Tâm và tướng

25/09/201201:43(Xem: 10167)
Tâm và tướng
TÂM VÀ TƯỚNG
Thành Văn

tamvatuong-thanhvanTheo triết lý nhà Phật, Tâm là chủ thể tạo tác ra mọi thứ (Vạn pháp do tâm tạo), trong đó có tướng. Tâm là nhân mà pháp là quả. Quả có quả lành, quả ác do bởi tâm lành ác sinh ra. Tu là sửa cái tâm; tức cái nhân để có thể nhận được quả theo ý muốn.

Để cái tâm chạy theo trần cấu nhiều đời nhiều kiếp thành thói quen, thành nghiệp. Nghiệp sẽ lôi kéo chúng sanh đi theo con đường mòn nó đã vạch ra, không có gì cưỡng lại được.

Vấn đề rất sâu rộng. Ở đây người viết chỉ dám bàn lướt qua mối tương quan nhân/ quả giữa tâm và tướng.

Trong dân gian quần chúng sáng tác ra rất nhiều truyện ảnh hưởng đậm nét của tinh thần Phật giáo. Một trong những câu chuyện đó người viết được nghe kể như sau:

Xưa, có một chàng nho sinh nhà nghèo lắm, không có tiền mua dầu thắp để học đêm. Mỗi tối chàng đều phải đến ngôi chùa gần nhà để xin sư cụ cho học nhờ dưới ánh sáng của những ngọn đền dầu trong chùa. Nhà nghèo, biết thân phận nên anh học trò sống rất khiêm cung, lễ phép với mọi người. Chàng cố công dùi mài kinh sử mong đến ngày lai kinh ứng thí, đỗ đạt ra làm quan để trước ấm cái thân, sau là mở mày mở mặt với họ hàng làng nước

Trên con đường lên chùa, hàng ngày nho sinh phải đi ngang qua một cái miễu thổ thần, trước miễu có pho tượng nhỏ bằng đất nung. Pho tượng cũng mũ mãng cân đai, được đặt ngồi trên một bệ đá.

Nhiều năm trời như vậy, anh chàng chăm chỉ học hành. Một hôm khi vừa đi ngang qua miễu chàng ngạc nhiên thấy pho tượng bỗng nhiên đứng dậy, nghiêng người chào mình. Chàng ngạc nhiên lắm, bèn dừng chân lên tiếng lễ phép hỏi tượng:

- Tôi là gã nho sinh nhà nghèo, cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ lành. Hàng ngày phải lên chùa nhờ ánh đèn dầu nơi cửa Phật để dùi mài kinh sử. Bấy lâu nay đi ngang đây đều có nghiêng mình chào thần. Nay sao bỗng nhiên thần đứng dậy như chiều thi lễ là tại lý do làm sao?

Tượng đất vẫn đứng vừa lên tiếng:

- Tôi vốn là thổ địa ở đây, hàng ngày chứng kiến ông qua lại. Trước đây thấy ông là nho sinh, tướng nghèo hèn, bần bạc. Lúc sau này bỗng tướng đổi khác. Tuy vẫn quần manh, áo vá, ốm yếu xanh xao, nhưng vẻ mặt và dáng đi đã lộ ra cách quyền quý giàu có. Tôi tra sổ thiên đình, thấy ông được thượng đế cho đỗ trạng nguyên kỳ này. Ông sẽ xuất chính làm quan to, cai quản cả vùng này. Tôi là thổ địa ở đây tất dưới quyền cai quản của ông, nên đứng dậy chào ông là vì thế.

Sinh nghe thổ địa nói thế lòng mừng khấp khởi. Ít lâu sau chàng đâm chểnh mảng chuyện học hành. Hàng ngày vẫn đến chùa xin học nhờ, nhưng đi trễ về sớm, không chuyên cần như xưa. Trước đây tính tình khiêm cung. Ai nói phải quấy gì cũng vâng dạ, kính già yêu trẻ. Nay, nghĩ mình sắp trở thành giai cấp cha mẹ dân (dân chi phụ mẫu), nên cử chỉ thái độ thường tỏ ra khinh bạc. Không vừa lòng ai điều gì thường buông ra lời đe dọa.

