3. Buông Bỏ Cuộc Đời Này

06/01/201111:08(Xem: 20732)
3. Buông Bỏ Cuộc Đời Này

 

3
BUÔNG BỎ CUỘCĐỜI NÀY

Lama Atishađã trả lời: “Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm bạn!”

Lama Atisha

LAMA ATISHA,người đầu tiên viết luận giảng Lamrim với tựa đề Ngọn đèn Soi đường đến Giácngộ, là một tôn giả vĩ đại với kiến thức và thực chứng vô lượng, người giúp phổbiến Pháp hết sức sâu rộng.Ngài đã thành tựu ngũ minh (năm tri thức-ND) thểhiện trí huệ siêu việt, thiền định nhất tâm và luôn được nhiều hộ pháp bổn tônhộ trì. Ngài xây rất nhiều chùa, tu viện ở Ấn Độ, Tây Tạng và Nepal. Ngài thọbảy mươi hai tuổi (từ năm 982 đến năm 1054) trong đó có 17 năm ở TâyTạng.

Nhờ lòng tử tếcủa Ngài Lama Atisha khi viết Ngọn đèn Soi đường đến Giác ngộ mà giờ đâynhữngai đã gặp Lamrim sẽ không thể nhầm lẫn và biết mình bắt đầu ở đâu trên đường đạotừng bước đến giác ngộ. Những ai chưa gặp Lamrim sẽ không biết bắt đầu tu tậptừ chỗ nào. Dù một người đã nghiên cứu rất nhiều kinh luận nhưng nếu bạnhỏi họ“ông bắt đầu tu tập như thế nào?” thì họ không biết làm sao trả lời. Và nếu cótrả lời thì sẽ lầm lẫn trước thành sau, họ sẽ nói những phép tu tập ở khoảnggiữa trước khi bàn tới bước khởi đầu của đường đạo.

Chúng ta rất ưmay mắn, vì khi viết Ngọn đèn Soi đường đến Giác ngộ, Ngài Atisha đã hợpnhấtđược toàn bộ các con đường Kinh thừa và Tantra thừa của Đức Phật - Tiểu thừa, Đạithừa, Tantra thừa. Từ đó Ngài soạn thành một đường đạo trọn vẹn, một phép tutừng bước, và ai thực hành đều có thể đạt tới giác ngộ. Về phương diện giáo lý,luận giảng trình bày mọi việc rất rõ ràng, vấn đề duy nhất là, chúng ta khôngchịu tu tập.

Lama Atisha cónhiều học trò nổi tiếng : những người nổi tiếng ở Ấn Độ như tôn giả Bhumisara vàVua Mahapali, và ở Tây tạng, ngoài trưởng tử tâm linh là Dromtonpa còn có ba vịGeshe Kadampa: Gonpawa, Naljor Chaktri Chok và Jangchub Rinchen. Còn có nhiềuhọc trò khác nữa chẳng hạn như cháu trai của Vua Yeshe Od là Jangchub Od,Rinchen Zangpo, và Lotsawa Nagtso. Ngay cả những đệ tử của Lama Atisha cũng cóđược phẩm tính vô lượng như đã đề cập trong tiểu sử của họ.

Khi Lama Atishasắp qua đời, Geshe Naljor Chaktri Chok có nói với ngài: “Sau khi thầy qua đờicon sẽ hiến trọn đời mình cho thiền định”. Lama Atisha trả lời: “Hãy nêntừ bỏ tấtcả việc gì được coi là hành vi xấu”. Lama Atisha đã không nói rằng thiềnlàtốt, ngài không nói: “Ô! vâng, như vậy là tốt” thay vào đó, ngài nói “Hãy buôngbỏ việc gì được coi là hành vi xấu”.

Rồi NaljorChaktri Chok nói tiếp với Lama Atisha: “Thôi được, con sẽ thỉnh thoảng giảngPháp, thỉnh thoảng thiền định”. Lại lần nữa Lama Atisha lập lại câu trả lời nhưlần trước. Naljor Chaktri Chok suy nghĩ thêm rồi nói ra một đề xuất khác. Nhưngdù Naljor có nói gì, Lama Atisha vẫn giữ nguyên câu trả lời cũ. Cuối cùngNaljor Chaktri Chok hỏi: “Vậy con phải nên làm gì?” Lama Atisha đáp: “Hãy buôngbỏ cuộc đời này trong tâm”.

