Tưởng nhớ Đức Phật

03/05/201102:20(Xem: 11104)
Tưởng nhớ Đức Phật
celestial-buddha-wat-rong
TƯỞNG NHỚ ĐỨC PHẬT
P. Gopakumar

Phật giáo là một tôn giáo được ngưỡng mộ nhất trên thế giới hiện nay, được sáng lập bởi Đức Phật Thích Ca hiệu Gautama, với niềm tin vào hòa bình, từ bi và trí tuệ, Phật giáo giúp chúng ta hiểu rõ nguyên nhân của những chấp thủ và đau khổ của con người, cũng như cung cấp cho nhân loại con đường đạt đến giải thoát khỏi những đau khổ.

Theo Phật giáo, con người là một thực thể cứu cánh, nhưng vốn bị ràng buộc, trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi. Cuộc sống con người là một biển khổ mênh mông, tất cả mọi người bất luận tôn giáo, chủng tộc hay địa vị xã hội đều không thể tránh khỏi đau khổ, đó là một sự thật không thể chối cải được.

Nguyên nhân của mọi đau khổ của con người là do Vô minh, Vô minh là nguồn gốc phát sinh mọi tham ái và chấp thủ. Nếu chuyển hóa được vô minh thành trí tuệ thì con người có thể đạt đến giải thoát khỏi mọi đau khổ trong cuộc đời. Sự chuyển hóa này hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua sự tu luyện tâm thức và giữ gìn giới luật.

Phật giáo tin rằng tất cả mọi người đều có thể đạt đến giải thoát giác ngộ, tức Niết Bàn, ngay trong đời này. Niết bàn không phải là lẫn tránh vòng sanh tử luân hồi mà là sự giải thoát của con người khỏi những chấp thủ của tâm. Niết bàn, nghĩa là một sự chấm dứt, nhưng không phải theo nghĩa chấm dứt sự sống, mà là chấm dứt hay giải thoát mọi khổ đau. Niết bàn trong Phật giáo là sự chấm dứt mọi tham ái và chấp thủ.

Đức Phật thường nhắc nhở các đệ tử rằng, mục đích tối hậu của cuộc sống là giải thoát khỏi mọi vướng mắc ràng buộc của cuộc sống chứ không phải chấm dứt đời sống. Vì vậy, một người hướng đến Niết Bàn không có nghĩa là tìm cách thoát khỏi thế giới này, mà là hiểu rõ về sự thật của thế giới này, sống trong thế giới này mà không bị ràng buộc bởi những vướng mắc, chấp thủ. Giữa một người bình thường và một người đã giác ngộ không có sự khác nhau về mặt vật lý, mà chỉ có sự khác biệt về mặt tâm linh; người đã giác ngộ thì không còn bị trói buộc bởi những tham ái và chấp thủ trong cuộc sống.

Theo Phật giáo, một hành giả muốn đạt đến giải thoát giác ngộ, phải tuân giữ giới luật và thực hành theo giáo pháp; các giáo pháp đó là Từ Bi, Nghiệp báo, Đoạn tham, Đoạn dục, Đồng sự và Bất bạo động…, nếu hành giả thoát ly khỏi cộng đồng hay xã hội thì làm sao thực hiện được pháp môn từ bi hay đồng sự được.

Ngày nay thế giới bị ngăn cách bởi các ranh giới như tôn giáo, chủng tộc, quốc tịch, ngôn ngữ, giai cấp hay ý thức hệ. Thế giới của chúng ta có rất nhiều nguồn lực, chúng ta có rất nhiều đất đai, nhiều thực phẩm và nhiều tài nguyên khác để duy trì sự sống của chúng ta, nhưng chính vì lòng tham lam vô tận của con người mà tạo nên sự hận thù và chia rẽ ngày càng gia tăng giữa các quốc gia, dân tộc với nhau. Trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy rằng: “Với hận diệt hận thù, Đời này không có được. Từ bi diệt hận thù, Là định luật ngàn thu”. Chính vì vậy, chúng ta phải biết chia sẽ và yêu thương nhau, thì mới có thể làm cho thế giới của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn.

Phật giáo cho rằng chỉ có nổ lực của chính mình mới có thể đạt đến giải thoát giác ngộ. Phật giáo bao dung tất cả sự khác biệt của mọi người về kinh nghiệm sống, bối cảnh văn hóa cũng như tín ngưỡng tôn giáo. Phật giáo là một tôn giáo của từ bi, hỷ xả và khoan dung, bình đẳng đối với tất cả mọi chúng sanh. Đạo Phật không tự rao giảng rằng, chỉ có Phật giáo mới là tôn giáo vượt trội hơn các tôn giáo khác, không phân biệt kỳ thị đối với bất kỳ ai cũng như bất kỳ tôn giáo nào, mà là bình đẳng đối với tất cả mọi người cho dù họ có tín ngưỡng khác với Phật giáo. Chính vì vậy, Phật giáo không bắt buộc ai phải cải đạo, đó là tính chất nhân bản của Phật giáo. Tất cả hữu tình chúng sanh đều được tôn trọng bình đẳng và đều có khả năng đạt đến giải thoát giác ngộ thành Phật. Và hãy nhớ rằng, trong cộng đồng thế giới có xu hướng ngày càng toàn cầu hóa này, tất cả chúng ta đều là những người mà cuối cùng phải gánh chịu những nghiệp quả xuất phát từ những hành động của chúng ta hôm nay.

