Gõ cửa nhân gian

13/04/201104:53(Xem: 10487)
Gõ cửa nhân gian

GÕ CỬA NHÂN GIAN

Hạnh Chiếu

Rất tĩnh lặng. Rất một mình. Phật gõ cửa nhân gian. Như Lai đến với chúng sinh bằng trái tim trinh nguyên. Trong và sạch vô ngần.

Canh năm đêm thứ bốn mươi chín, khi sao Mai vừa mọc, Thế Tôn hùng dũng nhổ bật cái gốc rễ cuối cùng đã cắm sâu vào cuộc tử sinh dòng luân hồi vô thuỷ. Vô minh vụn vỡ. Ngã ái được khai quật tan hoang. Sương rừng say khướt toà cỏ, long lanh ngấn lệ. Uy linh chấn động tam thiên, thế gian tràn ngập ánh hào quang giác ngộ, mừng Đấng Vô thượng Điều ngự sư ra đời.

Ngày ấy đến bây giờ vẫn huy hoàng trí tụê, vẫn rạt rào suối nguồn từ bi. Đức Phật cho rất nhiều, mà chẳng hề đòi lại dù bao nhiêu. Thế Tôn sống đời tự tại, không toan tính muộn phiền, không lo lắng ưu tư. Làm gì cho chúng sinh được an vui hạnh phúc thì không hề hồi tiếc ăn năn, dù phải xả bỏ thân mạng. Người có tâm tham lam, Như Lai gõ cửa để mở tâm tham lam. Người có tâm sân giận, Như Lai gõ cửa để mở tâm sân giận. Người có tâm kiêu mạn, tật đố, si mê… Như Lai gõ cửa để mở các tâm ấy ra cho họ. Cứ thế Như Lai gõ cửa từng nhà, từng chúng sinh hữu duyên. Vì thế Như Lai ngự trị trọn vẹn trong trái tim của muôn loài.

Đề Bà Đạt Đa suốt một đời rượt đuổi theo Thế Tôn muốn lấy hết, cướp hết những gì Đức Phật có. Như Lai câu nệ làm chi. Cho hết. Đáng tiếc người đệ tử mà cũng là người anh em, không thể nhận được gia sản nhà mình. Tâm chân thật là nguồn Thánh bảo vô tận, không phải của mình, không có thần dụng, đột nhập vào được sao? Thua Phật. Ông không chịu quày đầu, không chịu tu tỉnh mà còn điên loạn thả voi say giết Phật, lăn đá trên đỉnh núi xuống cho Phật nát thây, cấu kết với vua A Xà Thế lật đổ Thế Tôn… nhiều chuyện lắm. Cuối cùng mưu sự không thành, quỳ dưới chân đấng Điều Ngự. Ông khóc. Đức Phật thương quá, sẵn lòng bỏ qua tất cả, đưa tay kéo ông lên. Thế Tôn kéo Đề Bà Đạt Đa lên từ hố thẳm của lòng tham lam thù hận, từ vô minh khát ái, từ cuồng vọng si mê, đưa người anh em trở lại ánh sáng, thọ ký cho ác hữu mai này sẽ thành Phật. Kết cuộc thật có hậu. Đức Phật sống đối xử với chúng đệ tử, với chúng sinh luôn luôn như thế. Bởi vì Thế Tôn có Tứ vô lượng tâm: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm. Nên Thế Tôn là bậc trí lực, diệu lực nan tư nghì.

Chúng ta thương người bình thường với mình đã là khó rồi, nói gì đến chuyện thương người ghét mình, đối xử tệ với mình. Chuyện đó thật cay. Học Phật ta ngưỡng mộ Phật, nể Phật hết lòng, nhưng làm điều Phật làm, nói lời Phật nói, thật tình ta chưa làm nổi. Tại vì ta chưa nhập được tâm Phật. Tâm Phật ở đâu? Phật bảo ở trong tâm ta. Tâm ta ở đâu? Phật bảo ở trong tâm Phật. Ô hay! Té ra Phật và mình chưa hề rời nhau.

Thế nhưng cả thế gian này loanh quanh lẩn quẩn đi tìm Phật từ hồi đó cho tới bây giờ. Lạ chưa? Lẽ ra đâu có chúng sinh, lẽ ra đâu có Phật. Đâu có Ta bà khổ, đâu có Phật thị hiện ra nơi đời để cứu khổ chúng sinh. Cũng tại cái mê vọng loanh quanh lẩn quản mà ra, rồi sơn hà đại địa theo đó huyễn sinh huyễn diệt trong thể tánh chơn thường, vô số chúng sinh nhiêu động kêu cứu trong ấy. Thật là thế gian này có mà như chưa từng có, quả nhiên không mà như chưa từng không.

Chư Tổ nói bản tâm không một vật, không xưa không nay, mênh mông bất tận, diệu dụng vô cùng. Phật bảo chỉ có dừng lại mọi vọng tưởng đảo điên mới trở về được với tâm chân thật này. Ta chưa dừng được vọng tưởng, nên chưa thể hành xử như Phật, như Tổ. Chưa thể thôi, chứ không phải là không thể. Rất là có thể. Phật bảo tình sinh thì trí cách, tình sạch thì trí sinh. Thế thôi.

Nếu đem tâm thương ghét của thế gian đong đếm cân phân thì con sâu cái kiến cũng không có chỗ dung trong lòng ta, nói gì đến chuyện đem tình thương này chia đều cho người ta thương và người chưa thương? Một khi trí tuệ chưa khai phát thì tình yêu thương rất dễ rơi vào cạm bẫy của sự luyến ái buộc ràng. Đã sụp vào bẫy này thì thua. Cho nên Phật dạy chúng ta trước lo tu cái đã, những việc khác làm theo chẳng vội. Như vậy sẽ yên ổn hơn, vững vàng hơn. Như Lai cũng thế. Ngài tu xong rồi mới gõ cửa nhân gian. Đã là người tu, phải thật cẩn thận. Một bước phiêu linh là muôn kiếp phù trầm.

Gốc rễ vô minh rất dễ sợ. Vì vô minh nên ái ngã. Vì ái ngã nên ta cố bám víu vào thân tâm này thật cứng chắc. Sợ mất thân, mất những gì của thân. Suốt một đời sống trong sợ hãi và lo toan cho tấm thân huyễn mộng. Bám theo cái giả tạm thì có khác gì gởi đời mình vào chùm bọt nước. Thế mà ta vẫn cứ bám. Đức Phật thiền định dưới cội bồ đề đã giải quyết xong việc này. Giải quyết tận căn để. Thế Tôn dùng trí tuệ phá tan vô minh, vĩnh viễn thoát khỏi sinh tử, chấm dứt vòng luân hồi. Ngài hết sợ. Là đệ tử Phật, nối gót Như Lai đi vào đời, nhưng chúng ta chẳng dám gõ cửa nhà ai. Tại vì mình còn sợ. Phải mở được cửa bản tâm thì mới dám gõ cửa nhân gian. Ta chưa mở được cánh cửa tâm làm sao dám động tới cả toà tam giới. Thật là tệ hại quá đi.

Hôm nay kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh, lại một lần nữa chúng ta cảm nhận uy vũ của Thế Tôn dưới cội bồ đề hơn hai nghìn năm trăm năm trước cho tới bây giờ vẫn còn vang rền, làm chấn động cung ma. Phật đã dùng cung thiền định, kiếm trí tuệ vung lên chặt hết mê tình từ vô thuỷ kiếp, hùng dũng tung ra khỏi vạn trùng lưới vô minh, đưa chúng sinh vượt thoát bể khổ trầm luân. Thật không gì có thể nói hết được về Đấng chí tôn. Bậc trí lực, hùng lực, vạn đức từ dung, siêu xuất thế gian. Cao khiết vô nhiễm nhưng lại rất gần. Vì Phật luôn có mặt trong từng chúng sinh. Toàn thể chúng hàm linh xin được nép mình quy ngưỡng.

Chúng con nguyện suốt đời và nhiều đời sau, đem thân tâm này noi gương hạnh Phật, mở cho được cánh cửa tâm chân thật của mình và tiếp tục nối bước hành hoá của Như Lai… Gõ cửa nhân gian.

Hạnh Chiếu

Source: thuvienhoasen
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2014(Xem: 11357)
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
31/10/2014(Xem: 12086)
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha. Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
31/10/2014(Xem: 11076)
Mùa Xuân ta lên núi Hăm hở làm sơn ̣̣đồng Bỏ con đường khói bụi Cho sách vở vời trông... Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
28/10/2014(Xem: 10623)
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
26/10/2014(Xem: 12938)
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
24/10/2014(Xem: 22292)
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
24/10/2014(Xem: 11255)
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen. Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
23/10/2014(Xem: 19679)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại. Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.
23/10/2014(Xem: 11423)
Bằng cách này hay cách khác, Đức Phật luôn gợi nhắc cho chúng ta rằng mỗi người chúng ta đều sở hữu các khả năng và phẩm chất tốt đẹp, cần phải biết vận dụng và phát huy để làm cho cuộc sống trở nên giàu sang hiền thiện, tránh mọi khổ đau và để thực nghiệm hạnh phúc an lạc. Trong bài kinh Nghèo khổ thuộc Tăng Chi Bộ, Ngài đơn cử câu chuyện một người nghèo túng về của cải vật chất nhưng không biết cách nỗ lực khắc phục tình trạng nghèo khó của mình nên phải liên tiếp rơi vào các cảnh ngộ khó khăn để nhắc nhở chúng ta về các tai họa khổ đau mà chúng ta sẽ phải đối diện, nếu không biết nỗ lực nuôi dưỡng và phát huy các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình.
23/10/2014(Xem: 14775)
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…