Gõ cửa nhân gian

13/04/201104:53(Xem: 10369)
Gõ cửa nhân gian

GÕ CỬA NHÂN GIAN

Hạnh Chiếu

Rất tĩnh lặng. Rất một mình. Phật gõ cửa nhân gian. Như Lai đến với chúng sinh bằng trái tim trinh nguyên. Trong và sạch vô ngần.

Canh năm đêm thứ bốn mươi chín, khi sao Mai vừa mọc, Thế Tôn hùng dũng nhổ bật cái gốc rễ cuối cùng đã cắm sâu vào cuộc tử sinh dòng luân hồi vô thuỷ. Vô minh vụn vỡ. Ngã ái được khai quật tan hoang. Sương rừng say khướt toà cỏ, long lanh ngấn lệ. Uy linh chấn động tam thiên, thế gian tràn ngập ánh hào quang giác ngộ, mừng Đấng Vô thượng Điều ngự sư ra đời.

Ngày ấy đến bây giờ vẫn huy hoàng trí tụê, vẫn rạt rào suối nguồn từ bi. Đức Phật cho rất nhiều, mà chẳng hề đòi lại dù bao nhiêu. Thế Tôn sống đời tự tại, không toan tính muộn phiền, không lo lắng ưu tư. Làm gì cho chúng sinh được an vui hạnh phúc thì không hề hồi tiếc ăn năn, dù phải xả bỏ thân mạng. Người có tâm tham lam, Như Lai gõ cửa để mở tâm tham lam. Người có tâm sân giận, Như Lai gõ cửa để mở tâm sân giận. Người có tâm kiêu mạn, tật đố, si mê… Như Lai gõ cửa để mở các tâm ấy ra cho họ. Cứ thế Như Lai gõ cửa từng nhà, từng chúng sinh hữu duyên. Vì thế Như Lai ngự trị trọn vẹn trong trái tim của muôn loài.

Đề Bà Đạt Đa suốt một đời rượt đuổi theo Thế Tôn muốn lấy hết, cướp hết những gì Đức Phật có. Như Lai câu nệ làm chi. Cho hết. Đáng tiếc người đệ tử mà cũng là người anh em, không thể nhận được gia sản nhà mình. Tâm chân thật là nguồn Thánh bảo vô tận, không phải của mình, không có thần dụng, đột nhập vào được sao? Thua Phật. Ông không chịu quày đầu, không chịu tu tỉnh mà còn điên loạn thả voi say giết Phật, lăn đá trên đỉnh núi xuống cho Phật nát thây, cấu kết với vua A Xà Thế lật đổ Thế Tôn… nhiều chuyện lắm. Cuối cùng mưu sự không thành, quỳ dưới chân đấng Điều Ngự. Ông khóc. Đức Phật thương quá, sẵn lòng bỏ qua tất cả, đưa tay kéo ông lên. Thế Tôn kéo Đề Bà Đạt Đa lên từ hố thẳm của lòng tham lam thù hận, từ vô minh khát ái, từ cuồng vọng si mê, đưa người anh em trở lại ánh sáng, thọ ký cho ác hữu mai này sẽ thành Phật. Kết cuộc thật có hậu. Đức Phật sống đối xử với chúng đệ tử, với chúng sinh luôn luôn như thế. Bởi vì Thế Tôn có Tứ vô lượng tâm: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm. Nên Thế Tôn là bậc trí lực, diệu lực nan tư nghì.

Chúng ta thương người bình thường với mình đã là khó rồi, nói gì đến chuyện thương người ghét mình, đối xử tệ với mình. Chuyện đó thật cay. Học Phật ta ngưỡng mộ Phật, nể Phật hết lòng, nhưng làm điều Phật làm, nói lời Phật nói, thật tình ta chưa làm nổi. Tại vì ta chưa nhập được tâm Phật. Tâm Phật ở đâu? Phật bảo ở trong tâm ta. Tâm ta ở đâu? Phật bảo ở trong tâm Phật. Ô hay! Té ra Phật và mình chưa hề rời nhau.

Thế nhưng cả thế gian này loanh quanh lẩn quẩn đi tìm Phật từ hồi đó cho tới bây giờ. Lạ chưa? Lẽ ra đâu có chúng sinh, lẽ ra đâu có Phật. Đâu có Ta bà khổ, đâu có Phật thị hiện ra nơi đời để cứu khổ chúng sinh. Cũng tại cái mê vọng loanh quanh lẩn quản mà ra, rồi sơn hà đại địa theo đó huyễn sinh huyễn diệt trong thể tánh chơn thường, vô số chúng sinh nhiêu động kêu cứu trong ấy. Thật là thế gian này có mà như chưa từng có, quả nhiên không mà như chưa từng không.

Chư Tổ nói bản tâm không một vật, không xưa không nay, mênh mông bất tận, diệu dụng vô cùng. Phật bảo chỉ có dừng lại mọi vọng tưởng đảo điên mới trở về được với tâm chân thật này. Ta chưa dừng được vọng tưởng, nên chưa thể hành xử như Phật, như Tổ. Chưa thể thôi, chứ không phải là không thể. Rất là có thể. Phật bảo tình sinh thì trí cách, tình sạch thì trí sinh. Thế thôi.

Nếu đem tâm thương ghét của thế gian đong đếm cân phân thì con sâu cái kiến cũng không có chỗ dung trong lòng ta, nói gì đến chuyện đem tình thương này chia đều cho người ta thương và người chưa thương? Một khi trí tuệ chưa khai phát thì tình yêu thương rất dễ rơi vào cạm bẫy của sự luyến ái buộc ràng. Đã sụp vào bẫy này thì thua. Cho nên Phật dạy chúng ta trước lo tu cái đã, những việc khác làm theo chẳng vội. Như vậy sẽ yên ổn hơn, vững vàng hơn. Như Lai cũng thế. Ngài tu xong rồi mới gõ cửa nhân gian. Đã là người tu, phải thật cẩn thận. Một bước phiêu linh là muôn kiếp phù trầm.

Gốc rễ vô minh rất dễ sợ. Vì vô minh nên ái ngã. Vì ái ngã nên ta cố bám víu vào thân tâm này thật cứng chắc. Sợ mất thân, mất những gì của thân. Suốt một đời sống trong sợ hãi và lo toan cho tấm thân huyễn mộng. Bám theo cái giả tạm thì có khác gì gởi đời mình vào chùm bọt nước. Thế mà ta vẫn cứ bám. Đức Phật thiền định dưới cội bồ đề đã giải quyết xong việc này. Giải quyết tận căn để. Thế Tôn dùng trí tuệ phá tan vô minh, vĩnh viễn thoát khỏi sinh tử, chấm dứt vòng luân hồi. Ngài hết sợ. Là đệ tử Phật, nối gót Như Lai đi vào đời, nhưng chúng ta chẳng dám gõ cửa nhà ai. Tại vì mình còn sợ. Phải mở được cửa bản tâm thì mới dám gõ cửa nhân gian. Ta chưa mở được cánh cửa tâm làm sao dám động tới cả toà tam giới. Thật là tệ hại quá đi.

Hôm nay kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh, lại một lần nữa chúng ta cảm nhận uy vũ của Thế Tôn dưới cội bồ đề hơn hai nghìn năm trăm năm trước cho tới bây giờ vẫn còn vang rền, làm chấn động cung ma. Phật đã dùng cung thiền định, kiếm trí tuệ vung lên chặt hết mê tình từ vô thuỷ kiếp, hùng dũng tung ra khỏi vạn trùng lưới vô minh, đưa chúng sinh vượt thoát bể khổ trầm luân. Thật không gì có thể nói hết được về Đấng chí tôn. Bậc trí lực, hùng lực, vạn đức từ dung, siêu xuất thế gian. Cao khiết vô nhiễm nhưng lại rất gần. Vì Phật luôn có mặt trong từng chúng sinh. Toàn thể chúng hàm linh xin được nép mình quy ngưỡng.

Chúng con nguyện suốt đời và nhiều đời sau, đem thân tâm này noi gương hạnh Phật, mở cho được cánh cửa tâm chân thật của mình và tiếp tục nối bước hành hoá của Như Lai… Gõ cửa nhân gian.

Hạnh Chiếu

Source: thuvienhoasen
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/08/2020(Xem: 14815)
Phần này bàn về cách dùng quan tiền và các cách tính tiền thời trước và thời LM de Rhodes, dựa vào tự điển Việt Bồ La và một số tài liệu chữ quốc ngữ và nước ngoài. Ngoài ra, một số nhận xét của người ngoại quốc khi dùng đồng tiền An Nam cũng cho thấy thực trạng của loại tiền này. Các phê bình này hầu như thiếu vắng trong tài liệu Hán, Nôm hay chữ quốc ngữ. Đây là những chủ đề có rất ít người đề cập hay khảo sát sâu xa.
25/08/2020(Xem: 18889)
Cư sĩ George Kinder được Quốc tế công nhận là Cha đẻ Phong trào Lập Kế hoạch Cuộc sống(*), ông được đào tạo tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ và đã thực hiện một cuộc cách mạng về tư vấn tài chính trong hơn 30 năm, bằng cách đào tạo hơn 3.000 chuyên gia tại 30 quốc gia trong lĩnh vực tài chính lập Kế hoạch Cuộc sống (the field of financial Life Planning). Ông thành lập Viện Kế hoạch Cuộc sống Kinder (the Kinder Institute of Life Planning) vào năm 2003 sau 30 năm làm nhà Hoạch định tài chính và Cố vấn thuế.
25/08/2020(Xem: 9807)
Lịch sử thật là muôn hình vạn trạng, các Sử gia lại càng biến hóa khôn lường. Họ cứ như một tiểu thuyết gia tài tình, uốn nắn nhân vật trong truyện với ngòi bút tinh xảo đầy quyền uy của mình thành một nhân vật như ý muốn: "Muốn sống được sống, muốn chết được chết và đặc biệt đang từ một Nữ Hoàng Đế mộ Đạo Phật trở thành một người phụ nữ dâm đãng, tàn ác giết người không thương tiếc". Nhân vật tôi muốn viết dưới đây là vị Nữ Hoàng Đế của triều đại Đường bên Trung Quốc: Võ Tắc Thiên, người đàn bà lừng danh kim cổ có một không hai trong lịch sử loài người.
25/08/2020(Xem: 10791)
(Ghi chú của người dịch: Bài này dịch từ bài viết năm 2005 nhan đề “Two Styles of Insight Meditation” của Đại sư Bodhi, người đã dịch hầu hết Kinh Tạng Pali sang tiếng Anh. Bài này nêu ra hai phong cách: nhóm thứ nhất, những người dùng thiền chánh niệm cho các mục tiêu thế gian, và nhóm thứ nhì, những người có niềm tin Phật Giáo và dùng thiền chánh niệm cho lộ trình tu học giải thoát. Thiền chánh niệm hiện đang dùng cho nhiều mục tiêu trần gian, ở bệnh viện, trường học, quân đội… Thiền đưa tới nhiều lợi ích tới nổi nhiều tu sĩ các tôn giáo khác cũng Thiền tập và ứng dụng theo kiểu riêng của họ.
23/08/2020(Xem: 10820)
Cư sĩ Julian Bound và nữ cư sĩ Ann Lachieze, họa sĩ minh họa sách nổi tiếng rất quý mến thân thiện với nhau khi tuổi còn ấu thơ, không ngờ nửa thế kỷ sau họ cùng hợp tác để xuất bản sách mới về Phật giáo. Tác phẩm này là một truyện về thiếu nhi Phật tử, với tựa đề “The Little Monk who loved his Noodles” (Chú tiểu yêu thích món mì) được viết bởi cư sĩ Julian Bound và minh họa bởi cư sĩ Ann Lachieze.
23/08/2020(Xem: 10803)
Thời nay mà còn nói đến chữ “hiếu” sẽ có người cho là cổ hủ, lỗi thời. Kỳ thực, đạo hiếu, đạo làm con (1) thời xưa đã bị chê là lỗi thời theo sự xuống trào, mất ảnh hưởng của Việt-Nho từ giữa thế kỷ 19 rồi, không phải đợi đến ngày nay.
21/08/2020(Xem: 9398)
Trên vách hai bên tả hữu mặt tiền của chánh điện An Tường Ni Tự (phường Vĩnh Phước- Nha Trang), khi đứng ngắm nghía để chụp hình, tôi thấy có hai bản thư pháp tiếng Hán, tạm gọi là vậy, được chạm nổi và được sơn màu nâu trên nền màu vàng nhạt, rất ấn tượng. Là người dốt đặc tiếng Hán, nên tôi không hiểu chút xíu xiu mảy may nào về ý nghĩa của hai bản thư pháp này, nhưng nhìn cách trình bày theo "ngũ ngôn tứ cú" thì tôi cũng đoán ra được đó có lẽ là hai bài... thơ, mà nếu đang được chạm nổi trên vách của chánh điện chùa thì dám chắc luôn phải là hai bài... Kệ.
21/08/2020(Xem: 14076)
Xem như từ cuối năm 2019, dịch Corona khởi phát từ Vũ Hán đến tháng 3/2020 đã trở thành “đại dịch” Covid-19, đang lan tràn khắp toàn cầu, đến nay đã 215 quốc gia và vùng lãnh thổ bị lây nhiễm với số liệu tính đến ngày 20/8/2020 theo iHS VIET NAM như sau: người mắc: 22.454.505 điều trị khỏi: 15.169.811 người tử vong: 787.385
21/08/2020(Xem: 9427)
Vào hôm thứ Hai, ngày 27 tháng 7 năm 2020, một cuộc họp trực tuyến (online) của nội các do bà Sheikh Hasina, Thủ tướng Chính phủ Bangladesh chủ trì, đã thông qua dự thảo thỏa thuận giữa Tổ chức Lumbini Development Trust of Nepal và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Bangladesh về việc xây dựng tu viện Phật giáo Bangladesh. Tu viện Phật giáo được đề xuất sẽ được xây dựng tại Lâm Tỳ Ni, nơi Đản sinh của Đức Phật lịch sử. Việc xây dựng được bắt đầu với lợi ích cá nhân, và kế hoạch của Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Nhân dân Bangladesh tại Nepal, Mashfee Binte Shams, và Bí thư thứ nhất, Asit Baran Sarkar.
20/08/2020(Xem: 14085)
Kinh Kim Cang Bát Nhã được ngài Cưu Ma La Thập (344-413) dịch từ tiếng Phạn sang Hán văn, và được thái tử Chiêu Minh (499-529) chia bố cục ra 32 chương. Đây là một trong những bộ kinh quan yếu nhất của Thiền Tông Trung Hoa đặc biệt từ thời Lục Tổ Huệ Năng (638- 713), người đã ngộ đạo, kiến tánh qua câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" trong lời khai thị từ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (601-674). Cụm từ "Ưng Vô Sở Trụ" được nhắc đến hai lần trong kinh: lần 1st ở chương 4 ("Diệu Hạnh Vô Trụ") và lần 2nd ở chương 10th ("Trang Nghiêm Tịnh Độ). Đây không là sự trùng lặp mà mà là sự tiến triển vi diệu về ý nghĩa của cụm từ này với rất nhiều hàm tàng đặc sắc và quan trọng trong phân biệt nhận thức theo Duy Thức Học cùng hành trì tu tập Phật đạo.