Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chuyến du lịch nhớ đời đến Tây Tạng

23/11/201209:28(Xem: 1350)
Chuyến du lịch nhớ đời đến Tây Tạng

CHUYẾN DU LỊCH NHỚ ĐỜI ĐẾN TÂY TẠNG

Nguyễn Văn Dũng

Đó là chuyến đi Tây Tạng của tôi và nhà thơ Văn Cầm Hải từ ngày 17/9 đến 25/9. Có nhiều cách đến Tây Tạng. Chúng tôi chọn con đường từ Hà Nội đi Nam Ninh, từ Nam Ninh bay sang Thành Đô, rồi từ Thành Đô bay lên Lhasa.

Lhasa là thủ phủ của Tây Tạng, là “thành phố của chư thiên”, ở độ cao 3.700m so với mặt nước biển, nghĩa là cao hơn nhiều so với ngọn Phanxipang của chúng ta. Các nhà địa chất quả quyết rằng, 40 triệu năm trước, Tây Tạng nằm sâu dưới đáy biển - Bán đảo Ấn Độ di chuyển đụng phải lục địa châu Á rồi dội lên thành cao nguyên Tây Tạng, trong đó có dãy Himalaya với ngọn Everest cao 8.848,2m, cao nhất thế giới, và hàng trăm ngọn núi khác cao trên 7.000m. Ngày nay trên cao nguyên Tây Tạng vẫn còn nhiều hồ nước mặn với đủ các loài hải sản. Ở chợ Barkhor, nơi các quầy mỹ nghệ, người ta bày bán nhiều vỏ ốc biển làm quà kỷ niệm. Không biết chúng là hậu duệ thứ bao nhiêu đời của cụ ốc tổ 40 triệu năm trước. Lên núi cao tìm cái chỉ có dưới biển sâu, đó là điều lạ lùng trong vô số những điều lạ lùng của vùng đất được mệnh danh là “Nóc nhà thế giới” này.

Đừng chờ đợi điều gì bạn từng gặp, Tây Tạng thuộc về một cảnh giới khác. Là vùng đất lạ lùng và huyền bí. Là nơi trời và đất gặp nhau. Mặt trời, mặt trăng cùng muôn ngàn tinh tú là bè bạn. Tây Tạng là cội nguồn của những con sông thiêng: Hằng Hà, Ấn Hà, Brahmaputre, Mekong, Hoàng Hà, Dương Tử... Đỉnh Ngân Sơn là trung tâm thế giới, là núi Tu di của cõi hồng trần.

Tây Tạng rộng gấp bốn lần diện tích Việt Nam. Đất trời mênh mông và tĩnh lặng đến nao lòng. Không gian Tây Tạng trong vắt và sâu thẳm, khiến mọi vật ta nhìn tưởng như rất gần mặc dù nó ở rất xa. Thiên nhiên Tây Tạng rực rỡ một thứ sắc màu thuần tuý và thanh tịnh trong suốt, nó đánh thức năng lực trực giác nơi mỗi con người. Tây Tạng, mây chỉ một màu trắng tinh khôi để cho mặt trời mặc sức tô điểm. Nước không bao giờ sôi tới 100 độ. Còn nắng thì vàng hươm và say đắm lạ lùng.

Tây Tạng có nhiều hồ lớn, thiêng liêng và đẹp vào hàng đệ nhất thiên hạ. Như hồ Namtso, ở độ cao 4.718m. Sự tĩnh lặng tuyệt đối và vẻ diệu kỳ của nó không thể nói nên lời. Sông Tsangpo bắt nguồn từ Ngân Sơn, chảy từ tây sang đông dọc theo Himalaya, rồi đổ ra vịnh Bengale trước khi hào phóng trích một phần sinh khí cho ba con sông lớn Hoàng Hà, Dương Tử, Cửu Long.

Ai từng đi qua đoạn đường khoảng 500km từ Lhasa đến Shigatse (thành phố lớn thứ 2 của Tây Tạng) hẳn thấy rằng đó là con đường hùng vĩ và hiểm nguy nhất trong đời. Có lẽ vì vậy mà người ta chỉ đi một lần. Lần trở lại Lhasa chúng tôi đi dọc theo sông Yarlung Tsangpo. Từ cội nguồn, sông không màu mè, làm dáng làm duyên. Sông, đục màu đất đen, chảy xiết như để kịp mang sinh khí tài bồi cho một nơi nào đó. Hoá ra cũng như con người, để có dòng nước mát lành hoà thân vào biển cả, sông cũng phải tự mình rèn giũa, chắt lọc, gạn đục khơi trong. Bên phải chúng tôi, sông Tsangpo khi gần, khi xa, khi ẩn sâu dưới tầng tầng vực thẳm chỉ còn như một dải lụa đào.

