An Lạc Từng Bước Chân

20/01/201103:30(Xem: 25693)
An Lạc Từng Bước Chân

AN LẠC TỪNG BƯỚC CHÂN

Phương Pháp thực Tập Hạnh Phúc

Thích Nhất Hạnh

Chân Nguyện dịch từ bản Anh ngữ
Nhà Xuất Bản Lá Bối, Hoa Kỳ, 1995

an-lac-tung-buoc-chan-content

Mục Lục

Lời tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Lời giới thiệu

Phần 1

HƠI THỞ Ý THỨC

HƠI THỞ MẦU NHIỆM

Hai Mươi Bốn Giờ Tinh Khôi

Cây Bồ Công Anh

Hơi Thở Ý Thức

Hiện tại

Bớt Suy Nghĩ Lại.

Nuôi Dưỡng Chánh Niệm Trong Từng Phút Giây

Ngồi Đâu Cũng Là Ngồi Thiền

Thiền tọa

Chuông Chánh Điện

Chiếc Bánh Thời Thơ Ấu

Bí Tích Thánh Thể

Ăn Cơm Chánh Niệm

Rửa Chén

Thiền Hành

Thiền Điện Thoại

Thiền Lái Xe

Quay Về Một Mối

Cắt Cỏ Và Thở

Vô Nguyện

Đời Sống Là Một Tác Phẩm Nghệ Thuật

Hy Vọng Trông Chờ Đôi Khi Là Một Trở Ngại

Bông hoa và nụ cười ngài Ca Diếp

Phòng Thở

Cuộc hành trình vẫn tiếp tục

Phần hai

CHUYỂN HÓA VÀ TRỊ LIỆU

Dòng Sông Cảm Thọ

Không Cắt Bỏ

Chuyển Hóa Những Cảm Thọ

Ý Thức Về Cái Giận

Đập gối để trút cái giận

Đi thiền hành khi đang giận

Luộc khoai

Nguồn gốc của cái giận

Nội Kết

Sống Chung Hòa Hợp

Bàn Tay Của Bạn

Cha Mẹ

Giữ Gìn Và Nuôi Dưỡng Những Hạt Giống Tốt

Tiếp Xúc Với Những Gì Mầu Nhiệm

Trách Móc Không Giúp Được Gì

Hiểu Và Thương

Tình Thương Chân Thật

Từ Bi Quán

Thiền ôm

Đầu Tư Vào Tăng Thân

Cháu chắt là niềm vui của ông bà

Tăng Thân Tu Học

Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời

Phần ba

AN LẠC TỪNG BƯỚC CHÂN

Tương Tức

Hoa Và Rác

Vững Chãi Thảnh Thơi

Tinh Thần Bất Nhị

Chữa Trị Những Vết Thương Chiến Tranh

Trái Tim Mặt Trời

Nhìn Sâu

Nghệ Thuật Sống Tỉnh Thức

Nuôi Dưỡng Chánh Niệm

Bức Thư Tình

Bổn Phận Người Công Dân

Bảo vệ thân tâm là giữ gìn sinh môi một cách rộng lớn.

Nguồn Gốc Chiến Tranh

Câu Chuyện Chiếc Lá

Chúng Ta Cùng Một Nhân Thể

Hòa Giải

Hãy Gọi Đúng Tên Tôi

Khổ Đau Là Chất Liệu Nuôi Dưỡng Tình Thương

Tình Thương Qua Hành Động

Câu Chuyện Của Dòng Sông

Xây Dựng Thế Kỷ Thứ Hai Mươi Mốt

Lời tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Muốn đem lại hòa bình cho thế giới, trước hết mỗi người chúng ta phải tự chuyển hoá chính mình. Đó là con đường cam go nhưng không còn con đường nào khác. Đi tới đâu tôi cũng nhắc nhở điều đó và tôi sung sướng khi thấy nhiều người từ nhiều tầng lớp cũng đồng quan điểm này. An Lạc phải bắt đầu từ nơi mỗi chúng ta mà từ, bi, hỉ, xảlà nền tảng. Có từ, bi, hỉ, xả, thì đi đâu ta cũng gieo rắc tình thương và sự hoà hợp, đi đâu ta cũng đem an lạc, hạnh phúc đến cho mọi người và mọi loài.
Cuốn sách An Lạc Từng Bước Chân của thầy Nhất Hạnh là kim chỉ nam cho mỗi chúng ta trên con đường cam go ấy. Thầy dạy phép quán niệm hơi thở để giúp ta giữ sự an lạc của thân tâm và thấy được sự liên hệ mật thiết giữa sự an lạc của thân tâm ta và của thế giới. Đây là một cuốn sách giá trị, có thể thay đổi được hoàn cảnh xã hội và đời sống một con người.