Đạo Phật dạy chúng ta phải tu tập những hành vi, cử chỉ trong cuộc sống hàng ngày để đạt đến mục đích bất bạo động, từ bi và hợp tác. Đó là những bước căn bản nhất phải thực hiện, chứ không phải chỉ nói suông. Những kẻ chỉ biết kính cẩn tụng đọc kinh điển mà lơ là trong việc thực hành, tức là đã phản bội lại tinh thần chân chính của Phật giáo. Chư Phật trong quá khứ cũng đã thực hành hạnh từ bi cứu khổ và không ngừng cứu độ cho tất cả chúng sanh trong nhiều đời nhiều kiếp, và cuối cùng khi Công hạnh đã viên mãn, thành tựu quả vị Phật, đã thị hiện một Đức Hạnh cao quý như là thông điệp cho tất cả chúng ta.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi giác ngộ, đã đi khắp nơi thuyết pháp độ sanh trong suốt 49 năm, lưu lại cho chúng ta vô số kinh điển, thần chú và pháp môn tu tập. Ngài đã giáo hóa và làm gương cho nhiều vị vua quan, dân chúng từ già trẻ trai gái, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo hay giai cấp xã hội. Sự dấn thân hóa độ của Đức Phật đã thể hiện truyền thống nhân bản của Phật giáo, là tịnh hóa nhân tâm và thiết lập nhân gian tịnh độ. Hình ảnh Đức Phật là tấm gương sáng trong việc thực hành hạnh từ bi và hòa bình hợp tác.

Để nối theo gót chân Phật, trước hết chúng ta phải biết phát hiện và nuôi dưỡng Phật tính vốn có, cũng như phát khởi và nuôi dưỡng Bồ Đề tâm có sẳn trong mỗi chúng ta để mở toang cánh cửa giải thoát giác ngộ, giải thoát hết mọi khổ đau trong cuộc đời. Bằng sự phát hiện và nuôi dưỡng kho báu vô giá đó, chúng ta có thể giúp cho tất cả hữu tình chúng sanh khác phát hiện những đức tính vốn có sẳn trong họ như từ, bi, hỷ, xã, thanh tịnh, trang nghiêm và sự báo ân. Có nhiều phương pháp nhỏ có thể giúp ta khởi động quá trình đi tìm kho báu vô giá đó, chẳng hạn như phải biết tôn trọng sự sống của mình cũng như tất cả mọi loài, tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên, phải có thái độ biết ơn, đừng tham lam và biết tri túc…

Chúng ta cần phải xét lại những ứng phó xưa nay của chúng ta đối với sự mất trật tự và bạo hành; chúng ta thường có khuynh hướng dùng hình phạt đối với những người gây ra bạo hành, mất trật tự, để ngăn chận không cho nó trở nên nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, hình phạt chỉ đạt được những kết quả tạm thời mà thôi, chỉ có sự chuyển hóa, chuyển hóa bạo lực thành hòa hợp, đố kỵ thành tán thán, xan tham thành bố thí, bất tịnh thành thanh tịnh …mới có thể chấm dứt được bạo hành. Chúng ta không thể chỉ dựa vào những hình phạt một cách tiêu cực như thế mà phải thúc đẩy thực hiện quá trình chuyển hóa với thái độ tích cực, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, hơn nữa phải có tâm từ bi, hợp tác và công bằng, chân thành đối với tất cả chúng sanh.

