Lời Tựa

07/11/201015:02(Xem: 15766)
Lời Tựa

BẢY BƯỚC YÊU THƯƠNG
Tác giả : Đức Đạt Lai Lạt Ma
Biên dịch: Lê Tuyên - Hiệu đính: Lê Gia

Kimchỉ nam của cuộc sống,
giúpbạn tìm được niềm vui, sự bình yên và hạnh phúc.

LỜITỰA

JeffreyHopkinsTôiđã gặp người thầy đầu tiên của mình về lĩnh vực Phậtgiáo Tây Tạng vào cuối năm 1962 tại New Yersey. Ông ta là mộtngười Mông Cổ xuất thân từ vùng Astrakhan, đó là nơi dòngsông Volga đổ vào biển Caspian, Ngài Geshe Wangyal, cũng giốngnhư nhiều vị thầy tu khác, đến Tây Tạng để học Đạihọc và ở đó suốt ba mươi năm.

Khiđến Hoa Kỳ, Geshe Wangyal bắt đầu giảng dạy về Phật giáoTây Tạng cho những ai muốn tìm hiểu về nó, ông thiết lậpmột tu viện và một trung tâm nghiên cứu đồng thời mờibốn vị thầy tu người Tây Tạng khác tham gia với ông trongcông việc này vào năm 1960. Họ đã giảng dạy Phật giáoTây Tạng cho nhiều người Mỹ, trong đó có cả tôi.

Cuộcdi cư với quy mô lớn vào năm 1959, cũng tại thời điểm đóDalai Lama di cư đến Ấn Độ, đã dẫn đến sự thành lậpcác trường Phật giáo Tây Tạng dành cho những người tịnạn và các thầy tu tại Ấn Độ, Sikkim và Nepal. Cuốicùng, các tu viện chính của tất cả mọi dòng tu của Phậtgiáo Tây Tạng đều được tái thiết, mặc dù không đượchoàn toàn như xưa, ở Ấn Độ và Nepal. Các nhóm khác dựnglên các học viện giáo dục Tôn giáo mới ngoài quyền kiểmsoát của các tu viện.

TạiTây Tạng, các bậc thầy Tây Tạng – cả trong dòng tu lẫnngoài dòng tu – tìm cách thích nghi với các phương pháp nghiêncứu trước đây và ứng dụng vào hoàn cảnh mới. Ngày nay,sau những thành công dù chậm chạp nhưng vững chãi ở hàngngàn các trung tâm khác nhau trên thế giới, chúng tôi đã thiếtlập được những trung tâm, những học viện nghiên cứu vềtruyền thống Tây Tạng bên ngoài quốc gia này. Cộng đồngngười Do Thái đã giúp ích rất nhiều trong việc phổ biếntruyền thống Tây Tạng tại các quốc gia khác nhau trên thếgiới.

Chúngta có thể nghĩ rằng thế giới được bao quanh bởi các lựclượng chống phá sự phát triển của các truyền thống vàtín ngưỡng như thế này: mọi người bị cuốn theo xu hướngbóc lột lợi dụng lẫn nhau, lòng tham và thú tính; chủ nghĩathực dụng; chạy theo những ham muốn trần tục, phân chiagiữa người giàu và kẻ nghèo; những lời giải thích lừabịp về những rinh vi trong đời sống nhân loại; nạn béophì do ăn uống quá độ; người ta chạy theo tiếng gọi củalợi nhuận một cách mù quáng cứ như thể đó là mục tiêucuối cùng của nhân loại vậy…

NgườiTây Tạng dù sống ở đâu vẫn luôn cố gắng duy trì truyềnthống của mình. Chúng ta không thể phủ nhận những điềutốt đẹp trong truyền thống cao quý này. Ví dụ, chúng tađều đánh giá cao các loại thuốc men cổ truyền của TâyTạng. Tài năng của hàng trăm thầy thuốc trong suốt mộtngàn năm qua ở Tây Tạng đã đem đến cho chúng ta sự hiểubiết về các loại thảo dược và các phương pháp chữa trịvô cùng hiệu quả. Khi chúng ta quan sát các quốc gia khác trênthế giới, tại đó tính hiện đại đã đẩy lùi và biếnmất, chúng ta nhận thấy được sự quý báu trong việc bảotồn những hiểu biết của người xưa tại các xứ sở nhưTây Tạng và Trung Quốc.

Rừngcần phải được duy trì qua việc cắt bỏ và tái tạo lạinhằm bảo tồn sự đa dạng của các loài thực vật và độngvật có ích cho toàn thế giới, nhưng những cố gắng nỗlực đó xem ra đang phải đối mặt với nhiều thử tháchkhác nhau; người Tây Tạng đang phải đối mặt với nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và điều này sẽ khiếncác sản vật quý hiếm của họ dần dần biến mất. Tàinguyên thiên nhiên ngày càng bị thu hẹp là một vấn đềcả thế giới cần phải giải quyết và thật khó có thểtìm ra được các giải pháp thích hợp. Một sự thật ngàynay mà tất cả chúng ta đều nhận thấy rõ, đó là tình yêutrong nhân loại bị biến mất theo từng ngày và chúng ta ýthức rõ rằng điều này sẽ dần dần đưa chúng ta đếntình trạng tự hủy diệt chính mình.

Trêntoàn thế giới, tình yêu phải xuất hiện để đẩy lùi tộiác, kiến thức phải xuất hiện để đẩy lùi sự ngu dốt,niềm tin cần xuất hiện để đẩy lùi những tuyệt vọngvà thói quen chấp nhận một cách bị động, các cuộc đàmphán thương lượng cần xuất hiện để đẩy lùi tình trạngcáo buộc lẫn nhau, lòng tốt phải xuất hiện để thay thếcho những thấp hèn ti tiện. Chỉ có một nỗ lực với quyếttâm cao độ trong một khoảng thời gian dài mới có thể chếngự được sức mạnh ngu dốt và tham lam đã bám chặt rễtrong nhân loại trong suốt lịch sử đã qua.

Tôihy vọng rằng cuốn sách này, cuốn sách nói về tình yêu thươngcủa nhân loại, trong cuốn sách này Đức giáo chủ Dalai Lamacho chúng ta biết được các kỹ thuật thuộc truyền thốnglâu đời của Tây Tạng trong việc chuyển hóa tâm hồn vàcon tim của nhân loại, tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽgóp phần vào những gì chúng ta thực sự cần có – đó làlòng yêu thương và lòng từ bi trong mỗi con người

Tiếnsĩ Jeffrey Hopkins
Giáosư viện nghiên cứu Tây Tạng
Đạihọc Virginia.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/02/2021(Xem: 8405)
Phật giảng thuyết có ba phương cách: a. Giảng trực tiếp như các kinh đạo Phật Nguyên thủy, b. Giảng bằng phủ định, từ chối là không và phủ định hai lần là xác định tuyệt đối. c. Giảng bằng biểu tượng, đưa câu chuyện cánh hoa sen hay viên ngọc trong túi người ăn mày để biểu tượng hoá ý nghĩa sâu xa của kinh. Phương cách thứ ba này là kinh Pháp Hoa. Có nhiều biểu tượng nhưng nổi bật nhất là cánh hoa sen là biểu tượng kinh Pháp Hoa.
10/02/2021(Xem: 14082)
Long Khánh là một thị xã ven Đô, Phật giáo tuy không sung túc như các Tỉnh miền Trung Nam bộ, nhưng sớm có những ngôi chùa khang trang trước 1975, do một số chư Tăng miền Trung khai sơn lập địa. Hiện nay Long Khánh có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Hiển Mật hay còn gọi là chùa Ruộng Lớn tọa lạc tại Thị xã Long Khánh, chùa Huyền Trang, tọa lạc tại ấp Bàu Cối, xã Bảo Quang,.…Nhưng điều đáng nói là một ngôi Tam Bảo hình thành trong vòng 5 năm,khá bề thế. Qua tổng thể kiến trúc và xây dựng, không ai ngờ hoàn hảo trong thời gian cực ngắn, đó là Tịnh xá Ngọc Xuân, do sư Giác Đăng,đệ tử HT Giác Hà, hệ phái Khất sĩ, thuộc giáo đoàn 5 của Đức thầy Lý.
08/02/2021(Xem: 10063)
Hình ảnh con trâu tượng trưng cho tâm ý của chúng sinh. Mỗi người ai cũng đều có một con “trâu tâm" của riêng mình. Và cứ như thế pháp chăn trâu được nhiều người sử dụng, vừa tự mình chăn vừa dạy kẻ khác chăn. Vào cuối thế kỷ mười ba, thời nhà Trần, trong THIỀN MÔN VIÊT NAM xuất hiện một nhân vật kiệt xuất. Đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Tung, ông là một thiền sư đắc đạo. Ông là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền và có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử này.
08/02/2021(Xem: 6829)
Sau khi đạt được Giác ngộ, Đức Phật nêu lên Bốn Sự Thật và sự thật thứ nhất là "Khổ đau". Khổ đau ẩn chứa trong thân xác, bàng bạc trong tâm thức của mỗi cá thể con người và bùng ra cùng khắp trong thế giới: bịnh tật, hận thù, ích kỷ, lường gạt, đại dịch, bom đạn, chiến tranh... Sự thật đó, khổ đau mang tính cách hiện sinh đó, thuộc bản chất của sự sống, gắn liền với sự vận hành của thế giới. Sự thật về khổ đau không phải là một "phán lệnh" hay một cái "đế", cũng không mang tính cách "kỳ diệu" gì cả, mà chỉ là một sự thật trần trụi, phản ảnh một khía cạnh vận hành của hiện thực.
07/02/2021(Xem: 8624)
Nhà thiền có danh từ Tọa Xuân Phong để diễn tả hạnh phúc khi thầy trò, đồng môn, được ngồi yên với nhau, không cần làm gì, nói gì mà như đang cho nhau rất đầy, rất đẹp. Danh từ đó, tạm dịch là “Ngồi Giữa Gió Xuân” Mùa Xuân chẳng phải là mùa tiêu biểu cho những gì hạnh phúc nhất trong bốn mùa ư? Hạ vàng nắng cháy, vui chơi hối hả như đàn ve sầu ca hát suốt mùa để cuối mùa kiệt lực! Thu êm ả hơn, nhưng nhìn mây xám giăng ngang, lá vàng lả tả, tâm- động nào mà không bùi ngùi tưởng tới kiếp nhân sinh?
07/02/2021(Xem: 8084)
Chú mục đồng chậm rãi bước xuống sông. Bên cạnh chú, con trâu lớn nhất đàn ngoan ngoãn xuống theo. Đôi mắt hiền lành của nó nhìn chú như mỉm cười, tin tưởng và thuần phục. Những con trâu bé hơn lại nhìn bước đi vững chãi, an lạc của con trâu đầu đàn mà nối nhau, cùng thong thả qua sông. Đây là khúc sông cạn mà chú đã dọ dẫm kỹ lắm. Đáy sông lại không có những đá nhọn lởm chởm có thể làm chân trâu bị thương. Bên kia sông, qua khu rừng có những cội bồ đề râm mát là tới đồng cỏ rộng. Mùa này, sau những cơn mưa, cỏ non vươn lên xanh mướt, đàn trâu gồm bẩy con mà chú có bổn phận chăm sóc tha hồ ăn uống no nê sau những giờ cực nhọc cầy bừa ngoài đồng lúa.
07/02/2021(Xem: 13351)
Khi những cơn bảo và áp thấp nhiệt đới hung hãn nhất vừa tạm qua đi, khí trời phương Nam cũng trở buồn se lạnh. Nhiều người cho đó là hoàn lưu của những cơn bão miền Trung mà tất cả con dân “bầu bí chung dàn” vẫn còn đang hướng về chia sẻ, nhưng ít người nhận ra rằng đó chính là cái se lạnh của mùa đông phương Nam, báo hiệu mùa xuân sắp đến nơi ngưỡng cửa của bộn bề lo toan hằng năm.
06/02/2021(Xem: 14208)
Mười bức “Tranh Chăn Trâu” trong phần này là của họa sư Nhật Bản Gyokusei Jikihara Sensei, vẽ vào năm 1982 nhân một cuộc thăm viếng thiền viện Zen Mountain Monastery ở Mount Tremper, New York, (Hoa Kỳ). Họa sư vẽ để tặng thiền viện. Các bài thơ tụng thời nguyên gốc của thiền sư Quách Am viết vào thế kỷ thứ 12. Thơ tụng được chuyển dịch ở đây bởi Kazuaki Tanahashi và John Daido Loori, sau đó được nhuận sắc bởi Daido Loori để mong tạo lập ra những hình ảnh và ẩn dụ cho thêm giống với phong cảnh núi sông ở quanh thiền viện Zen Mountain Monastery. Thiền sư Daido Loori là người lãnh đạo tinh thần và là tu viện trưởng của thiền viện này.
04/02/2021(Xem: 13142)
Hôm qua mình có giới thiệu cuốn sách Buddhism in America (Phật Giáo Mỹ) của Richard Hughes Seager. Có bạn hỏi thêm muốn tìm hiểu Phật Giáo Mỹ nên nhờ mình giới thiệu vài cuốn. Nghĩ rằng đây là câu hỏi hay nên mình xin viết giới thiệu 7 cuốn sách để nhiều người lợi lạc. 1. Cuốn The Faces of Buddhism in America (Diện Mạo của Phật Giáo ở Mỹ) do Charles Prebish 2. Buddhist Faith in America (Đức Tin Phật Giáo ở Mỹ) tác giả Michael Burgan 3. Buddhism in America của Richard Huges Seager (1999, tái bản 2012) 4. Buddhism in America của Scott Mitchell 5. Altered Traits: Science Reveals How Meditation Changes Your Mind, Brain, and Body, 2017 6. A Mindful Nation: How a Simple Practice Can Help Us Reduce Stress, Improve Performance, and Recapture the American Spirit, 2012, 7: American Dharma: Buddhism Beyond Modernity
01/02/2021(Xem: 9157)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.