Tưởng nhớ Đức Phật

03/05/201102:20(Xem: 11308)
Tưởng nhớ Đức Phật
celestial-buddha-wat-rong
TƯỞNG NHỚ ĐỨC PHẬT
P. Gopakumar

Phật giáo là một tôn giáo được ngưỡng mộ nhất trên thế giới hiện nay, được sáng lập bởi Đức Phật Thích Ca hiệu Gautama, với niềm tin vào hòa bình, từ bi và trí tuệ, Phật giáo giúp chúng ta hiểu rõ nguyên nhân của những chấp thủ và đau khổ của con người, cũng như cung cấp cho nhân loại con đường đạt đến giải thoát khỏi những đau khổ.

Theo Phật giáo, con người là một thực thể cứu cánh, nhưng vốn bị ràng buộc, trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi. Cuộc sống con người là một biển khổ mênh mông, tất cả mọi người bất luận tôn giáo, chủng tộc hay địa vị xã hội đều không thể tránh khỏi đau khổ, đó là một sự thật không thể chối cải được.

Nguyên nhân của mọi đau khổ của con người là do Vô minh, Vô minh là nguồn gốc phát sinh mọi tham ái và chấp thủ. Nếu chuyển hóa được vô minh thành trí tuệ thì con người có thể đạt đến giải thoát khỏi mọi đau khổ trong cuộc đời. Sự chuyển hóa này hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua sự tu luyện tâm thức và giữ gìn giới luật.

Phật giáo tin rằng tất cả mọi người đều có thể đạt đến giải thoát giác ngộ, tức Niết Bàn, ngay trong đời này. Niết bàn không phải là lẫn tránh vòng sanh tử luân hồi mà là sự giải thoát của con người khỏi những chấp thủ của tâm. Niết bàn, nghĩa là một sự chấm dứt, nhưng không phải theo nghĩa chấm dứt sự sống, mà là chấm dứt hay giải thoát mọi khổ đau. Niết bàn trong Phật giáo là sự chấm dứt mọi tham ái và chấp thủ.

Đức Phật thường nhắc nhở các đệ tử rằng, mục đích tối hậu của cuộc sống là giải thoát khỏi mọi vướng mắc ràng buộc của cuộc sống chứ không phải chấm dứt đời sống. Vì vậy, một người hướng đến Niết Bàn không có nghĩa là tìm cách thoát khỏi thế giới này, mà là hiểu rõ về sự thật của thế giới này, sống trong thế giới này mà không bị ràng buộc bởi những vướng mắc, chấp thủ. Giữa một người bình thường và một người đã giác ngộ không có sự khác nhau về mặt vật lý, mà chỉ có sự khác biệt về mặt tâm linh; người đã giác ngộ thì không còn bị trói buộc bởi những tham ái và chấp thủ trong cuộc sống.

Theo Phật giáo, một hành giả muốn đạt đến giải thoát giác ngộ, phải tuân giữ giới luật và thực hành theo giáo pháp; các giáo pháp đó là Từ Bi, Nghiệp báo, Đoạn tham, Đoạn dục, Đồng sự và Bất bạo động…, nếu hành giả thoát ly khỏi cộng đồng hay xã hội thì làm sao thực hiện được pháp môn từ bi hay đồng sự được.

Ngày nay thế giới bị ngăn cách bởi các ranh giới như tôn giáo, chủng tộc, quốc tịch, ngôn ngữ, giai cấp hay ý thức hệ. Thế giới của chúng ta có rất nhiều nguồn lực, chúng ta có rất nhiều đất đai, nhiều thực phẩm và nhiều tài nguyên khác để duy trì sự sống của chúng ta, nhưng chính vì lòng tham lam vô tận của con người mà tạo nên sự hận thù và chia rẽ ngày càng gia tăng giữa các quốc gia, dân tộc với nhau. Trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy rằng: “Với hận diệt hận thù, Đời này không có được. Từ bi diệt hận thù, Là định luật ngàn thu”. Chính vì vậy, chúng ta phải biết chia sẽ và yêu thương nhau, thì mới có thể làm cho thế giới của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn.