Lời giới thiệu

Của nhà Xuất bản PARALLAX, Hoa Kỳ

Sáng nay khi đi thiền hành qua khu rừng sồi xanh tươi, tôi thấy mặt trời đỏ chói hiện ra ở chân trời. Quang cảnh rực rỡ làm tôi nhớ lại chuyến đi Ấn Độ với thầy Nhất Hạnh hai năm về trước. Trên con đường đi đến một cái đồng gần Bồ Đề Đạo Tràng, cả phái đoàn dừng lại nghỉ chân trước một cánh đồng lúa và cùng nhau hát bài ca này:

Từng bước chân thảnh thơi
Mặt trời như trái tim đỏ tươi
Từng đóa hoa mỉm cười
Ruộng đồng xanh mát như biển khơi
Cùng gió ca lời chim
Từng bước chân thảnh thơi
Đường dài em bước như dạo chơi

Bài ca gói ghém được những gì thầy muốn nhắn nhủ chúng ta: an lạc không phải là một cái gì ở ngoài chúng ta mà chúng ta phải tìm kiếm hay mong đạt tới. An lạc có ngay trong mỗi bước chân thong thả, trong từng hơi thở, trong đời sống có chánh niệm hàng ngày . Bước được những bước thảnh thơi, an lạc, ta sẻ thấy hoa nở dưới từng bước chân đi. Hoa mỉm cười với ta và chúc ta đi thong dong trên đường dài.

Tôi gặp Thầy Nhất Hạnh năm 1982 khi thầy đến New York dự hội nghị Tôn Trọng và Bảo Vệ Sự Sống .Tôi là một trong những người Mỹ theo đạo Bụt mà thầy được gặp trước tiên. Khi gặp tôi, Thầy đặc biệt chú ý đến tôi , có lẽ vì cách tôi ăn mặc và hành xử giống như mấy chú tiểu ở Việt Nam mà Thầy có dịp dạy dỗ cách đây hai mươi năm. Năm 1983, Thầy tôi là Richard Baker Roshi mời Thầy đến viếng thiền viện của chúng tôi ở San Francisco, Thầy vui vẻ nhận lời. Một giai đoạn mới bắt đầu trong đời sống của vị tu sĩ hiền hòa mà Roshi gọi là " điểm gặp gở kỳ lạ giữa một đám mây, một con ốc sên và một cái đầu máy xe lửa . Thầy đúng là một bậc chân tu".

Thầy Nhất Hạnh sinh năm 1926 tại miền Trung Việt Nam và đi tu lúc Thầy mười sáu tuổi. Tám năm sau. Thầy cùng một số thầy khác thành lập chùa Ấn Quang mà sau này là Phật Học Viện Nam việt.

Thầy đến Hoa Kỳ năm 1961 để học và dạy về Các Tôn Giáo tại đại học Columbia và Princeton. Năm 1963, các thầy ở Việt Nam đánh điện gọi Thầy về để cùng xây dựng giáo hội và tranh đấu chống chiến tranh leo thang sau khi chính phủ Diệm bị lật đổ. Thầy trở về nước và hướng dẫn một phong trào bất bạo động theo đường lối của Gandhi.
Năm 1964. Thầy cùng một số giáo sư và sinh viên đại học thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mà báo chí Mỹ gọi là " một tiểu đội quân Hòa Bình" . Trường tổ chức một nhóm người trẻ đi về miền quê để xây dựng bệnh xá, trường học và làm lại những ngôi làng bị bom tàn phá. Lúc bây giờ đã có trên 10.000 người gồm tu sĩ và giới trẻ làm việc cho chương trình này. Cũng trong năm ấy. Thầy thành lập nhà xuất bản Lá Bối, một trong những nhà xuất bản có tiếng tăm ở Việt Nam, và làm chủ bút tuần báo Hải Triều Âm, cơ quan thông tin của Giáo Hội Phật Giáo. Thầy viết bài và viết sách kêu gọi hai bên lâm chiến hòa giải, vì vậy mà sách của Thầy bị cả hai phe kiểm duyệt gắt gao.

Năm 1966, theo lời khuyên của các thầy lớn, Thầy rời Việt Nam đi Hoa Kỳ theo lời mời của hội Fellowship of Reconciliation và trường đại học Cornell. Tờ New York số ngày 25 tháng 6- 1966 viết: "Thầy Nhất hạnh đến Hoa Kỳ để nói lên tiếng nói đau thương của số đông những người dân bị đàn áp ở Việt Nam". Chương trình của Thầy dầy đặc những cuộc gặp gỡ và những buổi nói chuyện kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh.. Tiến sĩ Martin Luther King, Jr rất cảm kích tấm lòng nhân đạo tha thiết của Thầy. Ông đã đề nghị trao giải Nobel Hòa Bình năm 1967 cho Thầy Nhất Hạnh. Ông nói: "Tôi thấy không còn ai xứng đáng hơn ". Ông đã dự cuộc hộp báo chống chiến tranh với Thầy Nhất Hạnh tại Chicago.

Khi Thomas Merton, nhà thần học Công Giáo nổi tiếng, gặp Thầy Nhất Hạnh tại tu viện của ông ở Gethsemani, Kentucky, ông bảo với các học trò của ông Chỉ nhìn cách Thầy ấy mở cửa và đi vào phòng cũng đủ biết Thầy là một bậc chân tu. Merton sau đó còn viết thêm một bài báo lấy tựa đề "Thầy Nhất hạnh là người anh em của tôi " . Cho nên mọi lời kêu gọi hòa bình của Thầy Nhất Hạnh điều được ông hưởng ứng và ủng hộ hết mình. Sau khi gặp một số các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ như Fullbright. Kennedy và bộ trưởng Quốc Phòng Mc Namara. Thầy bay qua Âu Châu. Nơi đây Thầy cũng được một số yếu nhân trong chính phủ và Toà Thánh La Mã tiếp kiến . Thầy đã hai lần yết kiến Hồng Y Giáo Chủ Paul V1, đề nghị những người Thiên Chúa giáo và Phật giáo hợp tác với nhau để đem lại hòa bình cho Việt Nam .

Năm 1969, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất yêu cầu Thầy hướng dẫn phái đoàn hòa bình của Phật Giáo bên cạnh hội nghị Paris.Sau khi bản hòa ước được ký năm 1973, Thầy không được phép trở về nước. Thầy bắt đầu cuộc đời lưu vong, thành lập Phương Vân Am cách Paris một ngàn dậm về hướng Tây Nam. Năm 1976-1977. Thầy tổ chức vượt biển cứu trợ những thuyền nhân ở Vịnh Thái Lan, nhưng chính quyền Thái Lan gây nhiều khó khăn không cho Thầy tiếp tục công viện này. Thầy lui về trú ẩn ở Phương Vân Am, tiếp tục viết sách, đọc sách, đóng sách, làm vườn và lâu lâu tiếp bạn bè.

Năm 1982, Thầy sang thăm New York. Qua năm sau. Thầy thành lập Làng Hồng, một trung tâm tu học gần Bordeaux, một vùng êm đềm với vườn nho, ruộng bắp và những cánh đồng hoa hướng dương bao quanh. Bắt đầu từ năm 1983, năm nào Thầy cũng sang Hoa Kỳ để hướng dẫn những khóa tu học và đi giảng thuyết về sự thực tập chánh niệm để có an lạc ngay trong giờ phút hiện tại.
Mặc dầu Thầy không được về nước, nhưng sách của Thầy được chuyền tay chép và đọc bởi nhiều tầng lớp ở Việt Nam. Thầy cũng có mặt khắp nơi trên thế giới, qua những người học trò và cộng sự viên của Thầy ngày đêm làm việc để giúp đỡ những trẻ em và người lớn đói khổ ở Việt Nam, Thầy cũng tìm mọi cách để khuyến khích giúp đở giới văn nhân, nghệ sĩ cũng như những nhà tu bị chính quyền cộng sản giam giữ. Cả những người tỵ nạn tại các trại tập trung ở Thái Lan, Mã Lai và Hồng Kông cũng được giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần .
Bây giờ trông Thầy đã lớn tuổi nhưng trông thầy vẫn còn trẻ lắm. Hiện nay Thầy là một trong những vị thiền sư lớn của thời đại. Giữa một xã hội vật chất hối hả và đầy danh vọng, sự tự tại và tươi mát của Thầy trong cách đi đứng và dạy người khác đi đứng khiến Thầy được tiếp đón như một vị Giác Ngộ. Bằng những phép giản dị và sáng sủa, Thầy đưa ra những phép thực tập sâu sắc thực chứng từ sự hành trì và phụng sự không mệt mỏi của Thầy.

Thầy dạy phép quan niệm hơi thở vì phương pháp này có khả năng giúp ta nuôi dưỡng chánh niệm trong mỗi sinh hoạt của đời sống hàng ngày. Thầy nói thiền quán không phải chỉ được thực tập trong thiền đường. Việc rửa nồi hay rửa chén bát cũng thiêng liêng như khi mình thấp hương lạy Bụt. Thầy cũng dạy cách mỉm cười để làm thư dãn những bắp thịt trên mặt cũng như của toàn thân. "Cười là tập yoga cho cái miệng", Thầy nói: "Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy là khi ta thực tập tỏ một niềm vui thì những bắp thịt trên mặt liền tác động trên hệ thần kinh của ta khiến ta tự nhiên thấy vui thật sự. Thầy luôn nhắc nhở rằng an lạc và hạnh phúc là một cái gì có thật. Chỉ cần biết ngưng cái đầu óc chạy hoang và trở về với giây phút hiện tại, thấy rõ bầu trời xanh, nụ cười của em bé và cảnh mặt trời lặn là chúng ta đã có an lạc và hạnh phúc, biết mỉm cười, thì mọi cười trong gia đình, trong xã hội cũng được thừa hưỡng".

Cuốn An Lạc Từng Bước Chân là một tiếng chuông tỉnh thức, nhắc nhở ta đừng vì đời sống bận rộn mà đánh mất sự an lạc; nếu ta có chánh niệm thì ngay giữa những phiền toái và bực bội, ta vẫn có thể thong dong. Tiếng điện thoại reo ầm ĩ, chén bát dơ, những nạn kẹt xe hay đèn đỏ , tất cả đều là những người bạn giúp ta trên con đường thực tập chánh niệm, giúp ta quay trở về với con người thật của ta. Muốn có an lạc, hạnh phúc, ta sẽ có ngay khi ta thở từng hơi thở ý thức, khi ta nở nụ cười chánh niệm .

Cuốn An Lạc Từng Bước Chân được góp nhặt từ những bài viết, những buổi nói chuyện của Thầy với công chúng hay với một nhóm bạn nhỏ trong đó có Therese Fitzgerald, Michael Katz, Jane Hirshfield, tôi và nhiều bạn khác đã và đang làm việc chặt chẽ với Thầy.

Cuốn sách này là bức thông điệp đầy đủ và rõ ràng nhất của một vị Bồ Tát đã suốt đời hiến mình cho sự nghiệp giác ngộ. Lời Thầy dạy vừa thực tiễn vừa súc tích. Mong rằng các độc giả sẽ hài lòng cũng như chúng tôi rất sung sướng khi xuất bản nó.

Arnold Kotler
Xóm Thượng tháng 6, 1990

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/01/2021(Xem: 11265)
Vào thời đại này, kể cả đứa trẻ ba tuổi cũng biết dùng máy vi tính rất rành. Ngay trong sự sanh hoạt ngày thường, con người chỗ nào cũng đều có cơ hội tiếp xúc đến máy vi tính, như là xe hơi, dụng cụ nhà bếp, máy móc thương nghiệp, cơ giới công nghiệp, dụng cụ điều trị, thậm chí trong đồ chơi của trẻ con cũng có trang trí máy vi tính lớn nhỏ phức tạp và đơn giản không giống nhau. Đến nỗi ở trong cơ quan điều khiển tinh vi, máy vi tính lại càng không thể có khuyết điểm, chẳng hạn như Phi Cơ, Tàu Thủy, Tín Hiệu Vô Tuyến Truyền Đạt..v..v.... đều an trí máy vi tính rất đầy đủ cao cấp. Chính nơi trang bị quân sự, máy vi tính lại càng trọng yếu hơn. Cho nên con người hiện nay sanh hoạt đều càng ngày càng ