Chương VII: Lòng Từ Bi

08/12/201016:49(Xem: 18493)
Chương VII: Lòng Từ Bi

 

TẤM LÒNG RỘNG MỞ
LUYỆN TẬP LÒNG TỪ BI TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

Tác giả Dalai Lama - Lê Tuyên biên dịch - Lê Gia hiệu đính
Dịch từ nguyên tác tiếng Anh: An Open Heart Practicing Compassion in EverydayLife

CHƯƠNG VII
LÒNG TỪ BI
(COMPASSION)

Lòng từ bi là gì? Lòngtừ bi là lòng ao ước sao cho tất cả mọi người không phải gánh chịu đau khổ. Qualòng từ bi, chúng ta khát khao đạt tới sự giác ngộ. Qua lòng từ bi, chúng tahứng thú tham gia vào việc luyện tập đức hạnh dẫn dắt chúng ta đến với Cõi Phật(Buddhahood).Vì thế, chúng ta phải cống hiến hết mình để phát triển lòng từ bi.

LÒNG CẢM THÔNG
(EMPHATHY)

Bước đầu tiên để có đượcmột tấm lòng từ bi, chúng ta phải phát triển sự thông cảm và gần gũi của chúngta đối với mọi người. Chúng ta phải thấu hiểu được mọi mức độ đau khổ của họ.Chúng ta càng gần gũi với một người nào đó, chúng ta càng thấy rằng những đaukhổ mà người đó đang phải gánh chịu là "không thể chịu được". Sự gầngũi mà tôi nói ở đây không phải là sự gần gũi về thể xác, cũng không nhất thiếtphải là sự gần gũi về tình cảm. Đó là cảm xúc về trách nhiệm, về sự quan tâmđến với mọi người. Để phát huy sự gần gũi như vậy, chúng ta phải yêu mến mọingười. Chúng ta phải ý thức được rằng sự gần gũi giúp mọi người cảm thấy an tâmvà hạnh phúc hơn. Chúng ta phải nhận thấy rằng mọi người sẽ tôn trọng chúng tabiết bao một khi chúng ta đối xử với họ bằng một thái độ nồng ấm. Chúng ta phảichiêm nghiệm về những khuyết điểm của lòng kiêu ngạo, nhận thức được rằng lòng kiêungạo chỉ làm cho chúng ta đối xử theo chiều hướng phi đạo đức và nhận ra rằngcủa cải của cha mẹ chúng ta đã chiếm mất một phần lớn ưu thế của những ngườikhông may mắn như thế nào.

Chúng ta phải chiêmnghiệm về lòng tốt của mình dành cho mọi người. Điều này cũng là thành quả củaviệc đào luyện lòng cảm thông. Chúng ta phải nhận ra rằng của cải của chúng tathật sự phụ thuộc vào sự chung sức của mọi người. Mọi thành quả trong cuộc đờinày đều do mọi người góp sức làm việc tích cực mà ra. Khi chúng ta nhìn xungquanh mình, căn nhà mà chúng ta ở, con đường mà chúng ta đi, quần áo mà chúngta mặc, thức ăn mà chúng ta ăn; chúng ta phải ý thức được rằng tất cả những thứnày đều do mọi người làm ra. Không có thứ gì tồn tại cho chúng ta hưởng thụ vàsử dụng mà không xuất phát từ lòng tử tế của những người vô danh dành cho chúngta. Khi chúng ta suy niệm theo cách này, lòng cảm kích mà chúng ta dành cho mọingười tăng lên, cả lòng cảm thông và sự gần gũi của chúng ta đối với mọi ngườicũng tăng lên.

Chúng ta phải cố gắng ýthức được sự phụ thuộc của chúng ta vào những người mà chúng ta cảm thấy yêuthương. Nhận ra được điều này làm cho chúng ta càng gần gũi họ hơn. Nó đòi hỏisự quan tâm chăm sóc mọi người lâu dài bằng những ánh mắt trìu mến thân thương.Chúng ta phải biết được tác động tích cực to lớn của thái độ cư xử thân thiệncủa mình. Khi chúng ta kháng cự lại thái độ ngạo mạn kiêu căng của mình, chúngta có thể thay thế vào đó là một thái độ tôn trọng mọi người.

Một điều nữa là chúng takhông nên mong đợi thái độ của mình đối với mọi người có thể thay đổi nhanhchóng.

NHẬN RA ĐAU KHỔ CỦA MỌI NGƯỜI
(RECOGNIZING THESUFFERING OF OTHERS)
Sau khi phát triển lòngthông cảm và sự gần gũi, việc rèn luyện quan trọng tiếp theo trong quá trình tudưỡng lòng từ bi của chúng ta là việc hiểu biết tường tận bản chất của đau khổ. Lòng từ bi của chúng ta đối với mọi người phải xuất phát từ hiểu biết vềnhững đau khổ của mọi người. Một điều rất rõ ràng của quá trình suy ngẫm về đaukhổ đó là nó có khuynh hướng trở nên mạnh mẽ và hiệu quả hơn khi chúng ta tậptrung vào chính đau khổ của chúng ta rồi sau đó mở rộng sang đau khổ của mọingười. Lòng từ bi của chúng ta đối với mọi người tăng lên khi sự nhận biết củachúng ta về đau khổ của mọi người tăng lên.

Tất cả chúng ta đươngnhiên có thiện cảm đối với những người đang gánh chịu những đau khổ về bệnh tậthoặc đau khổ khi mất mát người thân. Đây là một loại đau khổ, theo Phật giáogọi là đau khổ của đau khổ.

Để có được lòng từ biđối với những người gặp phải những gì Phật giáo gọi là "đau khổ của sự đổithay" thì khó khăn hơn. "Đau khổ của sự đổi thay" xảy ra theo kỳhạn. Nó có thể là sự thích thú về danh tiếng và của cải. Đây chính là loại đaukhổ thứ hai. Khi chúng ta trông thấy mọi người thích thú với những thành côngtrần tục này, thay vì cảm thấy thương xót, bởi vì chúng ta biết chắc rằng niềmvui đó cuối cùng rồi cũng sẽ kết thúc và bỏ lại họ với sự thất vọng chánchường, thường thì phản ứng của chúng ta là cảm thấy thán phục và đôi khi thậmchí là ganh tị. Nếu chúng ta thông hiểu thật sự về đau khổ và bản chất của đaukhổ, chúng ta sẽ nhận ra rằng danh tiếng và của cải chỉ là tạm bợ và niềm vuimà chúng đem lại đương nhiên sẽ kết thúc, làm cho người ta phải đau khổ.

Cũng có một loại đau khổthứ ba sâu sắc hơn, nó là sự đau khổ tinh vi nhất. Chúng ta liên tục phải gánhchịu những đau khổ này, nó là sản phẩm của vòng luẩn quẩn. Bản chất của vòngluẩn quẩn là chúng ta liên tục chịu ảnh hưởng của những suy nghĩ và những cảmxúc tiêu cực. Và khi chúng ta chịu sự ảnh hưởng đó, chính sự tồn tại của chúngta là một hình thức đau khổ. Loại đau khổ này kéo dài suốt cuộc đời chúng ta,quay chúng ta trong cái vòng luẩn quẩn của những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cựcvà những hành vi phi đạo đức. Tuy nhiên, hình thức đau khổ này rất khó nhận ra.Nó không phải là một trạng thái đau khổ rõ rệt mà chúng ta gặp phải ở "đaukhổ trong đau khổ", nó cũng không phải là điều trái ngược của danh tiếngvà của cải như chúng ta gặp phải ở "đau khổ của sự đổi thay". Đau khổtỏa khắp này là loại đau khổ sâu sắc nhất. Nó tràn ngập trong mọi khía cạnh củacuộc đời.

Một khi chúng ta traudồi được sự thông hiểu sâu sắc về 3 mức độ đau khổ này qua sự từng trải củachúng ta, chúng ta dễ dàng tập trung tìm hiểu và nhận ra được 3 mức độ đau khổcủa mọi người. Từ đó chúng ta phát triển lòng mong ước mọi người thoát khỏi sựđau khổ.

Một khi chúng ta kết hợpđược cảm xúc cảm thông của mình đối với mọi người với sự thông hiểu sâu sắc vềđau khổ mà họ gánh chịu, chúng ta có khả năng phát sinh lòng từ bi chân thànhđối với mọi người. Chúng ta phải thực hiện quá trình này liên tục. Chúng ta cóthể so sánh quá trình này với việc chúng ta mồi lửa bằng cách cọ xát 2 viên đávới nhau. Để có thể cháy được, chúng ta biết rằng chúng ta phải duy trì được sựma sát liên tục làm tăng nhiệt độ tới một mức mà gỗ có thể bén lữa. Tương tự,khi chúng ta cố gắng phát triển những phẩm chất tinh thần như lòng từ bi, chúngta phải thường xuyên áp dụng những kỹ thuật cần thiết để đạt được kết quả nhưmong muốn, chứ không phải cứ mãi quanh quẩn với những phương pháp may rũi.

LÒNG YÊU THƯƠNG – TỬ TẾ
(LOVING –KINDNESS)

Vì lòng từ bi là ao ướcmọi người thoát khỏi những đau khổ của mình, lòng yêu thương - tử tế là ao ướcmọi người được hưởng niềm hạnh phúc. Cùng với lòng từ bi, khi rèn luyện lòngyêu thương - tử tế chúng ta cần phải bắt đầu bằng cách tập trung cao độ vàoviệc thiền định của mình rồi sau đó mở rộng phạm vi quan tâm đến mọi người ngàycàng nhiều hơn để cuối cùng thấu hiểu tường tận mọi đau khổ và hạnh phúc củamọi người. Đồng thời chúng ta cũng phải chọn một người trung tính (neutralperson), một người không gây chút cảm xúc gì cho ta cả, làm đối tượng thiềnđịnh của mình. Sau đó chúng ta mở rộng thiền định về bạm bè, những thành viêntrong gia đình và cuối cùng là những kẻ thù của chúng ta.

Chúng ta phải tậptrung thiền định về một cá nhân, sau đó phát huy lòng từ bi và lòng yêu thương –tử tế thật sự dành cho mọi người. Chúng ta phải tập trung thiền định về một cánhân, nếu không chúng ta không thể tập trung thiền định để có được lòng từ bi vàlòng yêu thương – tử tế dành cho mọi người. Khi chúng ta liên kết được việcthiền định của mình với những người mà chúng ta không thích, chúng ta có thểnghĩ: "Anh ta là một ngoại lệ".

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/01/2021(Xem: 11284)
Vào thời đại này, kể cả đứa trẻ ba tuổi cũng biết dùng máy vi tính rất rành. Ngay trong sự sanh hoạt ngày thường, con người chỗ nào cũng đều có cơ hội tiếp xúc đến máy vi tính, như là xe hơi, dụng cụ nhà bếp, máy móc thương nghiệp, cơ giới công nghiệp, dụng cụ điều trị, thậm chí trong đồ chơi của trẻ con cũng có trang trí máy vi tính lớn nhỏ phức tạp và đơn giản không giống nhau. Đến nỗi ở trong cơ quan điều khiển tinh vi, máy vi tính lại càng không thể có khuyết điểm, chẳng hạn như Phi Cơ, Tàu Thủy, Tín Hiệu Vô Tuyến Truyền Đạt..v..v.... đều an trí máy vi tính rất đầy đủ cao cấp. Chính nơi trang bị quân sự, máy vi tính lại càng trọng yếu hơn. Cho nên con người hiện nay sanh hoạt đều càng ngày càng ỷ lại nhiều vào máy vi tính thì nó càng quan trọng hơn.
13/01/2021(Xem: 11279)
Tăng đoàn của Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley đã thông báo rằng, Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman (Tông Thuần, Sōjun, 宗純), vị Trưởng lão Thiền sư đáng kính của Thiền phái Tào Động (Sōtō Zen, 曹洞宗), Phật giáo Nhật Bản, vị Giáo thọ sư nổi tiếng đã viên tịch vào hôm thứ Năm, ngày 7 tháng 1 năm 2021. Hưởng thượng thọ 91 tuổi. Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman, người cùng với Trưởng lão Thiền sư Shunryu Suzuki Roshi (pháp danh Shōgaku Shunryū, 祥 岳俊隆, 1901-1971), đồng sáng lập Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley, một trung tâm thực hành Thiền phái Tào Động, Phật giáo Nhật Bản tại Berkeley, California, Hoa Kỳ vào năm 1967.
12/01/2021(Xem: 13756)
Kính thưa quý Phật tử, đồng hương xa gần kính mến, Trái đất xoay tròn, một năm nữa lại đến. Gió xuân, mai đào, bánh chưng, bánh tét... đang đem niềm vui mùa xuân đến cho hành tinh chúng ta. Quý Ni sư kính lời vấn an sức khỏe đến quý Phật tử, tri ân tình thương của quý vị trong thời gian qua, nhất là trong mùa đại dịch Covid Corona, quý vị luôn đồng hành ủng hộ để Chùa Hương Sen được yên ổn sinh hoạt và an tâm tu tập, tụng niệm.
12/01/2021(Xem: 8455)
Vương quốc Phật giáo Bhutan với diện tích và dân số khiêm tốn trên Himalaya đã báo cáo có ca COVID-19 đầu tiên tử vong, khoảng 10 tháng sau khi ca đầu tiên phát hiện Viruscorona, và cố gắng kiểm soát dịch bệnh bằng cách phong tỏa phần lớn đất nước phụ thuộc vào du lịch. Trong một thông báo đưa ra vào cuối ngày thứ Năm, ngày 7 vừa qua, Bộ Y tế Bhutan cho biết một người đàn ông 34 tuổi đã tử vong tại một bệnh viện ở thủ đô Thimphu do Covid-19, tiền sử có bệnh nền như gan mãn tính và suy thận, có kết quả xét nghiệm dương tính.
09/01/2021(Xem: 15378)
“Tha Nhân Là Địa Ngục” (L’enfre, cest les autres/Hell is other people) là câu nói thời danh của triết gia Pháp Jean Paul Sartre. Trong vở kịch nhan đề Huis Clos (Cửa Đóng) tiếng Anh dịch là “Không lối thoát” (No Exit) và tiếng Việt có nơi dịch là “Phía Sau Cửa Đóng” trong đó mô tả ba nhân vật lúc còn sống đã làm nhiều điều xấu. Khi chết bị nhốt vào địa ngục nhưng không phải là “địa ngục” với những cuộc tra tấn ghê rợn về thể xác mô tả trong các tôn giáo, mà bị nhốt vĩnh viễn trong một căn phòng kín. Tại đây ba nhân vật bất đồng, cãi vã nhau- không phải vì cơm áo mà vì quan điểm, sở thích, cách suy nghĩ, tư tưởng, lối sống. Cuối cùng một người không sao chịu đựng được đã thốt lên “Tha nhân là địa ngục”. Câu nói này trở nên nổi tiếng và tồn tại cho tới ngày nay.
07/01/2021(Xem: 13498)
Vào năm 2004, Thư Viện Anh Quốc đã mở cửa đón khách vào thưởng một “pháp bảo” của Phật giáo Trung Hoa mang tên “Kinh Kim Cang”, đó là một trong những cổ vật chính được trưng bày tại cuộc triển lãm “Con Đường Tơ Lụa. Bên cạnh cuốn “Kinh Kim Cang” còn có những cổ vật khác được giữ gìn hoàn hảo hơn 1000 năm qua như : một súc lụa, một tấm thảm trải trước lò sưởi tại ngôi nhà bỏ hoang đã 1.100 năm, một cuộn len 1300 năm tuổi … Phần lớn cổ vật trưng bày tại triển lãm được lấy từ bộ sưu tập của Sir Marc Aurel Stein.
07/01/2021(Xem: 11138)
Một khuôn mặt trong một tấm gương xuất hiện là một khuôn mặt, nhưng thế nào đi nữa hình ảnh đấy không là một khuôn mặt thật sự; đấy là từ những quan điểm trống rỗng về sự hiện hữu của một khuôn mặt. Giống như thế, một nhà huyển thuật có thể gợi lên những ảo ảnh dường như là những thứ thật sự. như một người ở trong một cái thùng bị xiên bởi một cây gươm, nhưng tất cả hoàn toàn không được tạo ra thật sự như những thứ được thấy. Tương tự thế, các hiện tượng như thân thể hiện diện được tạo ra từ chính phía của đối tượng nhưng trống rỗng trong việc được thiết lập cách ấy và luôn luôn như thế.
04/01/2021(Xem: 15613)
Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra nhận xét chính thức đầu tiên về việc nghỉ hưu, từ các trách nhiệm chính trị trong một buổi giảng dạy công khai tại Tsuglagkhang, Dharamshala, ngày 19 tháng 3 năm 2011. Năm 1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ban hành một Hiến pháp Dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên Giới luật Phật giáo, và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên Hợp Quốc để biên soạn, và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai:
04/01/2021(Xem: 16855)
Ngày Xuân ngày Tết, nếu ai tìm những giờ phút thanh thản yên tịnh bằng những bước nhẹ nhàng khoan thai vào vãng cảnh các chùa chiền tự viện, dâng hương bái Phật, nếu để ý sẽ thấy ở một vách tường nào đó treo bộ tranh mang tên gọi là “Thập mục ngưu đồ”. Không phải chốn già lam thiền viện nào cũng có trưng treo, vì đó không phải là điều bắt buộc thuộc thanh quy giới luật, nhiều khi chỉ được treo để trang trí, hay được trưng ra ở một nơi hằng ngày đi qua đi lại như để nhắc nhở, vậy nếu khi ta bắt gặp được tức là ta đang hữu duyên, hãy đừng bỏ dịp đứng trước bộ tranh mang những nét sơ sài ấy để ngắm từng bức mà chiêm nghiệm nghiền ngẫm.
04/01/2021(Xem: 12200)
Phật Vàng (Golden Buddha) có tên chính thức trong tiếng Thái là “Phra Phuttha Maha Suwana Patimakon”, nặng 5,5 tấn. Sau nhiều lần di chuyển, pho tượng hiện đang nằm trong đền thờ Wat Traimit, Bangkok, Thái Lan. Hiện tại, mặc dù các học giả vẫn chưa xác định chắc chắn nguồn gốc của pho tượng là bắt nguồn từ thời gian nào. Nhưng dựa theo cấu trúc của phần đầu bức tượng (hình quả trứng), thì có thể đoán rằng, nó ra đời vào dưới triều Sukhothai vào thế kỷ 13 – 14 – một trong những giai đoạn nổi tiếng nhất của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Thái Lan.