Chuyện của rồng

18/01/201209:20(Xem: 11571)
Chuyện của rồng
conrong2
Có 990 ức cư sĩ, do vì đấu tranh kiên cố, phỉ báng kinh giới… sau khi chết đều vào trong loài Rồng..., nay số lượng của loài rồng nhiều không thể tính hết.

Quyến thuộctrước ít sau nhiều

Long vương hỏi Phật:

- Con trụ ở biển lớn này từ Kiếp sơ (Kalpāgra – thế giớihữu tình mới hình thành). Thuở Phật Câu-lưu-tôn, vợ con quyến thuộc ở trongbiển lớn này rất ít, nhưng nay thì rất đông.

Phật bảo Long vương:

- Những người xuất gia ở trong Phật pháp mà vi phạmgiới luật, trái với phạm hạnh, giới chưa xả mà đã phá giới… thì phần nhiều saukhi chết đều sanh vào loài Rồng.

Long vương lại hỏi:

- Những người phạm giới như vậy không thấy họ rơithẳng xuống địa ngục, mà sau khi hết thọ mạng đều sanh vào trong loài Rồng?

bac hai lv.jpg

Bắc Hải long vương

Phật bảo Long vương:

- Thời Phật Câu-lưu-tôn có 98 ức cư sĩ xuất gia, nhữngai phạm cấm giới đều sanh vào trong loài Rồng. Thời Phật Câu-na-hàm mâu-ni có80 ức cư sĩ xuất gia, những người huỷ giới, buông lung, sau khi hết thọ mạngđều sinh vào trong loài Rồng. Thời Phật Ca-diếp có 64 ức cư sĩ xuất gia, phạm giớiđều sanh vào trong loài Rồng. Nay ở trong thời của Ta, có 990 ức cư sĩ, do vìđấu tranh kiên cố, phỉ báng kinh giới… sau khi chết đều vào trong loài Rồng.Ngày nay đã có sự sinh sôi như thế là vì có những nguyên nhân trên, cho nên ởtrong biển lớn vợ con quyến thuộc của các loài Rồng số nhiều không thể tínhhết. Sau khi ta niết-bàn, có rất nhiều ưu-bà-tắc xấu ác, trái phạm cấm giới sẽsinh vào trong loài Rồng hoặc đoạ xuống địa ngục. (Kinh luật dị tướng, ĐTK/ĐCTTtập 53, N° 2121 dẫn Hải long vương kinh, quyển thứ 2)

Rồng giữ giới cho đến chết

Đại lực Độc longdùng mắt quan sát, thấy một người yếu đuối bị chết, một người mạnh khoẻ rồicũng bị chết. Thấy vậy, Độc long bèn thọ giới một ngày xuất gia, vào rừng, ngồidưới gốc cây tư duy thiền quán. Ngồi lâu, Độc long mỏi mệt nên ngủ gục. Cáchthức của loài Rồng khi ngủ có hình dạng như con rắn bảy màu quý hiếm. Một ngườithợ săn trông thấy hết sức vui mừng, nghĩ rằng: Thật là hy hữu khó gặp, nếu talấy được bộ da của con vật này rồi dâng lên cho quốc vương để làm đồ phục sứcthì không có gì sánh bằng. Nghĩ vậy rồi, thợ săn bèn lấy mũi dao lột da Rồng.Rồng tự nghĩ rằng: Sức mạnh của ta có thể làm nghiêng đổ đất nước, thì một mũidao nhọn bé nhỏ này có thể làm khó được ta sao? Nhưng hôm nay ta đã phát nguyệngiữ giới, cho nên không thèm nghĩ đến thân này nữa. Nghĩ vậy rồi, Rồng liền ytheo lời Phật dạy, tự hành nhẫn nhục, nhắm mắt không nhìn, nín hơi không thở,khởi niệm từ bi đối với người thợ săn. Rồng hết lòng giữ giới, cam chịu bị lộtda, không hề hối tiếc. Da thịt bị lóc ra đỏ cả mặt đất. Hôm ấy trời nắng to,sức nóng uyển chuyển trong lòng đất, Độc long thấy rõ muôn loài vi trùng nhỏ bétừ khắp nơi tụ về ăn thịt của mình, nhưng vì giữ giới, Độc long không cảm thấysợ hãi, lại tự suy nghĩ rằng: Hôm nay ta bố thí thân này cho muôn trùng là đểvì Phật đạo. Ngày nay đem xác thịt bố thí để thành tựu cái thân viên mãn, ngàysau đem pháp bố thí để thành tựu cái tâm viên mãn. (Kinh luật dị tướng,ĐTK/ĐCTT tập 53, N° 2121 dẫn Đại trí luận, quyển 14).

