10. An tâm

17/11/201017:19(Xem: 12191)
10. An tâm

AN TÂM

Hàng năm khi nhữngngày đông ảm đạm giá rét trôi qua, bầu trời lại đượcsưởi ấm và trên những cành cây trụi lá đã nẩy lộc đơmhoa, lòng người theo đó cũng hớn hở đón xuân với bao niềmước vọng. Trong khung cảnh Minh niên đầy hân hoan, lòng ngườicon Phật lại thành kính hướng về Tam Bảo để cầu nguyện.

Trong đời sống không ai không khỏibất an trước bao nỗi lo toan phiền muộn, nên cầu an là điềuai cũng đều mong ước. Người ta cầu nguyện bằng nhiềucách, tùy ở niềm tin và nhận thức.

Nếu ai chưa thấm nhuần Chánh pháp,thì họ đi khấn vái am này đền nọ, hoặc cúng sao giảihạn đầu năm. Người thấm nhuần Chánh pháp không cho lốicầu nguyện ấy là thích đáng, là lợi lạc viên mãn. NgườiPhật tử nghĩ rằng: Duy chỉ đem tâm thành kính thanh tịnhtrang nghiêm trì tụng kinh chú trước ngôi Tam Bảo và vânglời Phật dạy làm những việc ích mình lợi người, bốthí phóng sanh để cầu cho thế giới hòa bình chúng sanh anlạc, thì sự cầu nguyện ấy mới đúng với Chánh pháp.

Sự an hay bất an được thể hiệnở trên hai lãnh vực là thân và tâm. Khi thân bị bệnh, bịđói khát, rét mướt, tai nạn, tật nguyền, bị tra tấn đánhđập v.v... đó là những bất an của thân. Khi tâm sầu muộn,bi ai, âu lo, sợ sệt, ân hận hay uất hận, giận hờn, bịcác phiền não của tham, sân, si chi phối đó những mối bấtan của tâm.

Ở đời cũng có những hạnh ngườisống hời hợt, chỉ biết tìm cầu sự an lành ở thể chấtqua sự đáp ứng cho những đòi hỏi như: ăn ngon, mặc đẹp,lắm của nhiều tiền, mong cho tai qua nạn khỏi, công thànhdanh toại, chứ ít khi nghĩ đến sự an lành cho tâm hồn, nênhọ thường thản nhiên để cho tham tâm khởi, si tâm, kiêucăng, ngã mạn khởi. Kết quả họ là phải chuốc lấy nhiềuphiền muộn, ray rứt ân hận đè nặng lên tâm thức hằngngày, hằng giờ, từng phút, từng giây không bao giờ nguôi.

Trong mối tương quan tương duyêngiữa thân và tâm quyện vào nhau thì những nỗi bất an hoặcsự an lành của thân và tâm khó mà trình bày một cách táchbạch. Hơn nữa, vấn đề cảm nhận còn tùy vào nhận thứcvà khả năng tu tập.

Trình bày một cách giản lược,thì sự bất an và an lành được tác động trên hai lãnh vựclà bên ngoài và chính tự trong ta.

Những cái bất an đau khổ từ bênngoài đưa đến, đó là sự bất an của hoàn cảnh, như bịtai nạn, bị đánh đập, tai trời vạ người. Muốn tránh,ta phải có những hành động thích ứng để đem lại an lành.Nếu bị bất an do đói rét, ta phải tìm công ăn việc làm,phải cần mẫn, làm việc có phương pháp để đem lại cơmno áo ấm. Khi thân nhuốm bệnh, ta phải điều trị, uốngthuốc, biết đi dưỡng và đề phòng.

