11. Cúng Dường Công Đức

06/01/201111:20(Xem: 15667)
11. Cúng Dường Công Đức

 

11
CÚNGDƯỜNGCÔNG ĐỨC

 

Cúng dườngcông đức với Bồ Đề Tâm giống như nhỏ một giọt nước vào biển, chừng nào biển cònhiện hữu thì giọt nước vẫn còn hiện hữu.

Cúng dườngvới Bồ Đề Tâm

HÃY CÚNG DƯỜNGvới lời cầu nguyện rằng, bằng việc nghe từng chữ của luận giảng này bạn có khảnăng chứng ngộ ngay tức thì, toàn bộ đường đạo đến giác ngộ, đặc biệt làbồ đề tâm. Hãy cầu nguyện rằng, mỗi chữ trong các lời dạy này có khả năng điềuphục ngay lập tức tâm của tất cả chúng sinh hữu tình, cầu nguyện rằng toàn bộ conđường đạo đưa đến giác ngộ nhất là bồ đề tâm sẽ nãy sinh trong tâm của họ.

Trong Bồ táthạnh Ngài Shantideva, vị Bồ tát vĩ đại, đã nói:

Tất cảcác phước đức khác thì giống như cây chuối. Khi quả chín thì cây tàn lụi. Nhưngchỉ có cây Bồ Đề Tâm cho quả không bao giờ ngưng.

Cúng dường côngđức để chỉ mong đạt hạnh phúc các đời sau hay giải thoát cho riêng mình thìchẳng đáng kể nếu so sánh với việc cúng dường công đức cầu mong giác ngộvới bồđề tâm. Việc cúng dường công đức với bồ đề tâm cũng giống như nhỏ giọt nước vàobiển. Chừng nào biển còn hiện hữu thì giọt nước vẫn còn. Khi chúng ta cúngdường với bồ đề tâm thì dù công đức nhỏ hay lớn, nó vẫn không thể cạn kiệt.Chúng ta không ngừng hưởng kết quả của công đức cho đến khi đạt giác ngộ. Vàthông qua công đức này, sau khi chúng ta đạt giác ngộ, đến lượt chúng tacó thểtừng bước dẫn dắt chúng sanh đến giác ngộ.

Chúng ta phảicúng dường cho sự phát triển bồ đề tâm. Đây là lý do tại sao vào cuối thời khoágiảng, chúng ta đều tụng :

“jang-chub sem- chog rin-po-che
ma- kye- pa-nam kye- gyur- chig

kye- panyam- pa me- pa- yang

gong- negong- du pel- war shog”

(nghĩa là-ND)

Nguyện choBồ Đề Tâm,

Bây giờ chưaphát triển,

Sẽ nảy sinhlớn mạnh,

Không baogiờ thoái chuyển.

Thật quan trọngkhi cúng dường để phát triển bồ đề tâm, nguồn gốc của mọi hạnh phúc cho bạn vàcho chúng sinh. Và năng lực cầu nguyện là một trong năm năng lực của tu tập. Bồđề tâm là cửa ngõ đưa tới thành công, ngăn ngừa mọi điều không thích, vàmangtới mọi điều ưa thích. Bồ đề tâm sẽ giúp hoàn thành ước muốn của bạn và củanhững người khác. Do đó rất quan trọng khi cúng dường với sự khẩn cầu phát sinhbồ đề tâm trong tâm của bạn và của tất cả chúng sinh hữu tình đồng thời làmtăng trưởng bồ đề tâm của những người đã có tâm đó rồi để không bao giờ thoáichuyển.

Cúng dườngvới tánh Không

Song song vớiviệc cúng dường công đức với bồ đề tâm, bạn hãy cất giữ thật kỹ sự cúng dườngvới tánh Không bằng cách suy nghĩ rằng người cúng dường, hành động cúngdườngvà đối tượng được cúng dường, tất cả đều là không. Với cách thức này công đứcsẽ không bị phá huỷ bởi sân hận hay những thiên vị thành kiến. Sân hận và thànhkiến hay thiên vị không chỉ là nhân tái sinh vào các cõi thấp mà cũng còn làmtrì hỗn việc đạt được các chứng ngộ trong nhiều đại kiếp.

Như Geshe SopaRinpoche đã nói rằng, công đức được xác lập bỡi tánh Không thì sẽ không bị sânhận và ganh tị làm hư hại bỡi vì sân hận và ganh tị nổi lên từ vô minh chấp cóhiện hữu chắc thật, nhưng vô minh này đã bị loại trừ bỡi trí huệ thấy biết tánhKhông . Bởi vì trí huệ này loại trừ được gốc rễ của vọng tưởng và vô minh khư khưtin vào sự hiện hữu thật, cho nên công đức cúng dường sẽ không thể bị hưhạibởi sân hận và ganh tị nếu nó được xác lập bởi tánh Không .

