01. Tâm thư

02/02/201108:57(Xem: 10894)
01. Tâm thư

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO
Cư Sĩ Chánh Trực
Toronto, Canada 1999 - PL 2543

Tập 03
01 Tâm thư
02 Ái ngữ
03 Cốt tủy của Đạo Phật
04 Chữ tâm trong Đạo Phật
05 Đầu năm đi chùa
06 Dâng sớ cầu an
07 Giá trị của con người
08 Không có, có không
09 Luật Nhân quả
10 Năm người mù rờ voi
11 Phước huệ song tu
12 Thủ ấn của Phật Thích Ca
13 Tu tâm, dưỡng tánh
14 Y nghĩa bất y ngữ
15 Ý nghĩa của cuộc sống
16 Gia đình hòa thuận
17 Tội nghiệp
18 Nhân nào quả nấy
19 Biết mình có phước
20 Tứ nhiếp Pháp
Được chỗ không. Không chỗ được.
Thực tu thực chứng. Vô tu vô chứng.

-ooOoo-

Tâm thanh tịnh
Cư-sĩ Chính-Trực

Ngày mai ai cũng chết
Ngày nay không tranh cãi
Muôn sự không còn mãi
Gắng giữ tâm thanh tịnh

Đóa hoa tươi
Cư-sĩ Chính-Trực

Xin học hạnh của đất
Nhận chịu của thế gian
Thơm tho và hôi thúi
Hóa thành đóa hoa tươi

-ooOoo-

Người không sương gió khó thành công.
Người không khổ đau sao ngộ đạo.
(Cư-sĩ Chính-Trực)

-ooOoo-


Lời Tựa

Người tu học theo Phật thường băn khoăn không biết bắt đầu từ đâu, trước một rừng kinh sách của đạo Phật. Tập sách này trình bày các bước căn bản tu học theo Phật, có thể áp dụng trong đời sống hằng ngày, gồm có những bài viết đơn giản về Phật Pháp Tại Thế Gian, Cốt Tủy Của Đạo Phật.

Khi tu học theo Phật, chúng ta thường phát bốn nguyện lớn:

- Một: "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ". Nghĩa là: có rất nhiều loại chúng sanh trong tâm thức, trong tư tưởng, gây nên các tâm niệm sanh diệt, lăng xăn lộn xộn, thương ghét thị phi, cần phải dẹp hết.

- Hai: "Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn". Nghĩa là: có rất nhiều loại phiền não trong tâm thức, trong tư tưởng, gây nên các tâm niệm sanh diệt, sanh tử luân hồi, cần phải đoạn trừ dứt sạch.

- Ba: "Pháp môn vô lượng thệ nguyện học". Nghĩa là: có rất nhiều pháp môn, hay phương pháp tu tập, để đạt giác ngộ và giải thoát, chúng ta cần thực hành trong việc tu học theo Phật.

- Bốn: "Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành". Nghĩa là: thực hành trọn vẹn được ba điều thệ nguyện trên đây, con đường chuyển hóa tâm thức sanh diệt thành Chân Tâm Phật Tánh nhứt định được thành tựu viên mãn.

Tất cả những lời thệ nguyện lớn trên đây đều qui về một chữ: "TÂM". Dù thực hành theo bất cứ tông phái nào, pháp môn nào, người tu học theo Phật chỉ có một mục đích cứu kính là: hàng phục tâm của mình và an trụ tâm của mình. Nhờ đó được an lạc và hạnh phúc.

Nguyện chánh pháp được phổ biến, nguyện mọi người sống đời được vui đạo, cho nên bài viết trong các tập sách Cư Trần Lạc Đạo được hoan hỷ cúng dường chư Phật Tử mười phương, để tùy nghi xử dụng đem lợi lạc cho mọi người, được phép trích dẫn, in lại, đăng báo, thu băng, phát thanh, từng bài hoặc toàn tập, để phổ biến dưới mọi hình thức, một cách bất vụ lợi.

Kính chúc quí độc giả cư trần lạc đạo.

Toronto, Mùa Hạ An Cư Năm 2002
Cư-sĩ Chính-Trực

Tâm thư
(06-2001)

Kính thưa chư đạo hữu,

Lời nói vốn không có nghĩa cố định, chỉ tạm dùng để truyền đạt tư tưởng của con người. Cho nên để tiến bộ trên đường tu học và cảm thông lẫn nhau, chúng ta nên trao đổi với nhau trong tinh thần "đạt ý quên lời". Nói theo sách vở, đó chính là: "y nghĩa bất y ngữ" vậy.

Trong tinh thần đó, chúng tôi xin phát biểu các điểm sau:

Trong Phật giáo, có nhiều tông phái, nghĩa là có nhiều pháp môn tu tập, thích ứng cho từng căn cơ, theo từng hoàn cảnh, thích hợp với nhu cầu và sở nguyện của mỗi cá nhân, tại gia và xuất gia. Do đó, không thể đem giới luật của một hạng người đem áp dụng cho tất cả mọi người được, không thể áp dụng pháp môn tu tập của một giới này cho một giới khác được. Cách tu tập cũng như giới luật và tâm nguyện của Phật Tử xuất gia, tức là các bậc tôn túc tăng ni, khác với Phật Tử tại gia. Không hiểu điều này một cách rõ ràng, nghiêm túc, các cuộc thảo luận đạo lý, hay học hỏi Phật Pháp, thường đưa đến chỗ hí luận, tranh cãi vô ích, làm mất hòa khí, hay động tâm không tốt.

Trong các cuộc thảo luận đạo lý, hay học hỏi Phật Pháp, người nào mang nặng kiến chấp về một cá nhân hay một vấn đề nào đó, thường không giữ được sự bình tỉnh sáng suốt, cho nên không thấy rõ vấn đề, trong khi bao nhiêu người khác đều thấy rõ, biết rõ. Chẳng hạn như là: một người đi vào một căn phòng, thấy tối om om, bèn la lên: Tại sao căn phòng này thiếu ánh sáng quá vậy? Có người thương hại nói giúp: Bạn bỏ cặp kiếng đen xuống, bạn sẽ thấy căn phòng sáng liền chứ gì!

Cũng vậy, khi đọc một quyển sách, hay một bài viết, nhứt là về Phật Pháp, con người nên có tâm bình thường, bất tùy phân biệt, mới có thể hy vọng thấu hiểu được nội dung của quyển sách hay bài viết, mà tác giả muốn gửi gấm, gói ghém trong đó. Nếu có điều nào, điểm nào, đoạn nào chưa sáng tỏ, hay còn nghi vấn, thắc mắc, cần thảo luận để sửa đổi, bổ túc, hoàn chỉnh, đó là việc nên làm trong tinh thần từ bi của người biết tu tâm dưỡng tánh, tránh sự tranh cãi.

Một câu văn hay một đoạn văn thường chưa đủ diễn tả hết tư tưởng về một vấn đề nào đó, cho nên cần có câu văn hay đoạn văn sau đó bổ túc. Tuyệt đối không nên trích một vài chữ, một vài câu, hoặc một đoạn văn trong một bài viết hay toàn bộ quyển sách, rồi kết luận đó là "đại ý" của tác giả, rồi kết luận một cách vội vàng, hoặc kết án một cách bừa bải. Đó là các việc làm thiếu nghiêm túc và không đúng đắn, về phương diện thế gian, cũng như về phương diện đạo lý. Vô tình làm như vậy con người chỉ thấy được một bộ phận của con voi, không thấy đuợc nguyên hình của con voi, như trong câu chuyện năm người mù rờ voi.

Tùy theo căn cơ và công phu tu tập của mỗi cá nhân, một bộ kinh hay một bài viết về Phật Pháp, thậm chí một pháp môn tu tập, có thể được hiểu một cách khác nhau. Đó là lẽ thường tình, không có gì đáng ngạc nhiên, không cần tranh cãi. Kinh Phật thường có rất nhiều nghĩa, cao thấp tùy trình độ tu học, hiểu biết của mỗi cá nhân, nên được gọi là vô lượng nghĩa.

Người tu tập theo đạo Phật, nên cố gắng thực hành lời dạy: "tâm khẩu nhứt như", mới có thể tiến bộ được. Con người thường hay giữ gìn lời nói một cách khách sáo, một cách hoa mỹ, một cách đẹp đẽ, để tránh mích lòng người nghe. Tuy chưa hoàn toàn đúng chánh pháp, nhưng cũng giúp giữ gìn khẩu nghiệp. Nếu những lời nói như vậy phát xuất từ tâm địa tương ưng thì quí hóa biết là dường nào, đó chính là chuyển được ý nghiệp luôn rồi đó vậy. Đây mới chính là trọng tâm của việc tu tâm dưỡng tánh. Người tu tập có tiến bộ là người càng ngày càng thấy an lạc trong tâm hơn, càng ngày càng thấy mình gần gũi với mọi người hơn, cho nên ngày càng hòa nhã với mọi người chung quanh hơn.

Kính thưa chư đạo hữu,

Chúng tôi vô cùng cảm niệm quí đạo hữu đã góp ý xây dựng trên diễn đàn trong thời gian qua. Chúng tôi thường không trả lời ngay các thắc mắc được nêu lên, bởi các lẽ sau:

Cần thời gian để lắng nghe, xem lại vấn đề, đọc kỹ lại điều mình đã viết, kiểm soát lại tư tưởng của mình.

Cần kiểm soát tâm của chính mình, để khỏi làm động tâm của người khác.

Cần thời gian để câu chuyện lắng dịu, mọi việc được sáng tỏ, mọi người được bình tĩnh, tránh sự tranh cãi vô ích.

Hy vọng những lời bộc bạch trên đây được sự cảm thông và bao dung của chư đạo hữu khắp nơi, không tạo ra một đợt sóng nào khác về các vấn đề đã qua. Quá khứ đã qua rồi, chúng ta nên cho qua luôn và thảo luận các đề tài khác bổ ích hơn cho việc tu học. Được như vậy, chúng tôi vô cùng cảm tạ và thành tâm đãnh lễ chư thiện tri thức bốn phương.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Kính thư,
Cư-sĩ Chính-Trực





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2014(Xem: 11256)
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
31/10/2014(Xem: 12060)
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha. Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
31/10/2014(Xem: 10902)
Mùa Xuân ta lên núi Hăm hở làm sơn ̣̣đồng Bỏ con đường khói bụi Cho sách vở vời trông... Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
28/10/2014(Xem: 10549)
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
26/10/2014(Xem: 12832)
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
24/10/2014(Xem: 22246)
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
24/10/2014(Xem: 11239)
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen. Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
23/10/2014(Xem: 19634)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại. Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.
23/10/2014(Xem: 11410)
Bằng cách này hay cách khác, Đức Phật luôn gợi nhắc cho chúng ta rằng mỗi người chúng ta đều sở hữu các khả năng và phẩm chất tốt đẹp, cần phải biết vận dụng và phát huy để làm cho cuộc sống trở nên giàu sang hiền thiện, tránh mọi khổ đau và để thực nghiệm hạnh phúc an lạc. Trong bài kinh Nghèo khổ thuộc Tăng Chi Bộ, Ngài đơn cử câu chuyện một người nghèo túng về của cải vật chất nhưng không biết cách nỗ lực khắc phục tình trạng nghèo khó của mình nên phải liên tiếp rơi vào các cảnh ngộ khó khăn để nhắc nhở chúng ta về các tai họa khổ đau mà chúng ta sẽ phải đối diện, nếu không biết nỗ lực nuôi dưỡng và phát huy các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình.
23/10/2014(Xem: 14745)
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…