Còn sự bất an chính tự trong talà những sầu, bi, khổ, ưu, não. Muốn tránh những bất anấy, ta phải trì tụng kinh chú, tức là trau dồi tâm ta bằngcách tu tâm dưỡng tánh, thực hành theo giáo lý của đứcPhật dạy. Như đau khổ vì tham tâm, ta cố gắng tu pháp mônbố thí. Quán rõ thật tướng của vạn pháp là vô thường,khổ, vô ngã cho lòng tham lắng xuống. Khi sân làm ta đau khổ,thì phải tu pháp quán từ bi, tu pháp nhẫn nhục, để đậptan ngọn lửa sân hận đang hừng hực đốt cháy từ tâm củata. Nếu đau khổ vì si mê tật đố, ta phải tu pháp quán nhânduyên, để nhận thức rõ ràng tất cả sự vật đều do nhânduyên giả hợp, là trống rỗng, là hư dối, chứ không phảilà chắc chắn như ta tưởng. Khi đã quán rõ được các phápnhư vậy, thì tự nhiên tâm bỉ thử, tật đố lắng xuốngnhường chỗ cho một nhận thức rộng rãi hơn, sáng suốthơn, không bị cái bỉ thử, tham lam chấp thủ làm điên đảo.

Giải trừ được sự tác độngcủa tham, sân, si trong tâm, đó là cách cầu an làm cho tâmhồn nhẹ nhàng trong sáng.

Ngài Thần Quang đến cầu xin TổBồ-đề-đạt-ma an tâm cho mình, cũng chính vì lẽ này.

Thần Quang là một cao tăng TrungHoa, sau khi mệt nhọc lặn lội tìm đến gặp Tổ Bồ-đề-đạt-mađang ngồi lặng nhìn vách tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn,âncần tha thiết van xin Tổ giải thoát nổi thống khổ ray rứtcủa lòng mình, nhưng Tổ vẫn yên lặng, lầm lì thản nhiênmột cách tàn nhẫn. Thần Quang không nản chí, đứng suốtđêm giữa tuyết với đôi mắt long lanh, hoài vọng. Tổ cảmthấy động lòng, liền hỏi:

- Ngươi đến đây để cầu việcgì?

Thần Quang rưng rưng nước mắtvội thưa:

- Bạch Thầy, tâm con không an, xinThầy an tâm cho.

- Người hãy đem tâm ngươi ra đây,ta an cho.

Thần Quang sửng sốt một hồi lâu,rồi thưa tiếp:

- Bạch Thầy, con kiếm tâm mà chẳngthấy đâu cả.

Tổ đáp:

- Ðó, ta đã an tâm cho người rồiđó (Vô môn quan).

Ðây là một cách an tâm thâm thúynhất trong muôn vàn cách an tâm mà đức Phật đã dạy, đượcghi lại thành văn và không thành văn. Nếu ai có một tâm hồntha thiết cầu an tâm và biết tiếp thu thấu đáo pháp an tâmcủa đức Phật thì chắc chắn cũng được an tâm như ngàiThần Quang.

Vậy vấn đề cầu an không phảichỉ một mực cầu an thân mà bỏ mất sự cầu an nơi tâmhồn. Nếu thân không có tâm thì đó là một đống thịt,một xác chết. Cho nên, thể xác được an lạc khi có sựcảm nhận ấy của tâm thức, và cấp độ an lạc cũng tùythuộc vào sức mạnh của tâm thức. Như có người dù bệnhnhẹ, nhưng tâm hồn yếu đuối, khiếp nhược thì nỗi khổđau của cơn bệnh sẽ tăng gấp bội. Và ngược lại, ngườibị bệnh nặng, nhưng với tâm thức bình tĩnh sáng suốt,có ý chí vững mạnh, không giải đải buông xuôi, thì nỗikhổ đau của cơn bệnh cũng được giảm thiểu. Với sứcmạnh của tâm hồn, tức là tâm an lạc, có tác động làmvơi đi những khổ đau ở thân xác.

Ở đời thường có hai hạng ngườisống theo hai lối sống thái quá: - Có hạng chỉ chú trọngcưng dưỡng thân xác, tạo an lạc cho thân xác bằng sự thỏamãn những ham muốn nhục dục. Lại có hạng quá khổ hạnhbằng sự tiết chế tất cả những nhu cầu tối thiểu vàtự hành hạ thân xác. Ðó chỉ là những lối sống khôngtrung đạo, thiếu cân bằng mà ngày xưa đức Thế Tôn đãtừ bỏ và cấm các đệ tử thực hành.