Thích Chí Viên dịch
(Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Liễu Quán)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/02/2022(Xem: 9053)
Trong lịch sử, các đại dịch đã buộc nhân loại phải đoạn tuyệt với quá khứ và hy vọng ở tương lai thế giới mới của họ. Điều này không có gì khác lạ. Nó là một cổng thông tin, một cửa ngõ, giữa thế giới đương đại và thế giới tương lai. Nhà văn, nhà tiểu luận, nhà hoạt động người Ấn Độ Arundhati Roy, Đại dịch là một cổng thông tin
21/02/2022(Xem: 7769)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc hiểu biết khác nhau. Bài chuyển ngữ dưới đây đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn gốc vô minh tạo ra mọi thứ khổ đau cho con người, đã được nhà sư Tây Tạng Guéshé Lobsang Yésheé thuyết giảng tại chùa Thar Deu Ling, một ngôi chùa tọa lạc tại một vùng ngoại ô thành phố Paris, vào ngày 16 và 30 tháng 9 năm 2004. Bài giảng được chùa Thar Deu Ling in thành một quyển sách nhỏ, ấn bản thứ nhất vào năm 2006.
19/02/2022(Xem: 11896)
Nhân Tết Nhâm Dần, với tâm niệm hộ trì Tam Bảo và mừng tuổi chư Tăng tu hành nơi xứ Phật chúng con, chúng tôi vừa thực hiện một buổi cúng dường Trai Tăng & tịnh tài đến chư Tôn đức Tăng già, các bậc xuất sỹ thường trú tại khu Thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng, nơi đức Thế Tôn thành Đạo..
18/02/2022(Xem: 10608)
Phải công nhận với đà tiến triển kỹ thuật văn minh của vi tính, những gì ta có thể được tiếp xúc, thọ nhận sẽ nhiều hơn ngày trước ngàn lần ... khiến chúng ta đã có thể thay đổi dễ dàng theo sự tiến hóa của nhân loại và mở rộng sự hiểu biết với thế giới bên ngoài, hơn thế nữa ký ức chúng ta cũng được lưu lại dưới dạng hình ảnh, những bài pháp thoại và những trang cập nhật có thể truy cứu trong vài phút ...đó là lý do tôi ao ước được viết lại cảm nghĩ của mình khi nghe lại bài pháp thoại tuyệt vời từ 6 năm về trước tại Tu Viện Quảng Đức. Kính xin niệm ân tất cả nhân duyên đã cho tôi có cơ hội này ....
17/02/2022(Xem: 14924)
Cháu tìm ra chút nhân duyên Trời cao biển rộng ngoại tìm ra không? Non xanh nước biếc phiêu bồng Về già ngoại vẫn đếm đong đi tìm Một đời bay mỏi cánh chim Nghiệp duyên ba nổi bảy chìm xang bang Lên non xuống biển tìm vàng Nhân duyên bắt được chỉ toàn đá rêu
17/02/2022(Xem: 10198)
“Một con én một đoạn đường lay lất Một đêm dài nghe thác đổ trên cao Ta bước vội qua dòng sông biền biệt Đợi mưa dầm trong cánh bướm xôn xao
17/02/2022(Xem: 9974)
Phần này tiếp theo loạt bài “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes” về các Kinh Lạy Cha và Kinh A Ve (đánh số 5 và 26). Bài này chú trọng đến các dạng chữ Nôm trong bản Kinh Tin Kính (KTK) của LM Philiphê Bỉnh, đặc biệt là từ tài liệu của các LM de Rhodes và Maiorica, và cũng so sánh với các dạng chữ quốc ngữ trong tài liệu chép tay của cụ Bỉnh.
15/02/2022(Xem: 17548)
Với mục đích quảng bá Phật Pháp miễn phí đến những vị muốn Tu học Phật Pháp, Rèn luyện Anh ngữ, Luyện Dịch Việt-Anh hoặc Anh-Việt, (nhất là những vị đang sinh sống, hoặc sẽ đi hay đang du học, ở những quốc gia sử dụng tiếng Anh – cũng là ngôn ngữ quốc tế được sử dụng khắp thế giới). Thế Giới Phật Giáo .org đã thực hiện sách Song ngữ ANH-VIỆT Đối chiếu (từng đoạn văn Rất NGẮN để dể đối chiếu) sau đây.
13/02/2022(Xem: 14388)
Hiện nay chúng ta đang có 2 cách tính thời gian theo : Âm Lịch và Dương Lịch. Phương Tây và nhiều nước trên thế giới sử dụng Dương Lịch, lịch này tính theo chu kỳ tự quay xung quanh trục mình của Trái Đất và Trái Đất quay xung quanh mặt trời. Trong khi đó cách tính Âm Lịch sử dụng Can Chi, bao gồm thập Can và thập nhị Chi. Trong đó, 10 Can gồm: Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ được tạo thành từ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. 12 Chi được lựa chọn từ các con vật gần gũi với con người hoặc thuần dưỡng sớm nhất. Có một sự khác nhau trong 12 Chi giữa Âm Lịch Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam,.... đó là Chi thứ 4 là con Mèo hay con Thỏ. Ở Việt Nam, 12 con giáp gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, tương ứng với 12 con vật : Chuột, Trâu, Hổ, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà, Chó, Lợn. Khi ghép lại sẽ tạo thành 60 năm (bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12) từ các tổ hợp Can - Chi khác nhau, gọi chung là Lục Thập Hoa Giáp.
13/02/2022(Xem: 17096)
Có ông triệu phú thời xưa Tuy giàu nhưng rất nhân từ đáng khen Ông thường có một bạn quen Bạn ông thật tốt nhưng tên lạ lùng Tên “Xui” nghe xấu vô cùng Cả hai trước học một trường, ganh đua Thân tình từ thuở ấu thơ Đã từng nô giỡn, chơi đùa bên nhau Giúp nhau mọi việc trước sau Tuổi xanh tình bạn dài lâu vững vàng.