Tự tình mùa xuân

24/01/201202:14(Xem: 15062)
Tự tình mùa xuân

en

Xuân về, tiết xuân ấm áp, trời xuân quang đãng,muôn vật muôn loài ngây ngất với tình xuân. Phải chăng chính tự thân mùa xuânhàm chứa những chất liệu hạnh phúc hay mùa đông lạnh lẽo và u ám vừa đi qua đãgóp phần tôn vinh vẻ đẹp ngày xuân. Xuân như một bông hoa hàm tiếu, được nuôidưỡng và tiềm ẩn trong cả bốn mùa. Cánh hoa xuân kia sẽ không mỉm cười, cànhxuân kia với những chồi non và lộc biếc sẽ không mơn man nô đùa trong nắng nếunhư chúng chưa từng trầm mình với gió sương. Cũng vậy, nếu như không có cái oiả của mùa hè, cái sụt sùi và dai dẳng của mưa dầm mùa thu cùng cái lạnh giá vàảm đạm của mùa đông thì không thể có mùa xuân ngập tràn nắng ấm. Trong hai mặtcùng tồn tại song song của cuộc đời, sẽ không có mặt phải nếu thiếu mặt trái,sẽ không có ngày nếu vắng mặt bóng đêm, sẽ không có hạnh phúc nếu khổ đau chưamột lần chiêm nghiệm. Cũng vậy, xuân ôm ấp và chứa đựng trong nó tất cả nhữngcái không phải là xuân để hiển lộ nguyên xuân trọn vẹn.

Không biết tự bao giờ, mùa xuân được lấy làmbiểu tượng của tâm hồn an lạc và thanh tịnh. Mùa xuân của tâm hồn cũng đượckiến tạo và vận động theo quy luật nhất định nhưng không đồng điệu với mùa xuâncủa đất trời. Dù sao thì sau một chu kỳ ngắn, xuân của đất trời lại ghé qua vớibiết bao tặng phẩm mà tạo hoá đã vô tình hào phóng. Với nhân loại, không phảicon tạo không mảy may run rủi cho thân phận con người một mùa xuân miên viễncủa tâm hồn, nhưng thật sự, cánh thiệp báo tâm xuân mấy ai từng vinh nhận. Bởilẽ, trăm năm trong cõi người tamấy ai đã từng chạm đến thềm xuân. Tuyvậy, tâm xuân không mơ hồ, hư ảo, do đó có thể nắm bắt và trao tặng. Tâm xuânhiện hữu vĩnh hằng như tự thân nó chưa từng biến đổi bao giờ.

Chỉ có điều, con người tuy có kỳ vọng hướng đếntâm xuân nhưng đa phần lại thực thi theo chiều trái ngược. Cái gọi làhạnhphúc mà con người hằng khát khao cháy bỏng để chinh phục, tiếc thay lại là cộinguồn của tranh chấp, hận thù. Con người thường lấy những chất liệu khổ đau đểmưu cầu thiết lập hạnh phúc, và đó cũng là bi kịch của kiếp người mãi ngượcxuôi trong trận đồ lẩn quẩn. Mặt khác, cái hạnh phúc thỏa mãn giác quan mà conngười đeo đuổi không phải là chân hạnh phúc. Nó vốn cần thiết cho một cuộc sốngbình thường nhưng tạo ra rất nhiều phó sản khổ đau đồng thời ngoại vi của cáihạnh phúc ấy mở ra đến vô biên do tham cầu vô tận. Nên truy tìm hạnh phúc đốivới con người là một trò chơi cút bắt ngoạn mục và ly kỳ đến vô cùng.

Bi kịch thay khi kiếp người ngắn ngủi, lúc tuổixế chiều lực bất tòng tâm, khi mơ ước thì phiêu bồng nhưng thực tế lại quá phủphàng, hạnh phúc thì ẩn hiện, chợt còn rồi chợt mất. Mùa xuân cuộc đời bặt vôâm tín, chỉ còn lại trong hồn những đụn mây đen trĩu nước mùa hạ, những cơn mưadầm rỉ rả suốt mùa thu và những ngọn gió đông buốt giá đến tê người…

Hakuin.jpg

Khỉ và chim én-Tranh Hakuin

Có ai đãmột lần tự vấn rằng đối với cái hạnh phúc hư dối và mong manh kia mà ta đã thấycánh tay cuộc đời quá ngắn. Thế thì hạnh phúc chân thật vốn sâu kín và nhiệmmầu nào dám mơ tưởng xa xôi. Mùa xuân tâm hồn phải chăng là do con người dựnglên để an ủi cho những linh hồn bất hạnh và đau khổ. Tâm tư là một dòng thác lũsục sôi, lềnh bềnh tham muốn, đau thương và thù hận. Có cái gọi là an tâm thậtsao? Khó mà hình dung được có một tâm thái lặng lẽ mà tỉnh giác, sáng suốt vàlinh hoạt mà không dao động. Không thể nào hiểu được lý lẽ của trái tim nhânhậu bao la, thương yêu vạn loại sinh linh mà không một mảy may luyến ái. Và lạicàng không thể nào hiểu được sự bất động trong vô vàn biến động của cuộc đời.

Tuy nhiên, những gì có vẻ rất xa nhưng thực tếlại rất gần, những điều dường như ngoài sức tưởng tượng lại thường xảy ra hàngngày quanh đời sống chúng ta, khó mà phân định rạch ròi ranh giới giữa đôi bờ khôngthể và có thể. Mùa xuân tâm hồn vẫn còn đó nhưng bị khổ đau, tham đắm vàhận thù che khuất. Ai cũng biết rằng, mặt trời mùa hạ vẫn không nóng hơn mặttrời mùa đông. Mùa xuân của con người vẫn còn đó nhưng chưa hiện hữu vì đêmđông của đời người quá dài, thậm chí tồn tại trong đa phần chúng ta quan niệm:nếu được ngủ yên suốt mùa đông là điều hạnh phúc. Đó cũng là điều dễ hiểu để lýgiải cho câu hỏi vì sao mùa xuân không đến với mọi người. Mùa xuân của tâm hồnlà một tặng phẩm của trời đất dành cho những bậc xuất trần thượng sĩ.

Những aimuốn đi gặp mùa xuân thì phải đứng dậy, giã từ u tối của đêm đông, thắp sángtâm mình bằng ánh lửa tỉnh thức được đốt cháy trong nguồn năng lượng tìnhthương. Hãy chiếu sáng đêm đông của cuộc đời bằng ngọn lửa tỉnh thức và thươngyêu ấy. Lập chí vững chắc để đi về hướng bình minh. Hãy quẳng đi những hànhtrang lỉnh kỉnh không cần thiết cho cuộc hành trình. Con đường tiến về phíatrước dẫu còn mờ mịt, chông gai và lạnh lẽo. Đã đi là đến, quay đầu là bờ, mâytan thì mặt trời ló dạng, đông tàn thì xuân đến, khổ diệt là giải thoát Niếtbàn.

Mùa xuân của đất trời đã về để đánh thức mùa xuân tâmhồn mãi ngủ quên…

Quảng Tánh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/05/2021(Xem: 16889)
Ca khúc phổ nhạc “Đóa Hoa Dâng Đời... Của Ns Phật Giáo Hằng Vang từ bài thơ có tựa là “ Đóa Hoa Ngàn Đời... Của Huyền Lan đăng tuần báo Giác Ngộ đặc biệt Phật Đản số 110 ra ngày 09/05/1998. Sau đó vào năm 2003. Cư Sỹ Tống Hồ Cầm – Phó Tổng Biên Tập Báo Giác Ngộ - tức nhà thơ Tống Anh Nghị - Chủ Nhiệm CLB thơ ca Báo Giác Ngộ, hợp tuyển thơ báo Giác Ngộ nhiều tác giả có tên gọi “Sắc Hương Hoa Bút... Được tuyển chọn vào tập thơ nhiều tác giả nầy...
24/05/2021(Xem: 12498)
Ni sư Thích Nữ Giới Hương có lẽ là vị trụ trì viết nhiều nhất ở hải ngoại. Đó là theo chỗ tôi biết, trong cương vị một nhà báo nhiều thập niên có liên hệ tới nhà chùa và công việc xuất bản. Viết là một nỗ lực gian nan, vì phải đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, phân tích nhiều, cân nhắc kỹ rồi mới đưa chữ lên mặt giấy được. Đặc biệt, Ni sư Giới Hương cũng là vị trụ trì viết bằng tiếng Anh nhiều nhất. Tôi vẫn thường thắc mắc, làm thế nào Ni sư có đủ thời giờ để gánh vác Phật sự được đa dạng như thế. Nghĩ như thế, vì tự thấy bản thân mình, nghiệm ra, không có đủ sức đọc và viết nhiều như Ni sư.
18/05/2021(Xem: 13956)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 10873)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 20266)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 14014)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 10055)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 17348)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 9797)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 13193)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