Trong bài pháp Tứ đế đầu tiêncho năm vị Tỷ-kheo, câu mở đầu Ngài dạy rằng:

Có hai thái cực cần phảitránh xa:

- Thái cực thứ nhất là sống xahoa trụy lạc vật dục, đó là lối sống thấp hèn, khôngđưa đến giải thoát, cần phải tránh.

- Thái cực thứ hai là sống épxác khổ hạnh, nhịn ăn nhịn mặc, chịu đói chịu rét, đứnggiữa trời, nóng lạnh hành hạ, thì đó cũng là lối sốngtà vạy không đưa đến giải thoát, cần phải tránh.

Ðức Phật khuyên cần phải tránhxa hai lối sống ấy để tu hành mới đưa đến giải thoát.Như vậy Ngài không phủ nhận đời sống về thể xác, nhưngNgài cũng không tán dương cái lối sống tham đắm vật chất,chỉ biết chú trọng đến thân mà không chú trọng đến tâm.Lời dạy của đức Phật nhắc nhở cho tất cả ai muốn đitrên con đường an lạc, thì trước nhất phải có lối sốngquân bình, chứ không phải bỏ ăn, bỏ làm, ghét bỏ củacải hoặc phung phí của cải, nhưng phải biết sống khôngsay mê vật chất, không say mê theo đời sống dục lạc, xahoa, không tìm hạnh phúc, không chôn vùi cuộc đời vào cầnsa thuốc phiện, chén rượu sòng bạc. Ðức Phật đã bỏquốc thành, thê tử đi xuất gia là dạy cho chúng ta bài họcđó. Nhiều tiền chưa hẳn có hạnh phúc, chức trọng quyềncao chưa chắc có hạnh phúc. Các yếu tố vật chất chỉ lànhững phần phụ thuộc, còn cái hạnh phúc chân thật bao giờcũng chính là trong lòng chúng ta.

Khi lòng ta khởi tham lam do bị tiềncủa chi phối, bị quyền lợi danh vọng chi phối, thì tấmlòng của ta trở nên hẹp hòi ích kỷ, khi đã ích kỷ thìnó không thể trải rộng để hứng lấy những hạnh phúccao thượng, chân thật được. Bởi vậy, trên bước đườngtu tập cầu giải thoát an lạc, người Phật tử phải chútrọng tu tập cả hai mặt thể xác lẫn tâm hồn. Với thểxác luôn luôn phải biết tri túc, cần có cơm đủ no, mặcđủ ấm, cần đủ những tiện nghi tối thiểu mà không nênhưởng thụ tham đắm vật chất tức là phải sống quân bìnhkhông để rơi vào hai thái cực như Phật đã dạy. - Vớitinh thần, phải giữ cho tâm hồn luôn luôn được trong sáng,được rộng rãi. Người Phật tử càng biết mở rộng từbi tâm, càng diệt trừ được chấp thủ, tham ái thì càngcó hạnh phúc chân thật. Khi tâm hồn không trong sáng nhiềutham đắm thì dù ở trên vàng trên bạc họ vẫn không cholà đủ, vì còn mong cầu là còn khổ. Hạnh phúc chỉ đếnvới những tâm hồn biết tiết chế, có đạo đức cao cả,có tu tập theo giáo pháp đức Phật, sống trong sáng, hướngthiện, sống vô tham, biết đủ như trong kinh Di Giáo đã dạy:"Người nhiều ham muốn, nhiều tham cầu lợi dưỡng nên khổnão cũng nhiều. Người biết đủ tuy nằm dưới đất màvẫn lấy làm an vui, người không biết đủ, dù ở thiên đườngvẫn không vừa ý".

