Tự tình mùa xuân

24/01/201202:14(Xem: 14227)
Tự tình mùa xuân

en

Xuân về, tiết xuân ấm áp, trời xuân quang đãng,muôn vật muôn loài ngây ngất với tình xuân. Phải chăng chính tự thân mùa xuânhàm chứa những chất liệu hạnh phúc hay mùa đông lạnh lẽo và u ám vừa đi qua đãgóp phần tôn vinh vẻ đẹp ngày xuân. Xuân như một bông hoa hàm tiếu, được nuôidưỡng và tiềm ẩn trong cả bốn mùa. Cánh hoa xuân kia sẽ không mỉm cười, cànhxuân kia với những chồi non và lộc biếc sẽ không mơn man nô đùa trong nắng nếunhư chúng chưa từng trầm mình với gió sương. Cũng vậy, nếu như không có cái oiả của mùa hè, cái sụt sùi và dai dẳng của mưa dầm mùa thu cùng cái lạnh giá vàảm đạm của mùa đông thì không thể có mùa xuân ngập tràn nắng ấm. Trong hai mặtcùng tồn tại song song của cuộc đời, sẽ không có mặt phải nếu thiếu mặt trái,sẽ không có ngày nếu vắng mặt bóng đêm, sẽ không có hạnh phúc nếu khổ đau chưamột lần chiêm nghiệm. Cũng vậy, xuân ôm ấp và chứa đựng trong nó tất cả nhữngcái không phải là xuân để hiển lộ nguyên xuân trọn vẹn.

Không biết tự bao giờ, mùa xuân được lấy làmbiểu tượng của tâm hồn an lạc và thanh tịnh. Mùa xuân của tâm hồn cũng đượckiến tạo và vận động theo quy luật nhất định nhưng không đồng điệu với mùa xuâncủa đất trời. Dù sao thì sau một chu kỳ ngắn, xuân của đất trời lại ghé qua vớibiết bao tặng phẩm mà tạo hoá đã vô tình hào phóng. Với nhân loại, không phảicon tạo không mảy may run rủi cho thân phận con người một mùa xuân miên viễncủa tâm hồn, nhưng thật sự, cánh thiệp báo tâm xuân mấy ai từng vinh nhận. Bởilẽ, trăm năm trong cõi người tamấy ai đã từng chạm đến thềm xuân. Tuyvậy, tâm xuân không mơ hồ, hư ảo, do đó có thể nắm bắt và trao tặng. Tâm xuânhiện hữu vĩnh hằng như tự thân nó chưa từng biến đổi bao giờ.

Chỉ có điều, con người tuy có kỳ vọng hướng đếntâm xuân nhưng đa phần lại thực thi theo chiều trái ngược. Cái gọi làhạnhphúc mà con người hằng khát khao cháy bỏng để chinh phục, tiếc thay lại là cộinguồn của tranh chấp, hận thù. Con người thường lấy những chất liệu khổ đau đểmưu cầu thiết lập hạnh phúc, và đó cũng là bi kịch của kiếp người mãi ngượcxuôi trong trận đồ lẩn quẩn. Mặt khác, cái hạnh phúc thỏa mãn giác quan mà conngười đeo đuổi không phải là chân hạnh phúc. Nó vốn cần thiết cho một cuộc sốngbình thường nhưng tạo ra rất nhiều phó sản khổ đau đồng thời ngoại vi của cáihạnh phúc ấy mở ra đến vô biên do tham cầu vô tận. Nên truy tìm hạnh phúc đốivới con người là một trò chơi cút bắt ngoạn mục và ly kỳ đến vô cùng.

Bi kịch thay khi kiếp người ngắn ngủi, lúc tuổixế chiều lực bất tòng tâm, khi mơ ước thì phiêu bồng nhưng thực tế lại quá phủphàng, hạnh phúc thì ẩn hiện, chợt còn rồi chợt mất. Mùa xuân cuộc đời bặt vôâm tín, chỉ còn lại trong hồn những đụn mây đen trĩu nước mùa hạ, những cơn mưadầm rỉ rả suốt mùa thu và những ngọn gió đông buốt giá đến tê người…

Hakuin.jpg

Khỉ và chim én-Tranh Hakuin

Có ai đãmột lần tự vấn rằng đối với cái hạnh phúc hư dối và mong manh kia mà ta đã thấycánh tay cuộc đời quá ngắn. Thế thì hạnh phúc chân thật vốn sâu kín và nhiệmmầu nào dám mơ tưởng xa xôi. Mùa xuân tâm hồn phải chăng là do con người dựnglên để an ủi cho những linh hồn bất hạnh và đau khổ. Tâm tư là một dòng thác lũsục sôi, lềnh bềnh tham muốn, đau thương và thù hận. Có cái gọi là an tâm thậtsao? Khó mà hình dung được có một tâm thái lặng lẽ mà tỉnh giác, sáng suốt vàlinh hoạt mà không dao động. Không thể nào hiểu được lý lẽ của trái tim nhânhậu bao la, thương yêu vạn loại sinh linh mà không một mảy may luyến ái. Và lạicàng không thể nào hiểu được sự bất động trong vô vàn biến động của cuộc đời.

Tuy nhiên, những gì có vẻ rất xa nhưng thực tếlại rất gần, những điều dường như ngoài sức tưởng tượng lại thường xảy ra hàngngày quanh đời sống chúng ta, khó mà phân định rạch ròi ranh giới giữa đôi bờ khôngthể và có thể. Mùa xuân tâm hồn vẫn còn đó nhưng bị khổ đau, tham đắm vàhận thù che khuất. Ai cũng biết rằng, mặt trời mùa hạ vẫn không nóng hơn mặttrời mùa đông. Mùa xuân của con người vẫn còn đó nhưng chưa hiện hữu vì đêmđông của đời người quá dài, thậm chí tồn tại trong đa phần chúng ta quan niệm:nếu được ngủ yên suốt mùa đông là điều hạnh phúc. Đó cũng là điều dễ hiểu để lýgiải cho câu hỏi vì sao mùa xuân không đến với mọi người. Mùa xuân của tâm hồnlà một tặng phẩm của trời đất dành cho những bậc xuất trần thượng sĩ.

Những aimuốn đi gặp mùa xuân thì phải đứng dậy, giã từ u tối của đêm đông, thắp sángtâm mình bằng ánh lửa tỉnh thức được đốt cháy trong nguồn năng lượng tìnhthương. Hãy chiếu sáng đêm đông của cuộc đời bằng ngọn lửa tỉnh thức và thươngyêu ấy. Lập chí vững chắc để đi về hướng bình minh. Hãy quẳng đi những hànhtrang lỉnh kỉnh không cần thiết cho cuộc hành trình. Con đường tiến về phíatrước dẫu còn mờ mịt, chông gai và lạnh lẽo. Đã đi là đến, quay đầu là bờ, mâytan thì mặt trời ló dạng, đông tàn thì xuân đến, khổ diệt là giải thoát Niếtbàn.

Mùa xuân của đất trời đã về để đánh thức mùa xuân tâmhồn mãi ngủ quên…

Quảng Tánh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2021(Xem: 13942)
Hôm qua mình có giới thiệu cuốn sách Buddhism in America (Phật Giáo Mỹ) của Richard Hughes Seager. Có bạn hỏi thêm muốn tìm hiểu Phật Giáo Mỹ nên nhờ mình giới thiệu vài cuốn. Nghĩ rằng đây là câu hỏi hay nên mình xin viết giới thiệu 7 cuốn sách để nhiều người lợi lạc. 1. Cuốn The Faces of Buddhism in America (Diện Mạo của Phật Giáo ở Mỹ) do Charles Prebish 2. Buddhist Faith in America (Đức Tin Phật Giáo ở Mỹ) tác giả Michael Burgan 3. Buddhism in America của Richard Huges Seager (1999, tái bản 2012) 4. Buddhism in America của Scott Mitchell 5. Altered Traits: Science Reveals How Meditation Changes Your Mind, Brain, and Body, 2017 6. A Mindful Nation: How a Simple Practice Can Help Us Reduce Stress, Improve Performance, and Recapture the American Spirit, 2012, 7: American Dharma: Buddhism Beyond Modernity
01/02/2021(Xem: 10514)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.
01/02/2021(Xem: 20326)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/2021(Xem: 10863)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.
01/02/2021(Xem: 17719)
Phần này bàn về các danh từ gọi dụng cụ gắp cơm và đưa vào miệng (ăn cơm) như đũa hay trợ, khoái, giáp cùng các dạng âm cổ của chúng. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), TQ (Trung Quốc), ĐNA (Đông Nam Á), HT (hài thanh), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), VBL (tự điển Việt Bồ La/1651) ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị/1895).
29/01/2021(Xem: 11086)
Ở đời không phải ai cũng chấp nhận sự chân thành của bạn. Những người quanh ta luôn công nhận việc tốt mà ta đã và đang làm, trở thành đương nhiên như thế… và đến một ngày kia bạn quá mệt mỏi liệu có ai bên cạnh bạn và cảm thông với bạn không? Vì trong suy nghĩ của họ bạn là người tự nguyện cho đi..., trong hoàn cảnh như thế liệu bạn có tiếp tục cho đi nữa hay không? Tất nhiên là có, chúng ta hãy tiếp tục sống tốt nhưng phải là người tốt thông minh. Hãy tin rằng không có nỗ lực nào là uổng phí, hãy có quan điểm và lý tưởng của chính mình, luật nhân quả luôn đền bù cho bạn xứng đáng. Nhà Phật dạy có Luân Hồi-Ngiệp Báo. Không ai phủ nhận rằng quan tâm chăm sóc người khác là tốt, nhường nhịn người khác đều là tốt, tuy nhiên quan tâm quá, họ sẽ làm khó ta vạn lần, nhiệt tình quá họ sẽ đâm ra nghi ngờ, thậm chí khiến bạn bị tổn thương …
28/01/2021(Xem: 11209)
Chúng ta đã quen với thể loại thơ Thiền sáng tác nhiều thế kỷ trước từ các ngài Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Hương Hải… Hay gần đây như với thơ của các ngài Nhất Hạnh, Mãn Giác, Tuệ Sỹ, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Ni Trưởng Trí Hải… Đó là nói cho chặt chẽ. Nếu nói cho nới rộng hơn, thơ Thiền cũng là Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Trịnh Công Sơn… Mỗi thời đại đều có những nét riêng, mỗi tác giả cũng là một thế giới độc đáo. Mặt khác, thơ Thiền mỗi quốc độ cũng khác. Trong khi phần lớn thơ Thiền Nhật Bản cô đọng với thể haiku, thơ Thiền Trung Hoa có nhiều bài hùng mạnh như tiếng sư tử hống, như với Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác, hay Tín Tâm Minh của ngài Tăng Xán. Không ngộ được tự tâm, sẽ không có văn phong đầy sức mạnh như thế. Nơi đây, chúng ta nêu câu hỏi: Làn gió Thiền Tông đã ảnh hưởng vào thơ Hoa Kỳ ra sao? Và sẽ giới thiệu về bốn nhà thơ.
28/01/2021(Xem: 13897)
Mọi người đều biết câu chuyện Xá Lợi Phất thăm Cấp Cô Độc khi bị bịnh nặng và giảng cho Cấp Cô Độc bài pháp về quán chiếu, khi thiền trong Tứ Niệm Xứ mà chữa bịnh cho Cấp Cô Độc. Quán về Phật pháp tăng, 18 giới gồm 6 căn 6 trần 6 thức, rồi quán về 7 đại: đất nước gió lửa không kiến thức, quán về thời gian không gian và cuối cùng là quán về 5 uẩn. Cấp Cô Độc nghe xong hết bịnh. Cũng câu chuyện như vậy, nhưng nó khác đi chi tiết là lúc về già sắp mất: Xá Lợi Phất khai thị Cấp Cô Độc chú trọng về 5 uẩn, hãy trả 5 uẩn về lại cho 5 uẩn khi duyên hội tụ đã hết. Hãy trả Pháp về lại cho Pháp. Và Cấp Cô Độc chết thành A la hán vì đã ngộ được đạo về cõi trời.
28/01/2021(Xem: 13414)
Chùa Thiếu Lâm Tự mở ra khóa ngồi thiền cho 18 vị tu thành A la Hán. Khoá tu này trong 30 ngày ngồi trong tịnh thất suốt ngày đêm. Vị chủ trì là Hòa thượng trụ trì của Thiếu Lâm Tự. Thời bấy giờ là mùa xuân, cảnh đẹp hoa nở và thời tiết ấm áp. Mọi thiền sinh miệt mài tập trung thiền định đạt được 30 ngày miên mật thì bỗng xảy ra tiếng nói vọng vào từ ngoài cửa. Giọng nói đầy êm dịu thanh thoát và trong trẻo của một cô gái. Mỗi tiếng phát âm đi sâu vào tim người nghe một cảm giác êm dịu nhẹ nhàng như vuốt ve trái tim của con người.
27/01/2021(Xem: 9171)
Kính thưa quý đọc giả, tôi đột nhiên thấy được quyển sách với nhan đề “Khéo Dùng Cái Tâm” do Hội Phật Học Bát Nhã biên soạn, liền mượn về ngay để nghiên cứu. Tôi sở dĩ nghiên cứu tác phẩm này là do chủ đề “Khéo Dùng Cái Tâm” lôi cuốn tư tưởng của tôi. Chủ đề rất hấp dẫn khiến tôi tò mò không biết nội dung trong đó nói gì đành phải bỏ hết thời gian để đọc cho xong. Toàn bộ quyển sách chỉ nói về Ma Nhập, nhưng quý đọc giả cần phải đọc qua để biết Ma Nhập quan hệ như thế nào đối với con người chúng ta, đồng thời cần phải tỏ tường để tránh né và đối trị.