Bảy bước chân thánh

20/03/201216:41(Xem: 10223)
Bảy bước chân thánh
BẢY BƯỚC CHÂN THÁNH
Ngẫu Hồ

phatdansinh7hoasen-contentPhật tử chúng ta đến chùa thường hay bắt gặp hình cảnh một vị tiểu Phật cao khoảng 3 bộ, bụ bẫm, xinh đẹp, quấn ngang người một tấm vải từ vai xuống, giống như cách phục sức của một vị tăng, đứng trên một hoa sen đầu tiên và trước mặt là 6 đóa hoa sen giống như nhau, ngón trỏ tay phải chỉ lên trời, ngón trỏ tay trái chỉ xuống đất. Được biết có chùa đặt vị tiểu Phật ở hoa sen thứ bảy, sau lưng là 6 đóa hoa sen và cũng cùng một thế chỉ trời và đất như vậy.

Hình cảnh này bắt nguồn từ câu chuyện trong kho tàng văn học của Phật Giáo rằng, bà Hoàng Hậu Maya, vợ vua Tịnh Phạn, vào thời gian có mang Đức Phật ở những ngày sau cùng, một hôm đi dạo chơi với các tì nữ hầu cận trong vườn Thượng Uyển, thì bỗng trở dạ và sanh ngài luôn tại đây. Lúc vừa lọt qua lòng mẹ, thì ngài đứng luôn dạy, nhận khăn vải từ một tì nữ, tự quấn ngang người, rồi bước lên một hoa sen hiện ra từ mặt đất, rồi bước tới bông sen thứ hai cũng hiện ra ngay sau đó từ mặt đất, rồi bông sen thứ ba, cho đến bông sen thứ bảy thì ngừng lại và một ngón trỏ của bàn tay phải chỉ lên trời và ngón trỏ của bàn tay trái chỉ xuống đất, miệng thì thốt ra câu:

“Trên trời, dưới đất, chỉ có ta là tôn quý”

Đây là một câu chuyện gây tranh cãi cho phần lớn Phật tử tri thức, vì nó hoàn toàn mang tính huyền hoặc và nhất là nó mâu thuẫn với lịch sử của Phật Giáo. Lịch sử như chúng ta biết là ngài lúc 5 tuổi theo cha ra đồng để dự lễ Hạ Điền mà Hoàng Gia tổ chức cho nông dân vui chơi đầu mùa xuân, trước khi nông dân gieo mạ, lúc mọi người đang vui chơi, thì ngài tìm một bóng cây và ngồi theo thế thiền định. Ngài lớn lên trong sự quan tâm và giáo dục đặc biệt của vua cha và mẹ kế và cũng là dì ruột của mình, năm 19 tuổi thì lập gia đình, có một con trai tên là Aluha, năm 29 tuổi thì xuất gia, sau 6 năm trời tu khổ hạnh tìm chân lý, nhưng không thỏa ước nguyện, ngài đã quyết tâm tu thiền và ngài đã thành đạo năm ngài 35 tuổi, đến năm 80 tuổi thì ngài chấm dứt việc giáo hóa chúng sinh. Ngài truyền trao giáo đoàn lại cho vị cao tuổi nhất của ngài là ngài Đại Ca Diếp cùng với pháp tối thượng, rồi sau đó nhập diệt.

phat-dansinh-0012-thumbnailCâu chuyện lịch sử của Phật Thích Ca vừa mới tóm lược như trên và câu chuyện 7 bước với lời tuyên bố mang tính huyền thoại của ngài lúc vừa mới lọt lòng mẹ, nếu để đứng cạnh nhau, thì thật là mâu thuẫn, đến độ mang tính loại trừ, nghĩa là, nếu có chuyện này thì không thể có chuyện kia. Vì rõ ràng nếu ta chỉ tìm ý nghĩa ngay trên mặt chữ, thì câu chuyện bảy bước và lời tuyên bố đầy cao ngạo của một trẻ sơ sinh chỉ là chuyện hoang đường, mờ ảo, tuyệt nhiên không thể là một câu chuyện phát tích của một vị thày của toàn thể tri thức lúc đó và ngay cả bây giờ nữa. Phải chăng đây là một biểu tượng cho một thâm sâu vi diệu nào đó? Vậy ta thử chịu khó suy tư và đào sâu vào câu chuyện bảy bước này xem sao:

Này nhé, một vị tiểu Phật vừa mới ra đời cũng đồng nghĩa với một người xưa nay chưa từng tiếp xúc với Phật pháp, mà nay vì một duyên tình cờ nào đó, lại được gặp Phật pháp, và thấy rằng Phật pháp quả thật là có thể lý giải được những nghi ngờ, khúc mắc của ta trước đây, và ngay tại điểm này ta bùng vỡ một cái thấy, ý nghĩa rõ ràng, sau đó, ta tự nhủ rằng, từ nay sẽ xem Phật pháp là kim chỉ nam, là phương tiện thù thắng, để giải đáp cho ta những vấn đề thâm sâu hơn, thì cũng ngay tại điểm này, ta chính là một vị tiểu Phật vừa mới ra đời.

Nhưng là một vị tiểu Phật ra đời, không có nghĩa là ta thành quả vị Phật ngay đâu, mà ta phải học, và tu những Phật pháp từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó và sau cùng, ta phải đứng và bước đi được trên 7 hoa sen. Đây chính là cái thâm sâu của câu chuyện 7 bước hoa sen.

Phải chăng 7 hoa sen tượng trưng cho 7 thức sau khi đã được thanh tịnh hóa, đó là Tỉ, Thiệt, Nhãn, Nhĩ, Thân, Ý và Mạt Na Thức. Tổng cộng là 7 thức = 7 hoa sen.

Phải chăng việc đứng và đi trên 7 hoa sen là hoàn toàn làm chủ được các thức tình này. Mà khi thanh tịnh và làm chủ được 7 thức tình này, thì thức thứ 8 là A Lại Da Thức (Alaya) cũng chính là chân tâm, cũng chính là chân ngã thức, sẽ được hoàn toàn giải thoát và lúc được giải thoát rồi, thì chân ngã thức mới được gọi là tôn quý. Cho nên mới nói: Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn, tức là:

“Trên trời, dưới đất, chỉ có ta (ngã) là tôn quý”

Ngã đây chính là chân ngã, là một trong 4 ý nghĩa của lý giải thoát là: Thường, Lạc, Ngãvà Tịnh.

Xin được giải thích về cái ngã trong lý vô ngã của Đức Thích Ca. Khi có người hỏi tại sao đạo Phật chủ trương vô ngã, mà trong đây lại nói là có một cái ngã giải thoát (tức là có cái ta giải thoát), sao lại có sự mâu thuẫn này? Thưa đúng vậy, cái ngã đã được giải thoát chính là cái ngã vô ngã.

Sự giải thoát có thể dụ cho một sự sáng không bờ mé, ngăn ngại và cái ngã đã được giải thoát (vô ngã) dụ cho một cái sáng khác ở trong cái sáng không bờ mé đó, sẽ chẳng ai thấy cái sáng của ta (giải thoát, vô ngã) mà chính ta cũng không thấy cái sáng này (vô ngã), nhưng ta luôn luôn biết rằng, ta có sáng (có giải thoát=vô ngã).

Vậy câu chuyện 7 bước của một vị tiểu Phật vừa mới ra đời và câu nói “Trên trời, dưới đất, chỉ ta là tôn quý” chỉ là một hình cảnh biểu tượng, gói ghém trọn vẹn đạo lý giải thoát của Đức Thích Ca Mâu Ni.

Trên đây, xin đóng góp một vài lý giải thô thiển, nếu chư vị Phật tử thấy hợp ý, thì xin được phổ biến, giải thích cho những người khác khi được hỏi tới 7 bước chân Phật để cùng nhau tin tưởng chánh pháp của Đức Thích Ca.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật tử Ngẫu Hồ.

Xem thêm:

HUYỀN THOẠI ĐẢN SINH - Thích nữ Tịnh Quang
ĐẾN ĐỂ THẤY, THẤY ĐỂ TIN: LÂM TỲ NI NƠI PHẬT ĐẢN SINH - Tâm Diệu
NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN BÀN VỀ TÍCH ĐẢN SANH- Tâm Diệu

Source: thuvienhoasen
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/07/2021(Xem: 9488)
Tâm Kinh nói rằng: “Sắc tức là không, không tức là sắc.” Sắc sao lại là không? Không sao lại là sắc? Vấn đề nầy khiến cho mọi người luôn luôn cảm thấy có phần nào khó hiểu; hình như đây là hai đối tượng, đều biến thành cực đoan, làm sao có thể hợp nhau lại thành một được? Nguyên vì chúng ta thường đem vấn đề Sắc trực tiếp tiến hành khảo sát thì có quan điểm để giải thích, còn đem vấn đề Không trực tiếp tiến hành khảo sát thì không có quan điểm để lý giải.
06/07/2021(Xem: 12655)
- Kính thưa chư Tôn đức, chư Thiện hữu & quí vị hảo tâm. Vào ngày Thứ 7 (July 03) vừa qua, chúng con chúng tôi đã thực hiện một buổi phát chẩn tại 2 ngôi Làng Kusa & Niranjan Village. Làng Kusa chính là ngôi làng có ngôi đền Kusa Temple cách Bồ đề Đạo Tràng chừng 6 cây số, đánh dấu nơi ngàn xưa Thế Tôn đã thọ nhận 8 bó cỏ của người nông phu, rồi từ địa điểm đó Ngài đã mang cỏ về trải làm toạ cụ dưới Cội Bồ Đề và tu hành chứng Đạo. Hiện nay dân chúng nơi đây nói riêng và nhiều nơi trên xứ Ấn nói chung vẫn khổ sở vì Dịch Covid còn kéo dài lê thê, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nên kinh tế của xứ này
06/07/2021(Xem: 9144)
Bài viết này có chủ đề về các pháp thực dụng cho người bệnh nặng, hay đang nằm trên giường cận tử. Trong tình hình dịch bệnh hiện nay, nhiều nơi tại Việt Nam đang phong tỏa và cách ly. Riêng tại Sài Gòn vào đầu tháng 7/2021 đã có 636 điểm phong tỏa, nghĩa là cả nước có cả ngàn điểm phong tỏa để khoanh vùng chống dịch. Do vậy, câu hỏi dễ gặp là: người cư sĩ nên nói gì với một cư sĩ khác đang nằm bệnh hay đang hấp hối? Và nhiều trường hợp khác, tương tự. Một số pháp ghi lại nơi đây thích nghi với cả hàng cư sĩ, trong đó có kinh dạy cho người cư sĩ cách hướng dẫn các pháp quán để người cận tử có thể giải thoát ngay khi lìa đời.
03/07/2021(Xem: 9221)
- Kính thưa chư Tôn đức, chư Thiện hữu & quí vị hảo tâm. Vào ngày Thứ Bảy (June 12) vừa qua, được sự cho phép của chính quyền địa phương làng Durgagar và Armoba Village Bihar India, nhóm Từ thiện Bodhgaya Heart chúng con, chúng tôi đã tiếp tục hành trình cứu trợ thực phẩm cho dân nghèo mùa Dịch covid. Xin mời chư vị xem qua một vài hình ảnh tường trình.. Buổi phát quà cứu trợ cho 358 căn hộ tại 2 ngôi làng cách Bồ đề Đạo Tràng chừng 9 cây số.
03/07/2021(Xem: 11323)
Kính lễ đạo sư và đấng bảo hộ của chúng con, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát! Sự thông tuệ của ngài chiếu soi như mặt trời, không bị che mờ bởi vọng tưởng hay dấu vết của si mê, Ngài giữ trong tim một bộ kinh biểu tượng của việc thấy tất cả mọi thứ như chúng là, Người dạy trong sáu mươi cách, với lòng từ bi yêu thương của một từ thân với đứa con duy nhất, Đến tất cả các tạo vật bị giam trong tù ngục của luân hồi, Bối rối trong bóng tối của si mê, tràn ngập bởi khổ đau của họ.
03/07/2021(Xem: 24272)
Vào thời đại khủng hoảng niềm tin của tất cả tôn giáo, lòng người càng lúc hồi hộp bất an, giáo lý đức Thích Ca Mâu Ni như mặt trời chiều xuống bóng hoàng hôn ,Mật Tông Kim Cang Thừa như ngọn đèn sắp tắt, chỉ còn lại những bộ đại tạng kinh phủ đầy bụi trên những kệ kinh, nằm bất tỉnh không ai hỏi thăm trong những tu viên,viện bảo tàng cô đơn thiếu bóng người. Cuốn sách Mật Tông Kim Cang Thừa Chú Giải Toàn Thư Tập Hai, là sự trình bày và phô diễn mật nghĩa thậm thâm của Đại Phật Đảnh Lăng Nghiêm đà la ni , Bát Đại Kim Cang Thần Kinh và các phụ bản vô thượng du già. Là sự trợ duyên cho những ai, đã có gieo hạt giống pháp môn này, có thể khai hoa kết trái thành tựu sự tu tập giải thoát. Linh Quang từ nhỏ xuất gia tu học , tầm sư học đạo, và đi du học nhiều nước, nên trong đầu nhiều ngôn ngữ lộn qua lộn lại, bây giờ Tiếng Việt cũng quên dần,chính tả viết sai nhiều lắm, nên quý vị thông cảm bỏ qua những lỗi lầm về câu văn từ ngữ.
01/07/2021(Xem: 8160)
Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đã được chính Đức Thế Tôn tuyên dương là Bổn Kinh Thượng Thừa, bao gồm những bí yếu cực kỳ nhiệm mầu, vi diệu mà Chư Phật trao truyền lại cho những ai đủ tín tâm thọ nhận. Pháp-bảo được lưu truyền đến nay, vẫn sáng ngời toả rạng lưu ly qua bao thăng trầm của thế sự vô thường, với tâm nguyện hoằng truyền Chánh Pháp của các bậc minh sư, tuỳ căn cơ chúng sanh mỗi thời mà soạn dịch. Một, trong những bổn kinh Diệu Pháp Liên Hoa thường được trì tụng tại các tự viện là bổn cố đại lão Hoà Thượng Thích Trí Tịnh biên soạn, hoàn tất với 557 trang, gồm 7 quyển, chia thành 28 phẩm , mỗi phẩm đầy đủ văn kinh và thi kệ. Cũng do nhu cầu và phương tiện tu học của Phật tử mà Hoà Thượng Thích Trí Quảng cũng đã lược soạn Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thành Bổn Môn Pháp Hoa Kinh để Phật tử tại các Đạo Tràng Pháp Hoa có thể hàng ngày trì tụng mà không bị gián đoạn vì không đủ thời gian. Bổn Môn Pháp Hoa Kinh được Hoà Thượng trân trọng biên soạn, cô đ
29/06/2021(Xem: 12971)
Kính Pháp Sư Sướng Hoài, tôi tu sĩ Thích Thắng Hoan đọc qua tác phẩm PHẬT HỌC VĂN TẬP của ngài viết nhận thấy ngài một nhà bác học uyên thâm Phật giáo nắm vững mọi tư tưởng cao siêu của cácphái, các tông giáo cả trong đạo lẫn ngoài đời. Toàn bộ tác phẩm của ngài đều xây dựng vững chắc trên lãnh vực biện chứng pháp của Nhân Minh Luận. Nội dung tác phẩm trong đó, mỗi một chủ đề ngài biện chứng bằng những lãnh vực mặt phải mặt trái, chiều sâu chiều cạn, mặt phủ định, mặt xác định,cuối cùng để làm sáng tỏ vấn đề bằng kết luận. Tôi vô cùng kính nể kiến thức của ngài.
29/06/2021(Xem: 14499)
Phật giáo dùng từ bi làm căn bản, xem trọng giới sát nên thực hành phóngs anh.Từ nghĩa là trao cho khoái lạc; Bi nghĩa là san bằng khổ não. Người đời rất quý mến thân mạng, chồng vợ con cháu, tiền của, nhưng từ chối mỗi người không thể che chở bao gồm chung cả. Giả như nếu bất hạnh gặp gian nguy, vì cứu thân mình, thà bỏ tất cả vật ngoài thân, để cầu được sinh tồn riêng mình.Con người đã tham sống sợ chết, sanh mạng con vật nhỏ bé như con muỗi, con ve, sâu bọ, kiến mối, còn biết tránh chạy cái chết cầu mong được sống, thì các động vật khác chúng nó sao lại không như thế?
28/06/2021(Xem: 8342)
Trước khi nói đến tinh thần Trung đạo của Phật giáo, thiết nghĩ cần phân biệt sự khác nhau giữa tinh thần “Trung dung” và “Trung đạo.” “Trung dung” là những thiên trong Kinh Lễ. Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra Mục đích của sách Trung Dung là giúp con người hiểu được đạo “Trung dung” để đạt đến một trình độ đạo đức cao hơn. Khổng Tử nói về đạo "trung dung", tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử. Cũng theo tinh thần “Trung dung” như thế, không thể có một thái độ “Trung dung” cố định; tùy thời tùy thế mà linh hoạt. “Trung dung” với ý nghĩa trên là dung hợp, quân bình giữa thái quá và bất cập. Ví dụ : thuyết Duy Vật chủ trương tranh đấu; thuyết Duy Tâm của Đức Khổng Tử, chủ trương điều hòa hai yếu tố cực đoan bằng lẽ Trung Dung.