Chúng ta nhìn lên gương chư Tổđức, quý ngài có đời sống vật chất rất đơn sơ, đạmbạc, thế mà tâm hồn quý ngài rất tự tại, rất khoan khoái,rất an nhiên vui vẻ. Không hề thoáng những nét cau có, giậnhờn hoặc buồn rầu. Vì sao như vậy? Bởi vì tâm hồn củaquý ngài đã lướt trên tất cả những tầm thường củađời sống thế gian, đời sống của tham lam ích kỷ. Quýngài đã làm chủ được tâm, điều phục được tâm, đểtâm không bị chi phối bởi ngoại cảnh, bởi tham, sân, si,nên đối trước hoàn cảnh nào quý ngài vẫn tự tại an vui.Ðúng là "Tâm bình thế giới bình, tâm xuân vũ trụ xuân".

Cho nên Phật đã dạy: "Tự tạivới tâm, tự tại với pháp". Thường chúng ta chỉ đi tìmsự an bình trong thế giới hiện tượng, tìm nguồn vui trongvũ trụ vật chất luôn chuyển biến vô thường, nên chúngta chỉ nắm bắt được những bào ảnh an lạc. Và chính cáilạc ấy lại là nhân của cái khổ, nhân quả quả nhân, mãivận hành, trong quá trình sinh tử.

Có một hôm, đức Thế Tôn ngồimột mình trên đám cỏ, một người đi qua thấy vậy liềnhỏi:

- Sa-môn Cù-đàm có sầu muộn haysao mà ngồi một mình cô độc thế?

Ðức Phật trả lời:

- Ta mất gì mà Ta sầu muộn?

Ông ta lại hỏi:

- Nếu không sầu muộn thì chắclà Ngài hoan hỷ, mà hoan hỷ thì sao lại ngồi cô độc mộtmình?

Ngài lại trả lời:

- Ta được gì mà Ta hoan hỷ?

Người đó ngạc nhiên hỏi lại:

- Không sầu muộn thì hoan hỷ, khônghoan hỷ thì sầu muộn. Ngài không hoan hỷ, không sầu muộnlà nghĩa làm sao?

Ngài trả lời rằng:

-Hoan hỷ chỉ đến với ngườicó tâm sầu muộn, sầu muộn chỉ đến với người có tâmhoan hỷ. Ta đã dứt bỏ nguồn gốc của sầu muộn rồi, chonên Ta không sầu muộn, cũng không hoan hỷ. Tâm ta không daođộng.

Qua lời dạy ngắn gọn, nhưng hàmchứa một ý nghĩa thâm sâu vô cùng, giúp ta soi rọi vào thựctế cuộc đời để thấy rằng: hoan hỷ là điều ngườiđời mong muốn, và chỉ đạt sự mong muốn qua sự nắm bắt,chấp thủ, như mong cho được trúng số độc đắc, mong sựước muốn tìm cầu của cải vật chất, như vậy thì cáihoan hỷ đó là những hoan hỷ đi đến với người có tâmthiếu thốn và sầu muộn, và sau hoan hỷ đó chắc chắn lànhững sầu muộn âu lo của mất mát. Như người vừa trúngsố thì sung sướng vô cùng nhưng liền sau đó không khỏilo sợ bà con biết sẽ đến xin, đến mượn, hoặc bị mất,hoặc bị cháu con tranh giành làm mất hòa khí gia đình. Nếucố giấu không cho ai biết thì cũng phập phồng sợ ngườita biết.

Tham cầu là một nỗi khổ, khi thànhđạt là một sự hoan hỷ, rồi mất mát lại là một nỗikhổ. Sầu muộn rồi hoan hỷ, hoan hỷ rồi sầu muộn cứnối đuôi nhau mãi.

Có người đang cồn cào vì cơnđói, đang khổ vì đói, nếu ai đem cho ổ bánh ma thì họrất sung sướng, rất hoan hỷ. Thế là hoan hỷ đi đến vớingười có tâm sầu muộn.

Có người trong ngày Tết mặc chiếcáo đẹp, đang hoan hỷ trong chiếc áo đẹp, bỗng bị mộtkẻ tinh nghịch ném pháo làm áo bị rách, loang lỡ làm ngườiấy tức tối, sầu muộn, như vậy là sầu muộn đi đôi vớingười có tâm hôn hoan hỷ.