Vậy rồi, thân hết, mạngdứt, Độc long liền sinh về cõi trời Đao-lợi.

29.jpg

Bốn Đại long gặp họa Chim cánh vàng, đến cầu xin Phật

Có bốn Long vương,một tên là Hấp khí, hai tên là Đại hấp khí, ba tên là Hùng-bi, bốn tên là Vôlượng sắc, đến bạch Thế Tôn rằng:

- Ở trong biển nàycó vô số loài Rồng. Có bốn loài Chim cánh vàng thường đến trong biển này để bắtcác loài Rồng để ăn thịt. Nguyện xin Phật thương xót chúng con, ủng hộ chúngcon, để cho chúng con được an ổn, không còn bị lo lắng, âu sầu, sợ hãi.

Thế Tôn cởi chiếc yđen trên thân rồi bảo với Hải long vương rằng:

- Ngươi hãy giữchiếc y đen này của Như Lai, đem phân chia cho tất cả các loài Rồng ở khắp nơi;ở trong biển lớn chỉ cần có một sợi tơ của chiếc y này thì Chim cánh vàng vươngkhông dám xúc phạm.

Bấy giờ Hải longvương nhận lấy y của Phật rồi phân chia cho các Long vương khác, tùy theo thânhình của mỗi loài rộng hẹp, lớn nhỏ mà cấp cho. Số lượng y như vậy tính rakhông thể cùng tận. Khi ấy, Hải long vương nói với các Long vương khác rằng:

- Các người phảicung kính tấm y này giống như cung kính, cúng dường xá-lợi Thế Tôn sau khi nhậpniết-bàn. Hãy dùng tất cả mọi phương tiện có được để phụng sự Thế Tôn.

Bốn Chim cánh vàngvương nghe Phật ban phép như vậy thì thảy đều kinh hãi, tức tốc bay đến chỗPhật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật, rồi kiện rằng:

- Hà cớ gì Thế Tônđoạt mất miếng ăn của chúng tôi?

Đức Phật nói:

- Có bốn cách kiếmthức ăn khiến cho chúng sanh bị đoạ vào ba đường ác. Những gì là bốn? Một là,dùng lưới vây bắt cầm thú, tàn hại muôn loài, sát sinh oan mạng… để kiếm thứcăn. Hai là, dùng gậy gộc, đao kiếm, thương trượng, xà mâu, cung tên… bức bách,đâm chém, cướp đoạt tài sản của người khác để kiếm thức ăn. Ba là, xan tham,nịnh hót, gây rối loạn, phạm cấm giới, tà kiến, lừa dối… để kiếm thức ăn. Bốnlà, không phải thầy tự xưng làm thầy, không phải Thế Tôn tự xưng là Thế Tôn,theo tà đạo mà cho mình chính, không phải tịch chí mà tự xưng tịch chí, khôngthanh tịnh tự xưng thanh tịnh, không có phạm hạnh mà tự xưng phạm hạnh… tự xưngbừa như vậy để cầu mong có được thức ăn. Bốn cách kiếm thức ăn như vậy khiếncho chúng sanh đoạ lạc vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ta thuyếtpháp là để từ diệt bốn cách kiếm thức ăn này, để chúng sanh không vì nuôi dưỡngcái thân này mà tổn hại đến các loài chúng sanh khác. Muốn tự bảo hộ thân mìnhphải biết bảo hộ thân của người khác, phải cẩn thận giữ gìn chứ có vi phạm.

Khi ấy bốn Chimcánh vàng vương, mỗi con đều đem theo ngàn quyến thuộc, tề tựu trước Phật vàbạch lời rằng:

- Hôm nay chúng conxin quy y Phật, Pháp và Tăng. Chúng con xin sám hối những lỗi lầm đã phạm trướcđây, từ nay về sau nguyện xin phụng trì cấm giới, xin lấy đức tính vô uý để banbố cho tất các loài Rồng. Chúng con nguyện ủng hộ cháp chánh, để chánh pháp củaPhật trụ vững ở tương lai; theo đạo pháp cho đến khi diệt tận, chúng con cũngkhông trái lời Phật dạy. (Kinh luật dị tướng, ĐTK/ĐCTT tập 53, N° 2121 dẫn Hảilong vương kinh, quyển 4).

Thích Nguyên Hùng
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/05/2021(Xem: 13377)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 9878)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 18464)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 13353)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 9150)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 16449)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 8064)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 12183)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 8326)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/2021(Xem: 12151)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.