Xin Cứu Ðộ Mẹ Ðất

25/01/201111:15(Xem: 19068)
Xin Cứu Ðộ Mẹ Ðất

Xin Cứu Độ Mẹ Đất
Thích Trí Siêu
xincuudomedat_thichtrisieuSách này nói về sự liên quan chặt chẽ giữa con người và trái đất, cả hai đồng sinh cộng tử. Con người không thể sống riêng lẻ một mình nếu các loài khác bị tiêu diệt.

Mục Lục

Part I
Lời nói đầu
I/ Mẹ Đất
II/ Mẹ Đất đang bị tàn hoại
1. Màng ozone bị thủng lỗ
2. Bầu khí quyển tăng nhiệt
3. Rùng cây bị đốn phá
4. Đất mầu thành đất muối
5. Sông biển thành cống rãnh
Part II

III/ Mẹ Đất bệnh thì chúng sinh bệnh
1. Xã hội nô lệ hóa
2. Tỵ nạn thiên nhiên
3. Không khí, nước và thức ăn ô nhiễm
IV/ Nguyên nhân Mẹ Đất bệnh
1. Sự u mê, tham lam, ích kỷ
2. Gương xưa châu Đại Dương
V/ Xin cứu độ Mẹ Đất
1. Phật pháp bất ly thế gian pháp
2. Sống đời tỉnh thức
3. Hiếu sinh và tình thương nhân loại
4. Thiểu dục tri túc
5. Thông điệp

Lời nói đầu

Từ nay cho đến năm 2000, có nhiều người đang chờ đợi một tai họa lớn lao khủng khiếp sẽ xảy đến trên Trái Đất, vì có nhiều sấm ký thuộc vài tôn giáo khác nhau đã nói đến cuộc thay đời đổi thế. Như trong đạo Chúa, sách thánh kinh Khải Huyền (Apocalypse) có nói đến ngày tận thế, tức cuộc chiến đấu cuối cùng giữa hai mãnh lực thiện và ác, giữa Thiên Chúa và quỷ Satan. Trong cuộc chiến này, nhân loại trên địa cầu sẽ bị tàn sát và tiêu diệt gần hết bởi chiến tranh, thiên tai, bão lụt, hạn hán, cướp bóc v.v... Sấm Trạng Trình cũng có nói đến việc chết bảy còn ba, chết hai còn một lúc đó thiên hạ mới được thái bình. Một số tín đồ của Đạo Cao Đài, Hòa Hảo, theo sấm ký của Huỳnh Giáo Chủ và các bậc tôn sư của họ, cũng đã lo chuẩn bị tu nhân tích đức, làm lành lánh ác để đón chờ ngày tận thế và hội Long Hoa. Ngoài ra còn nhiều đạo giáo khác cũng đang sửa soạn cho cuộc đổi đời, như phong trào New-Age (Kỷ nguyên mới) của Mỹ, họ ca ngợi và rao giảng tình thương cùng những sự tu tập mới lạ, hầu có thể tiếp nối thích ứng với kỷ nguyên mới, tức kỷ nguyên Bảo Bình (Ere du Verseau) bắt đầu từ năm 2000 trở đi. Theo họ, con người trong kỷ nguyên mới này sẽ có đời sống đạo đức, tâm linh rất cao, không còn bám víu vào những chủ nghĩa duy vật, không còn đam mê vật chất, biết sống an vui hạnh phúc trong tình thương chân thật. Ở cuối kỷ nguyên Song Ngư (Ere du Poisson), con người mặc dù có tiến bộ về khoa học, nhưng trình độ tâm linh còn nghèo nàn, ấu trỉ và thoái hóa ! Chỉ biết lấy, nhận mà không biết cho và chia xẻ. Chỉ biết vơ vét làm giàu cho mình, còn kẻ khác nghèo đói thì mặc kệ. Chỉ biết hưởng thụ khoái lạc vật chất nhất thời mà không ý thức được hậu quả tai hại về sau.

Riêng trong đạo Phật của chúng ta không thấy nói gì về sự biến chuyển của cuối thế kỷ 20. Thiết nghĩ không cần phải có sấm ký của Phật hay Tổ để lại mới nhận ra được rằng quả đất đang lâm nguy. Chỉ cần thấy nhân là có thể đoán biết quả sẽ ra sao ? Nhưng chúng ta đâu có để ý thực tại, còn mải mê tầm chương trích cú, dịch kinh giảng luận, đi tìm chân lý trong kinh sách, trong khi đó kinh sách không phải là chân lý mà chỉ là những ngón tay chỉ mặt trăng. Chân lý cần được tìm thấy trong thực tại sống động, vậy mà chúng ta vẫn còn cố gắng bám víu vào những hình thức cũ xa xưa. Chúng ta chỉ hạn cuộc Đạo Phật của mình trong việc xây chùa, đắp tượng, hay việc ăn chay, tụng kinh, niệm Phật. Phải chăng vì thế mà Phật Giáo Việt Nam ở Hải Ngoại không hấp dẫn thu hút và truyền bá được cho người Tây Phương ?

Chúng ta vẫn thường nói những câu như: Phật Pháp bất ly thế gian pháp, hay Phật tại thế gian bất ly thế gian giác v.v... Như vậy chúng ta phải hành động ra sao ?

Nếu tình trạng chính trị, kinh tế, xã hội thoái hóa, Phật tử làm ăn thất nghiệp, hao hụt thì lấy tiền đâu ra cúng chùa ? Nếu ngày mai cả vùng tiểu bang California bị động đất mạnh và sụp xuống biển thì mấy chục ngôi chùa sẽ dời đi đâu ? Hay là chùa ai sụp thì cứ sụp, chùa tôi đã có Phật độ lo chi!

Đạo Phật là đạo tỉnh thức. Đã đến lúc chúng ta cần tỉnh thức lớn, không những chỉ tỉnh thức cuộc đời là bể khổ mà cần tỉnh thức thêm rằng quả Đất của chúng ta ở đang lâm nguy và mong rằng tất cả Phật tử cùng nhau đóng góp vào việc cứu độ Trái Đất.

Kundreul Ling, đầu Xuân 1993

Thích Trí Siêu

WP: Diệu Hỷ

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/05/2021(Xem: 13332)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 9815)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 18326)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 13269)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 9093)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 16309)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 7956)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 12080)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 8256)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/2021(Xem: 12083)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.