Cuộc đời chúng ta cứ mãi diễnđi diễn lại, hoan hỷ rồi sầu muộn; sầu muộn rồi hoanhỷ. Ngày qua tháng lại. Suốt cả cuộc đời mãi loanh quanhở trong cái vòng, cái tâm lượng của chúng sanh phân biệt,so đo nhơn ngã mà có như thế.

Ðức Phật, Ngài đã dứt hết nguồngốc chấp thủ, tức là diệt hết nguồn gốc của khổ đau.Ngài luôn hoan hỷ, một sự hoan hỷ không tạo nên bằng tiềntài danh vọng, chức quyền mà là một sự hoan hỷ đã dứtsạch nguồn gốc khổ đau, tức dứt sạch vô minh, tham ái,chấp thủ. Bởi vậy, Ngài dạy: "Ta không hoan hỷ cũng khôngsầu muộn". Nhưng chính cái không hoan hỷ không sầu muộntrong đối đãi ấy, mới là một sự hoan hỷ không thể diễnđạt bằng cái quan niệm so sánh, bỉ thử của nhị nguyên,của người trúng số đầy mong cầu và tham đắm.

Cái hoan hỷ của đức Phật đượctạo nên bằng trí giác ngộ, bằng tâm từ bi, lòng hỷ xả,đó là sự hoan hỷ vi diệu, vĩnh cửu. Một sự hoan hỷ phátxuất từ nội tâm của một người tu tập đã tự tại vớinguồn tâm. Ðó là sự hoan hỷ không bị ai cướp mất vìkhông phải giành của ai mà có được, nhưng lại ban bố chotất cả.

Cho nên, hễ học Phật, chúng tacố gắng xây dựng niềm hoan hỷ, an lạc bằng những côngphu tu tập, trưởng dưỡng từ bi, khơi sáng nguồn tri giác,thì sự hoan hỷ an lạc đó đằng sau không nhuốm bóng dángsầu muộn, sợ hãi.

Người có tu tập là người hiểubiết tâm, khi tham tâm khởi, sân tâm khởi, tâm kiêu mạn khởi,v.v... thì phải điều phục tâm, chế ngự tâm để trở thànhtự tại, tâm giải thoát. Ðược thế, thì trước bất cứmột hoàn cảnh nào cũng được tĩnh giác, tâm không bị chiphối. Ðã thế, ta lại còn chủ động, biết sử dụng mọiphương tiện, mọi đối cảnh, để phục vụ những mục đíchcao đẹp. Làm chủ được đời sống cả vật chất lẫn tinhthần là cách sống an lạc, tự tại giải thoát.

Là người Phật tử còn sống trongtương quan giữa cuộc đời, chúng ta cần phải có tiền, cầncó cơm ăn, áo mặc, cần có mọi tiện nghi cần thiết trongcuộc sống. Song cũng phải cần có từ bi hỷ xả, cần cótrí tuệ, có bố thí, trì giới v.v...

Thực hiện lời Phật dạy đểxây dựng bản thân và xã hội tốt đẹp là cách cầu an đầunăm thiết thực nhất, đem lại an lạc cho nhiều đời, hiệntại cũng như tương lai.

Chúng ta tụng kinh, lạy Phật cũngchỉ với mục đích trưởng dưỡng thiện tâm và tiến dầnđến giải thoát tâm vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/04/2015(Xem: 17393)
Nằm trên thung lũng xanh Larung cao 4.000m, cách thị trấn Sertar, Garze, Tây Tạng khoảng 15 km, nhìn từ xa Học viện Phật giáo Larung Gar như một ngôi làng nhỏ xinh chứa đựng vô vàn điều thiêng liêng và dung dị nhất của đạo Phật.
25/04/2015(Xem: 13769)
Ngậm ngùi bởi tiếc nuối tuổi trẻ đã trôi qua lúc nào không hay. Ngậm ngùi phải chi hồi đó thế này thế khác... Hình như ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai, nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống.
25/04/2015(Xem: 15157)
Trong đời sống thường nhật, chúng ta gặp quá nhiều những tình huống, ảnh hưởng nhiều mặt, nào là sức khỏe, nhà cửa, con cái, vợ chồng, bạn bè, giao hảo v.v… khiến mình càng thêm âu lo, hoảng sợ. Điển hình là sức khỏe, khi mình còn khỏe thì ‘lo lắng’ tập ăn kiêng cữ, thể dục thể thao để giữ cho mình không bị tật bệnh.
24/04/2015(Xem: 18360)
Câu chuyện hai viên sỏi
24/04/2015(Xem: 13038)
Người có ý chí mạnh mẽ, luôn tìm được niềm hạnh phúc trong khó khăn. Đó chính là những người được gọi là “khốn nhi tri”, họ là những người luôn xem những khó khăn trở ngại trên đường đời, như những “món quà” quý giá của cuộc đời trao cho.
21/04/2015(Xem: 12622)
Tôi có quen với một gia đình, có thể nói là thuộc thành phần trí thức, bởi cha mẹ người bạn đều là nhà giáo, bản thân anh là kỹ sư và vợ là dược sĩ. Tuy vậy, không biết suy nghĩ thế nào, anh luôn tin vào các sách bày bán nhan nhản ngoài phố được cải biên, “làm đi, làm lại” mỗi năm như Lịch vạn niên, Xem ngày giờ, việc lành dữ trong năm và thường lên internet truy cập các trang chuyên hướng dẫn về ngày lành tháng tốt, cúng kiếng, xem tuổi kiết hung?
20/04/2015(Xem: 13731)
Ni Sư Thubten Chodron (thế danh Cherry Green), sinh năm 1950, lớn lên gần vùng Los Angeles. Ni sư hoàn thành Cử Nhân Lịch Sử tại Đại Học UCLA năm 1971. Sau khi du lịch qua Châu Âu, Bắc Phi và Châu Á trong khoảng một năm rưỡi, Ni sư trở về Mỹ, lấy chứng chỉ sư phạm, theo học chương trình sau đại học tại USC về Giáo Dục và dạy học ở Hệ Thống Các Trường tại thành phố Los Angeles. Năm 1975, Ni sư tham dự một khóa tu thiền của Ngài Lama Yeshe và ngài Zopa Rinpoche. Sau đó Ni sư qua Nepal tiếp tục tu học và hành thiền tại Tu Viện Kopan. Năm 1977, Ni sư được Ngài Kyabje Ling Rinpoche cho xuất gia tại Dharamsala, Ấn Độ, và năm 1986 Ni sư thọ đại giới tại Đài Loan…
19/04/2015(Xem: 10107)
Con người ta sống trên đời thường tự chuốc lấy khổ đau, phiền não nhiều hơn gấp bội phần cái khổ không đáng phải khổ của một thân chúng sanh, ấy là vì vọng tâm chấp ngã, chấp pháp.
18/04/2015(Xem: 24803)
Như một áng tinh vân bay qua bầu trời tăm tối Như một giọt nước trong lành giữa sa mạc cằn khô Như một đốm sáng lung linh trong đêm tối mộng hồ Người hiện giữa trần gian Như thực như chơn một Như Lai sứ giả Đã sương tuyết cao sơn Vẫn không mỏi mệt Đông Tây bươn bả Không cau mày giữa rừng cố chấp mê si Vũ khí của người chỉ có trí tuệ và từ bi Thắp ấm trái tim Mở rộng tấm lòng bao dung nhân thế Chỉ chừng ấy thôi Là tôi đã rưng rưng giọt lệ Kính thương người tuổi hạc đã cao Ân đức của người Sánh tựa trăng sao Tịch nhiên chiếu Vô nhân chiếu
18/04/2015(Xem: 16442)
Trong khi cả thế giới lựa chọn chỉ số GDP (Gross Domestic Products – Tổng sản phẩm quốc nội) làm thước đo thịnh vượng và phát triển, thì riêng tại đất nước này, chỉ số đó bị loại bỏ thay vào đó là GNH (Gross National Happiness- Tổng hạnh phúc quốc dân).