Khắc ghi lờidạy này trong lòng, Naljor Chaktri Chok đã vào rừng bách xù gần Tu việnReting, sống không khác gì một con thú ở trong rừng. Ở đây không đề cập đến tâmcủa ông ta – chỉ nói tới thân. Ông ta sống cô độc, không gặp ai cả và qua đời ởđó.

Dromtonpa

Dromtonpa làngười phiên dịch của Lama Atisha; Ngài sinh ra ở phía Bắc Lhasa, rất gầnvớiTolung, nơi sinh của Lama Yeshe. Đây là một nơi thiêng liêng ở đó Lama TsongKhapa đã thấy được Guhyasamaja và Mahakala. Và trong thời gian hành hương đếnTây tạng năm 1987 tôi (Lama Zopa Rinpoche) đã ban lễ quán đảnh Quán Thế Âm BồTát ở đó. Đây cũng là nơi các tu sĩ của Trường Cao đẳng Tantra sơ cấp học giáolý gốc tantra do tu viện trưởng dạy, học hát tụng lời cầu nguyện, và dự các kỳthi. Dường như Dromtonpa đã sinh ra rất gần nơi đó.

Đức Tara đã tiên đoán việc ra đời của Dromtonpa, Ngài là hiệnthân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Đức Tara tiên đoán Dromtonpa sẽ là người nắm giữPhật Pháp, tâm thiêng liêng của ngài sở hữu vô hạn năng lực hiểu biết Kinh điểncùng những thực chứng và Ngài linh kiến (thấy) được các hộ pháp bổn tôn với sốlượng không thể nghĩ bàn.

Trước khi đếnvùng Trung Tây tạng và trở thành người phiên dịch cho Lama Atisha, Dromtonpa đãsống ở vùng Kham, làm thị giả cho Lama Setsuen. Sau khi gặp Lama Atisha,Dromtonpa đã hỏi Ngài điều gì là phép tu tốt nhất trong số những thực hành màbản thân (Dromtonpa) đã làm. Dromtonpa đã kể cho Lama Atisha nghe về những phépthực hành của mình. Ngài cũng nói ra những nỗi cực nhọc khi phục dịch cho LamaSetsuen. Ban đêm Ngài phải mang vũ khí canh chừng đàn gia súc. Ban ngày Ngàiphải làm việc quần quật suốt ngày. Ngài đốt các đống lửa. Ngài đưa lưng để chobà vợ của Lama Setsuen ngồi lên vắt sữa. Có những lúc vừa mang vật nặng trênlưng, tay vừa xe dây thừng bằng lông gia súc, chân vừa đạp vừa phết bơlên tấm da súc khô để làm cho nó mềm đi. Trong nhiều năm Ngài đã làm việc nhưthế – nhiều việc cùng một lúc. Dromtonpa kể cho Lama Atisha biết mọi sự.LamaAtisha nói: “Trong số những điều ông đã làm thì những việc cực nhọc mà ông phụcdịch cho Lama Setsuen mới là Pháp thực sự”.

Dromtonpa chânthành dâng hiến cuộc đời cho Lama Atisha trong suốt mười bảy năm ròng. Từ lúcgặp Lama Atisha, Dromtonpa luôn luôn ở bên cạnh thầy. Hằng đêm ngài thắpđèn bơ dâng cho thầy, để thầy khỏi bị tối.

Dòng truyềnthừa của các Geshe Kadampa bắt đầu từ Dromtonpa. Ngài có nhiều đệ tử, trong đócó ba vị xuất sắc nhất, thường được biết là ba đệ tử chính; đó là Geshe Potowa,Geshe Chen-ngawa và Geshe Puchungwa; họ là những người nắm giữ Phật Phápvới vôlượng thực chứng .Sau khi thành lập Tu viện Reting vào năm 1057, Dromtonpa sốngthêm bảy năm nữa, tổng cộng ngài sống được năm mươi mốt tuổi.