Tây Tạng có một nền văn hóa độc đáo và thâm hậu, trong đó Phật giáo đóng vai trò chủ đạo. Nhưng Phật giáo Tây Tạng không còn là Phật giáo Ấn Độ, cũng chẳng phải Phật giáo Trung quốc, mà là thứ Phật giáo đặc trưng của Tây Tạng, vừa đầy tính lý luận khúc chiết vừa đầy tính mật tông ảo diệu. Tây Tạng có đến 16.000 tu viện lớn nhỏ. Jokhang là tu viện thiêng liêng và nổi tiếng nhất, nằm ở trung tâm Lhasa. Ở đây có bức tượng Jowo Rinpoche - tượng Phật Thích ca Mâu ni thời trai trẻ. Đó là bức tượng tuyệt vời nhất mà khả năng con người có thể làm nên. Các Lạt ma khi đăng quang đều được tổ chức ở ngôi đền này. Hàng ngày, hàng chục nghìn người dân Tây Tạng từ khắp nơi trên đất nước mênh mông đổ về đây chiêm bái. Họ lạy: chắp tay khỏi đầu, trán, cằm, ngực rồi nằm dài xuống đất, thành kính và khiêm nhẫn. Không biết họ cầu nguyện điều gì? Cho họ, cho người thân, hay cho đất nước họ? Cách không xa Jokhang về hướng tây là điện Potala. Đây là điện thờ vĩ đại nhất Tây Tạng, cao 120m, ngang 360m, tổng diện tích 360.000m2, 13 tầng, 999 phòng, mái mạ vàng. Là nơi đặt bảo tháp chứa di cốt các vị Lạt ma. Là trung tâm lãnh đạo tôn giáo và chính trị trong suốt 400 năm. Potala là kho tàng nghệ thuật tôn giáo, và là nơi cất giữ không kể xiết những tranh tượng, kinh sách vô giá của Phật giáo Tây Tạng.

Dân Tây Tạng rất sùng đạo. Đối với họ sống là để phục vụ đạo pháp, đời sống vật chất là phương tiện để vươn tới đỉnh cao tâm linh. Còn cái chết chỉ là đánh dấu một giai đoạn trong vòng sinh tử miên viễn. Tây Tạng là quê hương của những bậc thánh nhân, những vị bồ tát, những đạo sĩ sống cô tịch và độc cư nơi rừng sâu núi thẳm để tu tập thiền định. Trong những người ta gặp trên đường phố: anh phu xe, chị quét rác, lão ăn xin... rất có thể một vị bồ tát nào đó đã hoá thân sống cuộc đời bình thường giữa thế gian mà ta không hay. Ý nghĩ ấy làm trái tim ta bừng sáng và dậy lên một niềm hạnh phúc không ngờ.

Nhưng, ấn tượng nhớ đời về chuyến đi lại thuộc về một khía cạnh khác: tổ chức. Mãi khi đến Thành Đô, chúng tôi mới được thông báo: lên Tây Tạng, áp suất thấp, không khí loãng, dưỡng khí thiếu, lượng oxy trong não thiếu, bởi vậy cấm vận động tay chân không cần thiết, cấm ăn no, tuyệt đối cấm tắm và gội đầu; cấm những người mắc bệnh phổi, tim, gan, áp huyết, các bệnh đường hô hấp... người thông dịch còn nói nhỏ với tôi, và “không trên tuổi 40”. Vậy là tôi vướng cả hai, vừa áp huyết cao vừa thừa đến 24 tuổi.

Đoàn chúng tôi gồm 24 người, kể cả hướng dẫn viên và người thông dịch. Tất cả đều người Trung Quốc, trừ hai chúng tôi. Anh chàng thông dịch khỏe mạnh, vui vẻ, sốt sắng, nhưng chỉ trọ trẹ một ít tiếng Việt và không biết gì về Tây Tạng. (Sau mới hay, trong công ty những người nói sõi tiếng Việt và hiểu biết về Tây Tạng không ai đủ sức khỏe chịu đựng khí hậu khắc nghiệt trên cao nguyên này). Thế là suốt một tuần ở Tây Tạng, chúng tôi sinh hoạt, ăn, ở theo chế độ của người Trung Quốc. Điều này dẫn đến một trở ngại khác: Trong tình trạng nhức đầu, khó thở, mất ngủ, buồn nôn, do ảnh hưởng của “độ cao”, chúng tôi không sao nuốt nổi đống thức ăn thấm đẫm mỡ, chất sốt lầy nhầy, và “mùi Tàu” kinh dị. Thường mỗi ngày, chúng tôi chỉ ăn được chén cháo trắng là một trong những món có trên bàn ăn sáng của họ.
Chúng tôi đã trải qua những ngày ở Tây Tạng mà nay mỗi lần nhớ lại vừa vui vui, vừa tự hào, vừa thấy như vẫn còn run. Tôi có một bài học từ chuyến đi đầy ấn tượng ấy: Phải có đủ sức
khỏe, chỉ đi với tour tổ chức cho đoàn Việt Nam (hướng dẫn tiếng Việt, ăn ở theo chế độ người Việt), và với tâm thức của một kẻ hành hương chứ không là một khách du lịch quen tìm sự hưởng thụ dễ dãi.

Nguyễn Văn Dũng
Huế, 10/2003

Source: thuvienhoasen
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/01/201911:57(Xem: 572)
Có những kỷ niệm ta tưởng đã được cất giấu tận đáy sâu tâm hồn và sẽ phải mờ theo thời gian, theo sự đổi thay, sự trưởng thành của ta , nhưng không .....nó không hoàn toàn mất đi ...mà thật ra vẫn tồn tại trong cơ thể ta qua những hình thức vật lý hay khuôn mẫu mà ta ứng xữ và đó cũng chính là nguyên tắc mà tôi đã học về nghiệp ....hay nói đúng hơn là những trải nghiệm trong cuộc đời ....
15/01/201922:01(Xem: 1319)
“Một nữ cư sĩ đến gặp vị thầy trụ trì và nói: "Bạch Thầy, Con không đi chùa nữa!" Vị Thầy hỏi: – Vậy à, Đạo hữu có thể cho thầy biết lý do không?
14/01/201920:24(Xem: 330)
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - (phần 13) vài nhận xét về cách dùng tên bộ phận cơ thể ở phía dưới như lòng, bụng, dạ, ruột[1] cho đến vật âm mình! Nguyễn Cung Thông[2] Phần này bàn về một số cách dùng trong tiếng Việt như lòng, bụng, dạ, ruột thời các LM Alexandre de Rhodes và Jeronimo Maiorica sang An Nam truyền đạo. Đây là những ‘cầu nối’ để có thể giải thích một số cách dùng hiện đại. Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đôn Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false .
14/01/201919:40(Xem: 351)
Bài này là phần 4 trong loạt bài viết về hiện tượng đồng hóa âm thanh trong ngôn ngữ với tâm điểm là tiếng Việt. Phần 1 bàn về khuynh hướng đồng hoá âm thanh (phụ âm) qua các cách dùng ròng rọc < rọc rọc, phưng phức < phức phức, nơm nớp < nớp nớp, phấp phất/phất phới/phân phất < phất phất và khám bệnh < khán bệnh. Phần 2 bàn về khuynh hướng đồng hoá âm thanh (thanh điệu) qua các cách dùng Huyền Trang < Huyền Tảng/Tráng, Tịnh Độ < Tịnh Thổ. Phần 3 chú trọng vào cách dùng tẩm liệm so với tấn/ tẫn/tẩn liệm qua khuynh hướng đồng hoá âm thanh (phụ âm) như khán bệnh > khám bệnh. Bài này (phần 4) bàn về các dạng phong thanh (phong thinh), phong phanh và phong văn.
11/01/201915:05(Xem: 504)
Trước khi bàn về ma, chúng ta thử định nghĩa xem “ma” là gì. Thông thường, ma là người đã chết hay người chết. Đang sống thì là người. Nhưng vừa chết một cái đã thành ma, thây ma. Chính vì thế đám ma là nghi thức hoặc tục lệ để khóc than, để tang, thăm viếng, tiễn đưa hoặc chôn cất, hỏa thiêu người chết.
11/01/201911:39(Xem: 373)
Sống chung với nghịch cảnh, đương đầu với chướng duyên, gẫm ra đó cũng chính là một pháp môn tu trong tám vạn bốn ngàn pháp môn của Đức Phật truyền dạy. Người đã tu học theo Pháp Phật thì chẳng còn lạ gì chuyện “sống chung” và “đương đầu” này! Nhờ chướng duyên mà ta mới thấm thía được lý nhân quả. Nhờ nghịch cảnh mà ta mới nhận thấy rõ vô thường.
09/01/201921:25(Xem: 497)
HƯƠNG NHẠC ĐẠI NGÀN Ngàn mùi hương, chỉ có hương giới hạnh mới bay ngược làn gió; vạn âm ba, gió rít đại ngàn hay sóng âm biển khơi mới tồn tại miên trường. Âm nhạc đời thường chỉ là cơn sóng xô giạt tiếp nối theo từng thời đại, có lúc chìm lặng lãng quên, có lúc mơ hồ thổn thức.
09/01/201920:38(Xem: 234)
Thơ Báo Ơn Khóa Tu Báo Ơn năm nay Chúng con tu tập những ngày mùa đông Tại Chùa Tam Bảo ấm nồng Pháp thoại chia sẻ với lòng lạc an
09/01/201906:16(Xem: 552)
Ngày 26/10/2018, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã rời Làng Mai Thái Lan về Đà Nẵng. Hai ngày sau, chiều 28/10, Thầy đã về chùa tổ Từ Hiếu trong sự chào đón của các học trò cũng như tăng ni, Phật tử ở Huế. Chuyện này thì ai cũng biết và các báo đài đã đưa tin rất nhiều.
08/01/201920:57(Xem: 622)
Trong thời gian gần đây trên các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội đã bàn tán xôn xao đến cuộc Cách mạng Công nghiệp lần Thứ tư (CC4) và đưa ra nhiều ý kiến là Việt Nam cần phải hành động để đón đầu cuộc CC41. Trước những thách thức mới ấy, trong lãnh vực giáo dục và đào tạo, Việt Nam cần có những kiến thức và kỹ năng gì để có thể đáp ứng nhu cầu lao động trong thời kỳ CC4?