Nếu bạn khôngcó chút hiểu biết gì về tánh Không, về các duyên sinh vi diệu, ngài PabongkaDechen Nyingpo khuyên rằng ít nhất bạn cũng nên nghĩ rằng bạn đang mơ, bạn đangcúng dường công đức trong mơ. Với cách này bạn sẽ không còn chấp coi cáitôi, công đức, chúng sinh hữu tình và sự giác ngộ như là hiện hữu chắcthật. Sự chấp bám này sẽ giảm bớt. Nhận biết mọi sự như thể trong mơ, kiểu cáchnày sẻ cung cấp cho bạn ý tưởng rằng đây này không phải cái tôi thật, một cáitôi hiện hữu tự tánh. Nó cho bạn một ý tưởng sơ khởi rằng toàn bộ nhữngđiều này là giả, rằng không có sự hiện hữu tự tánh. Cùng với sự tỉnh thức này,hãy cúng dường công đức.

Mặt khác nếubạn có được hiểu biết nào đó về tánh Không, bạn hãy nhớ đến thực tại vi diệu vềcách thức mọi sự hiện hữu. Hãy nhớ rằng cái tôi- người cúng dường, đích thị làgán đặt là giả danh, giác ngộ là đích thị gán đặt giả danh, chúng sinh hữu tìnhmà chúng ta cúng dường cho, cũng đích thị gán đặt giả danh. Khi bạn nghĩtớigiác ngộ, sự hiểu biết trong lòng bạn phải là: chẳng qua chỉ là cái đíchthịđược gán đặt giả danh. Và cái mà nó mang lại quả của hạnh phúc, chúng tagọi nólà “công đức”, cũng đích thị được gán đặt giả danh. Do đó tất cả những điềunày: cái tôi, hành động cúng dường, công đức, giác ngộ đều hoàn toàn là không.

Với sự tỉnhthức vi diệu này, nhìn thấy mọi sự đều hoàn toàn là không, và với tâm bồđề bạnhãy cúng dường công đức khi đã lắng nghe những lời giảng dạy này.

* * * *

Dịch xong tiếngViệt, ngày 3 tháng 3 năm 2007.
Rất mong người đọcgóp ý kiến để lần xuất bản sau, cuốn sách này được dịch chuẩn xác hơn. Mọi đónggóp sửa đổi, tái xuất bản, xin liên lạc với người dịch, địa chỉ email: [email protected]

Nguyễn vănĐiểu
Thành phố Hồchí Minh, Việt Nam.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/05/2021(Xem: 16019)
Ca khúc phổ nhạc “Đóa Hoa Dâng Đời... Của Ns Phật Giáo Hằng Vang từ bài thơ có tựa là “ Đóa Hoa Ngàn Đời... Của Huyền Lan đăng tuần báo Giác Ngộ đặc biệt Phật Đản số 110 ra ngày 09/05/1998. Sau đó vào năm 2003. Cư Sỹ Tống Hồ Cầm – Phó Tổng Biên Tập Báo Giác Ngộ - tức nhà thơ Tống Anh Nghị - Chủ Nhiệm CLB thơ ca Báo Giác Ngộ, hợp tuyển thơ báo Giác Ngộ nhiều tác giả có tên gọi “Sắc Hương Hoa Bút... Được tuyển chọn vào tập thơ nhiều tác giả nầy...
24/05/2021(Xem: 12006)
Ni sư Thích Nữ Giới Hương có lẽ là vị trụ trì viết nhiều nhất ở hải ngoại. Đó là theo chỗ tôi biết, trong cương vị một nhà báo nhiều thập niên có liên hệ tới nhà chùa và công việc xuất bản. Viết là một nỗ lực gian nan, vì phải đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, phân tích nhiều, cân nhắc kỹ rồi mới đưa chữ lên mặt giấy được. Đặc biệt, Ni sư Giới Hương cũng là vị trụ trì viết bằng tiếng Anh nhiều nhất. Tôi vẫn thường thắc mắc, làm thế nào Ni sư có đủ thời giờ để gánh vác Phật sự được đa dạng như thế. Nghĩ như thế, vì tự thấy bản thân mình, nghiệm ra, không có đủ sức đọc và viết nhiều như Ni sư.
18/05/2021(Xem: 13491)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 9971)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 18700)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 13397)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 9257)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 16626)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 8303)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 12336)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