Thời gian cứ thế trôi. Gần đến ngày triều đình mở khoa thi, nho sinh mừng thầm trong bụng ngày vinh hiển sắp đến. Thi đỗ ra làm quan, tha hồ võng lọng, vợ đẹp con xinh, của cải do dân đút lót chất đầy kho tha hồ ăn xài.

Lòng nghĩ thế, nên tuy vẫn hàng ngày ôm sách lên chùa học nhờ, nhưng mặt mày trở nên vênh váo, mắt chỉ nhìn lên, nên không để ý thấy tượng thổ địa vẫn chỉ ngồi im, không còn đứng dây chào khi thấy sinh đi ngang qua nữa.

Kịp gần đến ngày lên đường lai kinh ứng thí, một bữa đi ngang qua miễu sinh chợt để ý thấy chuyện thay đổi ấy nơi thổ địa, bèn lên tiếng hỏi:

- Trước ta đi ngang qua tượng vẫn đứng dậy chào. Nay sao lơ là, không chào nữa, là cớ làm sao?

Tượng vẫn ngồi, từ tốn trả lời: - Trước đây ông chăm chỉ học hành, lòng dạ khiêm cung, biết kính trên nhường dưới, nên cảm động đến trời. Thượng đế cho ghi tên ông vào bảng vàng, thi đỗ làm quan. Nay ông đổi tính, tâm địa ngạo mạn, bỏ bê học hành, thượng đế giận, ngài đã cho xóa tên ông trong bảng vàng rồi. Ông vẫn là bần sĩ, sao tôi lại phải chào ông?

Nho sinh nghe xong, mặt mày biến sắc, nhưng biết đã quá trễ. Kỳ thi ấy sinh cũng lều chõng đi thi, nhưng chẳng đỗ đạt gì.

Trong dân gian từ đó mới có câu “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”. Vẫn chàng nho sinh ấy, nhưng tướng thay đổi theo tâm. Tâm lành sanh tướng tốt. Tâm ác hiện tướng xấu là thế. Sách cũng có câu: “Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sinh. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt” (Có tâm không tướng, tướng tự tâm mà sinh. Có tướng, nhưng không có tâm, tướng sẽ theo tâm mà diệt đi).

Trên đất Mỹ, ở một số nơi như thư viện, trường học, hội quán… người ta thấy có trưng bày những câu châm ngôn thế này:

Watch your thoughts, they become words.

Watch your words, they become actions.

Watch your actions, they become habits.

Watch your habits, they become character,

Watch your character, it becomes your destiny.

(Tạm dịch: Hãy canh chừng những tư tưởng của bạn/ Nó sẽ trở thành lời nói. Hãy canh chừng lời nói/ Chúng sẽ phát ra thành hành động. Hãy canh chừng hành động/ Chúng sẽ thành thói quen. Hãy canh chừng thói quen của bạn/ Chúng sẽ tạo nên nhân cách. Hãy coi chừng nhân cách bạn/ Nó sẽ trở thành số mệnh của bạn đấy.)

Bên dưới ghi tên tác giả là Frank Outlaw. Tuy nhiên nhiều người cho rằng nguồn gốc câu ấy không rõ ràng. Có người bảo câu ấy là của Thánh Gandhi.

Cho dù ai nói thì những phát biểu trên cũng phù hợp với quan niệm “Vạn pháp do tâm” của Phật giáo. Cái người ta gọi là số mệnh chẳng phải do một Thượng đế hay ông trời nào áp đặt, nó hình thành từ chính tư tưởng chúng ta.

Ở đây sẽ bàn về hai phương diện: tâm linh và khoa tâm lý học.

Người học Phật, không ai là không biết, một trong những luận đề cơ bản vị bổn sư là đức Phật cho đến các tổ sau này đều dạy tín đồ rằng “tâm là gốc của vạn pháp” (vạn pháp do tâm tạo). Các pháp khởi sinh, biến hóa, lành dữ đều do tâm. Người tu hành, trước hết là tu tâm. Sửa chữa, uốn nắn ngay từ cái tâm. Khi cái tâm đã ngay chính, mọi pháp theo sau sẽ trở nên ngay chính, trong đó có hình tướng.

Đức Phật, bậc đại giác đã hoàn toàn làm chủ tâm. Ngài đã tu tập trong nhiều kiếp, gột rửa tâm trở nên hoàn toàn trong sạch, nên trong kinh sách mô tả Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Những tướng tốt, vẻ đẹp của Phật là gì người theo Phật đã biết. Tựu trung đó là những nét thánh thiện, tốt lành gây nên lòng kính ngưỡng, mến mộ nơi kẻ nhìn. Đấy là một sắc tướng hoàn hảo theo một quan niệm nào đó của thế gian tương đối. Thực tế, khi đạt quả vị Phật, Đức Thế tôn đã vượt thoát ra khỏi mọi pháp thế gian. Ta thường nói “không thể nghĩ bàn”.

Cho nên nói “Phật có đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp” cũng chỉ là cách nói ước lệ nhằm thỏa mãn sự ngưỡng vọng của người phàm phu chúng ta đối với bậc giác ngộ mà thôi. Chứ Phật đã nhập Niết bàn, tức chân lý tuyệt đối, vượt khỏi sự phân biệt, đối đãi nhị nguyên. Nên làm gì còn có đến 32 tướng, 80 vẻ dáng khác nhau?

Đến chùa chiền của những quốc gia khác nhau chúng ta thấy hình dáng vẻ mặt các pho tượng Phật cũng khác nhau. Người nước nào thì tạc tượng mang vẻ mặt người nước đó. Tượng Phật ở Thái Lan có khuôn mặt của người Thái. Tượng Phật ở Trung Hoa có vẻ mặt người Trung hoa. Phật ở Nhật Bản, ở Đại Hàn, ở Việt Nam đều có vẻ mặt khác nhau, mang đường nét của người nam nước ấy.

Từ đức Phật đầu tiên là người Ấn Độ, khi Phật giáo truyền qua các nước khác, nhân dạng ngài cũng đổi theo, trở thành người của nước khác.

Sau này giả sử đạo Phật trở nên thịnh hành ở Âu Mỹ, các tượng Phật sẽ có nét mặt của người Âu Mỹ. Tướng Phật theo tâm chúng sanh mà thành hình. Chùa chiền cũng vậy. Trang phục người tu sĩ và hàng phật tử cũng thế, đều theo tâm mà biến hiện.

Nói theo khoa tâm lý học, tư tưởng mỗi con người dự phần rất lớn tạo ra hình tướng của chính cá nhân con người ấy. Có những đứa bé khi còn nhỏ rất xinh đẹp, khi lớn lên mặt mũi, hình dáng thay đổi, không còn đẹp nữa, do bởi hoàn cảnh sống thay đổi. Những va chạm trong đời sống tạo nên trạng thái tâm lý thích ứng với hoàn cảnh. Do tâm địa, do nghề nghiệp mà những đường nét trên khuôn mặt, trong phong thái cử chỉ mà tạo thành tướng trạng.

Khoa bói toán, xem tướng chẳng qua cũng dựa trên những kinh nghiệm nhiều đời đúc kết lại để diễn giải dựa trên các quy luật về tâm lý.

Trong các truyện cổ tích và sau này truyện đem vào phim ảnh, các mụ phù thủy đều mang một nhân dáng và khuôn mặt xấu xí đanh ác: thân thể gầy gò, lưng còng, mặt mũi xương xẩu, má hóp, mũi như sống dao, khoằm xuống như mỏ diều hâu, đôi mắt lộ, tóc tai bơ phờ…Dĩ nhiên hình ảnh bà phù thủy được mô tả trong phim, truyện đều đã được người nghệ sĩ sáng tạo ra cố tình làm nổi bật cái tâm độc ác của mụ.

Trong thực tế, những kẻ mang tâm địa độc ác dù không đến nỗi luôn luôn phải mang bộ mặt xấu xí, nhưng trên nét mặt những hạng người ấy vẫn để lộ những nét hung dữ. Kẻ ác trong đầu họ thường suy nghĩ căng thẳng những mưu kế hại người. Tâm lý thù hằn ảnh hưởng trên các tuyến nội tiết và cơ thể họ thường xuyên tiết ra các độc tố, tràn vào trong máu, khiến sắc mặt họ thường u hãm, chứ không được tươi nhuận. Mắt nhìn thường đổ hào quang sắc lạnh. Kẻ khác nhìn vào có cảm giác ớn sợ.

Ngược lại, một người có tâm địa hiền lương, thường nghĩ đến điều lành, họ có tâm lý thoải mãi thư giãn, các cơ bắp, nhất là các cơ vùng mặt không ở trong trạng thái co thắt, nên khuôn mặt họ thường đầy đặn, sắc mặt tươi tắn, nhìn tự nhiên ta có cảm tình. Đối với nữ giới, có thể họ không đẹp, nhưng vẫn ưa nhìn. Ta gọi là có duyên. Phụ nữ có duyên, mặt mũi phúc hậu, khi lập gia đình họ thường có cuộc sống bình lặng hạnh phúc, ít gặp trắc trở bất hạnh trong hôn nhân.

Ngày nay khoa học tiến bộ, con người có tham vọng làm chủ mọi thứ bằng khoa học. Khoa giải phẫu thẩm mỹ có thể sửa chữa một số khuyết tật trên thân thể con người và quả thật nó đã đạt được một số thành quả. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy những kết quả đạt được rất hạn chế. Những bộ phận thân thể được cắt xén, tỉa gọt, căng kéo không duy trì được hình dáng tự nhiên và lâu dài. Nó thường để lại những di chứng và khi hết tác dụng nó trở thành thảm họa như nhăn nhúm, chảy xệ, biến dạng…cho chủ nhân chúng. Điều này rất dễ nhận thấy.

Trong khi đó, những người áp dụng phương pháp tu dưỡng nhằm sửa chữa cái phần tâm linh như thiền, yoga lại có thể đạt được kết quả khả quan và lâu dài hơn nhiều. Người ta thấy có những phụ nữ ở tuổi thất tuần, nhưng cử chỉ vẫn linh hoạt, khuôn mặt vẫn gọn ghẽ xinh xắn mịn màng như tuổi 50. Đó là sự thật. Tuy nhiên, nhiều khi con người ta không đủ tin tưởng và kiên nhẫn để thực hành. Hơn nữa sẵn tiền bạc, họ đi đến các thẩm mỹ viện cho nhanh và tiện.

Trong văn hóa dân gian của Việt Nam cũng như một số các quốc gia Á châu khác, người ta có phong tục khi người phụ nữ mang thai, gia đình thường chọn những hình vẽ những đứa bé xinh đẹp bụ bẫm để treo trong phòng người mẹ. Nếu người mẹ thực sự không làm nghề gì xấu ác và có tâm địa hiền hậu, thường họ sẽ sinh được những đứa con đẹp đẽ gần giống trong tranh vẽ.

Chính tâm lý (tâm) của người mẹ mang thai sẽ tạo thành hình tướng (tướng) đứa con qua những biến đổi bí mật trong từng tế bào của cơ thể họ.

Người ta còn tránh không để cho thai phụ phải chứng kiến chuyện dữ, phải nghe những lời ác. Sự hiểu biết về tâm lý trong văn hóa Việt Nam như vậy không hề kém so với những kiến thức về tâm lý học hiện đại.

Ngoài ra, trong dân gian còn có những hiện tượng đôi khi khó giải thích, nhưng qua chiêm nghiệm, người ta vẫn phải tin là có thật. Chẳng hạn như người làm nghề đồ tể giết heo nhiều năm thường có khuôn mặt phảng phất như mặt heo. Người ta cho rằng chính sự ám ảnh tâm lý trong một thời gian dài đã tạo ra những đường nét trên khuôn mặt người đồ tể. Những người chuyên làm thịt chó bán cũng thường mang bộ mặt hao hao giống loài vật họ giết. Rõ rệt nhất là những người làm nghề giết chó bán thịt đi đến đâu là chó sủa ran đến đó. Khi họ xuật hiện nhiều con chó bỗng nhiên sợ hãi quíu cả chân, đuôi cụp xuống, sủa không thành tiếng.

Các vị chân tu đạo hạnh cao cả, công đức sâu dày, nhiều khi sống rất âm thầm, ẩn dật, không hề có quyền chức địa vị, họ ăn mặc đơn sơ giản dị, nhưng người phàm phu khi được diện kiến bỗng nẩy sinh lòng tôn kính, mến mộ. Dường như xung quanh họ tỏa ra một lớp sóng từ rất lạ khiến người khác cảm thấy an lạc, dễ chịu. Những người như vậy không nhất thiết phải là những chức sắc có địa vị cao trong các giáo hội. Có thể họ chỉ là một bà lão bình thường, như Mẹ Théresa chẳng hạn hay sư cụ ở một ngôi chùa hẻo lánh ít ai lui tới. Chuyện về các thánh tăng thì vô số. Nhưng trong đời sống ai may mắn mới có duyên được diện kiến một vị chân tu./.

Thành Văn

Aug., 2012

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/06/2025(Xem: 3988)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: thấy được cái không được thấy, nghe được cái không được nghe. Trong sách này, gọi ý chỉ đó là Tiếng Không Thành – viết theo âm Hán-Việt là Bất Quả Thanh.
07/06/2025(Xem: 5306)
Trưới tiên chúng tôi xin nhắc lại niêm luật thơ 8 hoặc 9 chữ để quý vị nhớ và không khó chịu khi đọc những đọan thơ lạc vần.
04/06/2025(Xem: 3431)
Dòng đời xưa nay vẫn thế, từng đời từng đời nối tiếp nhau, thịnh suy bất định, tụ tán vô kỳ. Kiếp người ở thế gian này trong vòng trăm năm, tuy nhiên thật sự “sống” chỉ vài mươi năm, còn lại phần lớn là thời gian của tượng hình, trẻ nít, bệnh tật, già nua… Có không ít người càng kéo dài tuổi thọ lại càng đau khổ: Đau khổ vì thể xác và cả tinh thần, sống không xong chết không được. Kiếp người ở thế gian này buồn vui lẫn lộn nhưng phần nhiều là buồn hơn vui. Suốt trăm năm ấy sum họp và chia ly cũng khó ai biết trước, sinh ly tử biệt là nỗi đoạn trường ai cũng phải qua. Muốn không được mà không muốn cũng không xong.
04/06/2025(Xem: 3845)
Hôm 02/06/2025, chư Tôn đức Tăng Ni giáo phẩm GHPGVN Đà Nẵng, những đại diện lãnh đạo địa phương, đông đảo quý Phật tử và người dân hành lễ cung tiễn xá lợi Phật trong không khí trang nghiêm và tôn kính . Hàng ngàn Phật tử mặc đồng phục, pháp phục đứng hai bên đường bùi ngùi xúc động cung tiễn xá lợi Phật đến tận sây bay quốc tế Đà Nẵng ‘trở về’ quê hương Ấn Độ, nơi Đức Phật thị hiện đản sanh, giác ngộ, niết bàn, để lại cho đời vô số xá lợi và 84000 pháp môn, chỉ đường dẫn lối cho chúng sanh những cách sống an lạc, hạnh phúc, sống từ bi hỷ xả, được chơn lạc, nhơn thiên, niết bàn.
04/06/2025(Xem: 4953)
- Tu là tập cho mình thói quen quan sát lại chính mình. Cảm xúc đến rồi đi như những con sóng xô bờ. Khi tỉnh thức, bạn sẽ hiểu chúng đến từ đâu và nhận ra bản chất vô thường của các ý nghĩ cảm xúc và cả sự vô thường của vạn pháp. Nếu đang buồn chán, bạn không cần phải bám chặt lấy cảm xúc ấy mà hãy đơn giản để nó trôi đi. Cứ để cảm xúc phát khởi, sinh diệt một cách tự nhiên, bạn không can đè nén nó theo cách này hay cách khác.
02/06/2025(Xem: 4672)
Hàng năm vào tháng 4 âm lịch hoa sen bắt đầu nở, những đóa hoa sen tỏa hương thơm báo hiệu mùa Phật Ɖản lại trở về với người con Phật. Hòa chung niềm vui với Phật tử khắp năm châu, ngày chủ nhật 11 tháng 5 năm 2025 vừa qua, chùa Vạn Hạnh đã tổ chức Ɖại lễ Phật Ɖản Phật lịch 2569 để Phật tử và đồng hương về chùa cùng nhau cung kính đón mừng sự xuất thế gian của Ɖức Thích Ca.
02/06/2025(Xem: 4595)
Vô-sanh là đặc điểm của Phật-giáo, là ách yếu của Phật-pháp, hiểu được vô-sanh là hiểu Phật-pháp, tu theo vô-sanh là tu chánh-dạo, chứng được vố-sanh là chứng thánh-quả; vậy cái pháp vô-sanh là thế nào, điều ấy chúng ta cần phải nghiên-cứu.
01/06/2025(Xem: 25488)
Trong cuộc sống, việc bất bình thường không phải ít; có khi bị thần kinh, có khi bị ảo giác, hay hoang tưởng, có khi bị chấn thương đưa đến bất thường, có lúc tu tập không có Minh sư hướng dẫn, hành giả không đọc kỹ kinh Lăng Nghiêm… Cũng có khi sở đắc một khía cạnh nào đó rồi cứ ngỡ là toàn giác.aĐại hội lần thứ 11 của Hội Đồng Tăng Già Phật giáo Thế Giới được tổ chức tại Auckland, New Zealand từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 3 năm 2024, được tổ chức bởi Tu viện Quán Âm và đồng tổ chức bởi Chùa Từ Minh, Chùa Phổ Hiền và Chùa Pháp Tựu. Về tham dự Đại Hội kỳ 11 này có 497 đại biểu từ 28 quốc gia (bao gồm 239 thành viên chính thức, 115 quan sát viên xuất gia và 143 quan sát viên tại gia). Với chủ đề “Trở về thiên nhiên để cùng tồn tại hài hòa”, đại hội nhắm đến việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo và bảo tồn môi trường, đồng thời kêu gọi quý Tăng Ni khắp nơi trên thế giới cùng chung tay giải quyết các vấn nạn môi sinh toàn cầu như vấn đề biến đổi khí hậu và thiệt hại về môi trường sinh thá
30/05/2025(Xem: 4200)
Công đức và trí huệ của Chư Phật là bất khả thuyết, bất khả luận, bất khả lượng, như lời Phật dạy trong Tăng Chi Bộ, Chương 4 Pháp: Cảnh giới của các Đức Phật là không thể nghĩ bàn, nếu bàn luận, tâm sẽ bị cuồng loạn.
30/05/2025(Xem: 5592)
Nhân mùa Phật đản, để bày tỏ chút lòng về quê hương nguồn cội, hội Từ thiện Bodhgaya Heart Foundation đã cùng Chùa Thiện Thệ do Ni Sư Tn Huệ Lạc trụ trì tổ chức một phát quà cho bà con nghèo, cơ nhỡ, bịnh tật... Xin tường trình cùng chư Tôn Đức và chư vị hảo tâm đã góp một bàn tay cho thiện sự này. (18 05 2025)