Dromtonpa khôngphải là một tu sĩ mà là cư sĩ giữ năm giới nguyện. Khi quán tưởng các vịLamatruyền thừa của Lamrim, bạn hãy quán Dromtonpa là một người dân du mục Tâytạng, mặc áo chupa dày màu xanh làm bằng tấm da súc.

Dromtonpa luônluôn mặc quần áo cũ rách. Đôi khi ngài khoát vội lên người chiếc áo chuba khôngcó tay áo, rồi đi vào rừng bách xù. Cắm hai hay ba cái cọc vào nhau rồi choàngmột tấm đan bằng lông thú lên, như các dân du mục Tây tạng thường làm, Dromtonpangồi thiền định trong một chỗ nhỏ như vậy. Khi đi xuyên qua rừng, Dromtonpathỉnh thoảng trì tụng đoạn văn ngắn trích từ Bức thư gửi Bạn của Ngài LongThọ:

Được, mất,sướng, khổ, khen, chê, vinh, nhục những bát phong này không phải là chuyện củatâm tôi. Tất cả bát phong đó đối với tôi là giống nhau.

Ngài cũng trìtụng một đoạn trong quyển Bồ Tát Hạnh như sau: “Tôi là người đi tìm giảithoát.Tôi không muốn bị ràng buộc với việc thọ nhận sự cúng dường hay sự tôn kính”. Đôikhi ngài trì tụng cả đoạn, đôi khi ngài chỉ đọc câu đầu của đoạn văn. Trong khiđọc, ngài thường lắc đầu ; ý muốn diễn tả rằng ngài chẳng cần nhận vật dụng haynhận sự tôn kính nào cả.

Các GesheKadampa thường nói: “Đối với bản thân, Dromtonpa không cần sống một cuộcsốngkhổ hạnh, nhưng sở dĩ ngài làm vậy là để các đệ tử noi theo”.

Dromtonpa,người đã buông bỏ mọi hoạt động đời thường của thế gian, có lần được mờiđếnmột nơi có tên là Rong để cử hành lễ cúng dường Puja cho các tu sĩ. Ngàigọi PelgyeWangchuk là đệ tử của ngài đến và nói: “Lần này con đi. Ta không thể đi được.Ta ngồi ở đây, cố gắng buông bỏ cuộc đời này.”

Vào một ngày nọcó tu sĩ đi nhiễu vòng quanh tu viện, Dromtonpa gọi ông ta đến và nói: “Đinhiễu là tốt, nhưng thực hành Pháp thì tốt hơn”. Vị tu sĩ khi nghe vậy nghĩrằng: “Có thể lễ lạy tốt hơn”.

Khi thấy vị tusĩ lễ lạy, Dromtonpa lại nói: “Lễ lạy thì tốt nhưng thực hành Pháp thì tốthơn”. Sau đó, khi vị tu sĩ trì tụng lời cầu nguyện và thiền định, Dromtonpa lạinói câu đó lần nữa. Cuối cùng tu sĩ hỏi: “Vậy con nên làm gì?” Dromtonpalậplại ba lần: “Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm ông. Hãy buông bỏ cuộc đời nàytrong tâm ông. Hãy buông bỏ cuộc đời này trong tâm ông.”

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/05/2021(Xem: 12834)
Ni sư Thích Nữ Giới Hương có lẽ là vị trụ trì viết nhiều nhất ở hải ngoại. Đó là theo chỗ tôi biết, trong cương vị một nhà báo nhiều thập niên có liên hệ tới nhà chùa và công việc xuất bản. Viết là một nỗ lực gian nan, vì phải đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, phân tích nhiều, cân nhắc kỹ rồi mới đưa chữ lên mặt giấy được. Đặc biệt, Ni sư Giới Hương cũng là vị trụ trì viết bằng tiếng Anh nhiều nhất. Tôi vẫn thường thắc mắc, làm thế nào Ni sư có đủ thời giờ để gánh vác Phật sự được đa dạng như thế. Nghĩ như thế, vì tự thấy bản thân mình, nghiệm ra, không có đủ sức đọc và viết nhiều như Ni sư.
18/05/2021(Xem: 14466)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 11167)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 20628)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 14554)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 10302)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 17908)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 9980)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 13375)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 10343)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !