Phật giáo đầu tiên tại Ấn Độ, và là trường Đại học đầu tiên tại Sikkim do người dân bản địa Sikkim sáng lập.
01/10/2020(Xem: 9486)
Khi nghe Đạo Phật nói “đời là bể khổ”, nhiều người đã hiểu lầm rằng Đức Phật có quan niệm bi quan. Sự thật không phải như vậy. Từ điển đã định nghĩa bi quan là “có thói quen nghĩ rằng cái gì sắp xảy đến đều là xấu cả, đều đáng chán và không tin tưởng ở tương lai” hoặc bi quan là “chán nản, không tin tưởng, hoặc mất niềm tin vào hiện tại, tương lai”.
30/09/2020(Xem: 11199)
Cư sĩ Mahā Silā Vīravong, sử gia Lào, nhà ngữ văn, giáo viên dạy tiếng Pali, người hiện đại hóa bảng chữ cái Lào, một nhân vật trí thức lớn của nền độc lập Lào. Trong các cuộc đấu tranh chống lại sự cai trị của thực dân đế quốc Pháp, bằng cách tích cực hoạt động trong phong trào của Lào Issara mà ông lưu vong tại Vương quốc Thái Lan vào năm 1946.
29/09/2020(Xem: 12920)
Bảy đại diện của Hội nghị Hàn Quốc về Tôn Giáo và Hòa Bình (KCRP), bao gồm Hòa thượng Viên Hạnh (원행스님 - 圓行和尚), Tổng vụ Viện trưởng Thiền phái Tào Khê đời thứ 36, đã gặp gỡ Thủ tướng Chính phủ Hàn Quốc Chung Sye-kyun (정세균; Đinh Thế Quân), và cam kết hợp lực để tìm ra một kế hoạch hợp tác, đôi bên cùng có lợi cho cả các hoạt động tôn giáo và phòng chống cơn đại dịch hiểm ác Virus corona.
29/09/2020(Xem: 9167)
Có lẽ chuyến du lịch hành hương không gian mạng, các bạn nhìn thấy một thứ tương tự như thế này từ một cửa hàng trực tuyến: “Chuỗi hạt Tây Tạng Mala Charm Vòng đeo tay Cát tường tuyệt đẹp này với các hạt màu phấn nhẹ nhàng, phù hợp để thực hành chân ngôn thần chú, và để đeo làm đồ trang sức”.
29/09/2020(Xem: 9538)
Tứ là bốn, nhiếp là thu phục, pháp là phương pháp. “Tứ Nhiếp Pháp” là bốn phương pháp lợi tha, đã được Đức Phật Thích Ca dạy cho các đệ tử tại gia cũng như xuất gia của Ngài. Bốn pháp này nếu thực hành đúng đắn sẽ có công năng giúp con người lìa xa cuộc sống buông lung, phóng túng… mà theo đó dễ có những hành động bất thiện gieo khổ đau cho người và phiền não cho mình. Tứ Nhiếp Pháp giúp con người quay về với đường ngay nẻo phải, hay chính xác hơn là trở về với Phật pháp. Phật pháp là con đường tu hành chân chính, hướng về tâm linh đi đến giác ngộ giải thoát.