Phật giáo cho rằng chỉ có nổ lực của chính mình mới có thể đạt đến giải thoát giác ngộ. Phật giáo bao dung tất cả sự khác biệt của mọi người về kinh nghiệm sống, bối cảnh văn hóa cũng như tín ngưỡng tôn giáo. Phật giáo là một tôn giáo của từ bi, hỷ xả và khoan dung, bình đẳng đối với tất cả mọi chúng sanh. Đạo Phật không tự rao giảng rằng, chỉ có Phật giáo mới là tôn giáo vượt trội hơn các tôn giáo khác, không phân biệt kỳ thị đối với bất kỳ ai cũng như bất kỳ tôn giáo nào, mà là bình đẳng đối với tất cả mọi người cho dù họ có tín ngưỡng khác với Phật giáo. Chính vì vậy, Phật giáo không bắt buộc ai phải cải đạo, đó là tính chất nhân bản của Phật giáo. Tất cả hữu tình chúng sanh đều được tôn trọng bình đẳng và đều có khả năng đạt đến giải thoát giác ngộ thành Phật. Và hãy nhớ rằng, trong cộng đồng thế giới có xu hướng ngày càng toàn cầu hóa này, tất cả chúng ta đều là những người mà cuối cùng phải gánh chịu những nghiệp quả xuất phát từ những hành động của chúng ta hôm nay.

Đạo Phật dạy chúng ta phải tu tập những hành vi, cử chỉ trong cuộc sống hàng ngày để đạt đến mục đích bất bạo động, từ bi và hợp tác. Đó là những bước căn bản nhất phải thực hiện, chứ không phải chỉ nói suông. Những kẻ chỉ biết kính cẩn tụng đọc kinh điển mà lơ là trong việc thực hành, tức là đã phản bội lại tinh thần chân chính của Phật giáo. Chư Phật trong quá khứ cũng đã thực hành hạnh từ bi cứu khổ và không ngừng cứu độ cho tất cả chúng sanh trong nhiều đời nhiều kiếp, và cuối cùng khi Công hạnh đã viên mãn, thành tựu quả vị Phật, đã thị hiện một Đức Hạnh cao quý như là thông điệp cho tất cả chúng ta.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi giác ngộ, đã đi khắp nơi thuyết pháp độ sanh trong suốt 49 năm, lưu lại cho chúng ta vô số kinh điển, thần chú và pháp môn tu tập. Ngài đã giáo hóa và làm gương cho nhiều vị vua quan, dân chúng từ già trẻ trai gái, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo hay giai cấp xã hội. Sự dấn thân hóa độ của Đức Phật đã thể hiện truyền thống nhân bản của Phật giáo, là tịnh hóa nhân tâm và thiết lập nhân gian tịnh độ. Hình ảnh Đức Phật là tấm gương sáng trong việc thực hành hạnh từ bi và hòa bình hợp tác.

Để nối theo gót chân Phật, trước hết chúng ta phải biết phát hiện và nuôi dưỡng Phật tính vốn có, cũng như phát khởi và nuôi dưỡng Bồ Đề tâm có sẳn trong mỗi chúng ta để mở toang cánh cửa giải thoát giác ngộ, giải thoát hết mọi khổ đau trong cuộc đời. Bằng sự phát hiện và nuôi dưỡng kho báu vô giá đó, chúng ta có thể giúp cho tất cả hữu tình chúng sanh khác phát hiện những đức tính vốn có sẳn trong họ như từ, bi, hỷ, xã, thanh tịnh, trang nghiêm và sự báo ân. Có nhiều phương pháp nhỏ có thể giúp ta khởi động quá trình đi tìm kho báu vô giá đó, chẳng hạn như phải biết tôn trọng sự sống của mình cũng như tất cả mọi loài, tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên, phải có thái độ biết ơn, đừng tham lam và biết tri túc…

Chúng ta cần phải xét lại những ứng phó xưa nay của chúng ta đối với sự mất trật tự và bạo hành; chúng ta thường có khuynh hướng dùng hình phạt đối với những người gây ra bạo hành, mất trật tự, để ngăn chận không cho nó trở nên nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, hình phạt chỉ đạt được những kết quả tạm thời mà thôi, chỉ có sự chuyển hóa, chuyển hóa bạo lực thành hòa hợp, đố kỵ thành tán thán, xan tham thành bố thí, bất tịnh thành thanh tịnh …mới có thể chấm dứt được bạo hành. Chúng ta không thể chỉ dựa vào những hình phạt một cách tiêu cực như thế mà phải thúc đẩy thực hiện quá trình chuyển hóa với thái độ tích cực, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, hơn nữa phải có tâm từ bi, hợp tác và công bằng, chân thành đối với tất cả chúng sanh.

Thích Chí Viên dịch
(Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Liễu Quán)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/2013(Xem: 18876)
Bodh Gaya (Bihar), Ngày 3, tháng 12, năm 2013 – Lễ trùng tụng Tam tạng thánh điển quốc tế đã cử hành tại Bồ Đề Đạo Tràng thuộc tỉnh Bihar, Ấn độ. Hàng ngàn chư Tăng và Phật tử trên toàn thế giới đang tham dự buổi lễ này. Buổi lễ 10 ngày được tham dự bởi chư Tăng và Phật tử từ các quốc gia như Bangladesh, Căm bốt, Ấn độ, Nepal, Miến điện, Thái lan, Tích lan và Việt nam sẽ chấm dứt vào ngày 12 tháng 12 năm 2013.
08/12/2013(Xem: 44753)
Khi thực tập thiền Lạy, ta nhìn sâu vào thân ta để thấy rằng thân này không đích thực là ta, không phải là vật sở hữu của ta. Trong thân này không có cái gì gọi là cái ta riêng biệt để bám víu. Tuy nhiên, thân thể ta là một hợp thể rất mầu nhiệm, nó chứa đựng cả tinh hà vũ trụ bao la. Ta thấy được tất cả các thế hệ tổ tiên, con cháu của ta đều có mặt trong thân ta. Ta cảm nhận sự có mặt của họ trong từng tế bào của cơ thể. Họ luôn có mặt trong ta và chung quanh ta. Họ cũng như các yếu tố khác đã kết hợp lại để làm nên sự sống của ta. Ta có thể tiếp xúc với những yếu tố như đất, nước, lửa và không khí - bốn đại trong ta và ngoài ta. Ta thấy ta như một con sóng trên mặt đại dương. Con sóng này được hình thành bởi các con sóng khác.
07/12/2013(Xem: 38401)
Phật Ngọc, ước nguyện hòa bình thế giới
07/12/2013(Xem: 15773)
Các Phật tử nam lắng nghe chăm chú, các Phật tử nữ lặng nhìn, nghe Hòa thượng khai thị. Có lẽ ai nấy cũng chạnh lòng khi biết rằng, chính tại ngôi chùa Cực Lạc Cảnh Giới này, TT. Hạnh Nguyện đang ngày đêm nguyện cầu chư Phật, hộ pháp gia hộ cho công trình xây dựng Chùa Cực Lạc Cảnh Giới sớm thành tựu, và là nơi nương tựa, tu học tâm linh quan trọng của bà con Phật tử Việt Nam ở hải ngoại.
07/12/2013(Xem: 14902)
Sáng ngày 4/12, chùa Việt Nam mới có tầm cỡ bậc nhất tại Thái Lan “Cực Lạc Cảnh Giới” (WAT PA SUKAWADEE) địa chỉ: 75 Moo, 6 Tambon Samoeng-Nue Samoeng, ChiangMai, ThaiLand đã trang nghiêm tổ chức lễ xuất gia cho sáu cư sĩ bạch y Ưu Bà Tắc, dưới sự chứng minh của HT.Thích Như Điển – Tổng thư ký GHPGVNTN Châu Âu- Phương trượng chùa Viên Giác (CHLB Đức), TT.Thích Hạnh Nguyện – trụ trì chùa Cực Lạc Cảnh Giới, TT. Thích Nguyên Hiền – trụ trì chùa Vĩnh Minh (Lâm Đồng)…, gần 80 Tăng Ni Phật tử về tham dự.
07/12/2013(Xem: 12203)
Không ai không muốn xây dựng xã hội mình đang sống thành một xã hội ổn định, có sức sống phát triển bền vững và tốt đẹp. một xã hội tốt đẹp khi có: - Một hướng đi tiến bộ được đa số đồng thuận tin tưởng. - Một sự ổn định trật tự, nghĩa là có tinh thần chịu chấp nhận nhũng kỷ luật chung bắt nguồn từ trung tâm.
07/12/2013(Xem: 13189)
Khi đức Phật đi giáo hóa đến ngự tại động Thất Diệp thuộc núi Kỳ xà Quật gần thành La Duyệt, một hôm con một Trưởng giả tên Thiện Sinh, sáng sớm tắm rửa xong, ra khỏi thành vào vườn cây, dùng hương lễ lạy sáu phương. Lúc ấy, đức Phật đang ở tại động Thất Diệp, Ngài quán sát chúng sinh, thấy vậy, Ngài liền đến chỗ ấy (bằng thần thông) ngay khi Thiện Sinh vừa lễ lạy xong; khi gặp, Ngài nói với thanh niên rằng:
06/12/2013(Xem: 15262)
Người làm vườn chậm rãi quét lá. Cuối đông, những cây phong - lá đổi mầu từ xanh tươi sang đỏ, vàng - đang rụng những chiếc cuối. Thời gian không âm thanh, không hình tướng mà lại hiện hữu rõ rệt ở mọi nơi, mọi vật qua những đổi thay, luân chuyển của đất trời. Hoa ấy rực rỡ đầu hè, đã úa tàn cuối thu; mầm ấy trồi xanh tháng lạnh, cành lá đã xum xê khi nắng ấm; quỳnh nẩy nụ ngày xuân, đêm trăng rằm tháng hạ đã chợt ngạt ngào hương sắc…….
05/12/2013(Xem: 17199)
Từ Tam Kỳ tôi về lại Đà Nẵng năm 1965 để hầu ôn Phổ Thiên và tiếp tục đi học tại trường trung học Phan Châu Trinh. Ôn cư ngụ tại Chùa Diệu Pháp, nhưng thường xuyên sinh hoạt tại Chùa Phổ Đà. Hai chùa cách nhau năm bảy căn nhà
03/12/2013(Xem: 82494)
Người ta thường nói :"Ăn cơm có canh, tu hành có bạn". Đối với tôi, câu nói này thật là quá đúng. Ngày nhỏ chưa biết gì nhưng từ khi làm Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử tôi đã thấy ích lợi của một Tăng thân. Chúng tôi thường tập trung thành từng nhóm 5,7 người để cùng nhau tu học. Giai đoạn khó khăn nhất là sau 75 ở quê nhà. Vào khoảng 1985, 86 các anh lớn của chúng tôi muốn đưa ra một chương trình tu học cho các Huynh Trưởng trong Ban Hướng Dẫn Tỉnh và những Htr có cấp nên đã tạo ra một lớp học Phật pháp cho các Htr ở Sàigòn và các tỉnh miền Nam. Nói là "lớp học" nhưng các Chúng tự học với nhau, có gì không hiểu thì hỏi quý Thầy, các Anh và kinh sách cũng tự đi tìm lấy mà học. Theo qui định của các Anh, Sàigòn có 1 Chúng và mỗi tỉnh có 1 Chúng. Chúng tu học của chúng tôi (Sàigòn) có tên là Chúng Cổ Pháp và phải thanh toán xong các bộ kinh sau đây trong thời gian tối đa là 3 năm: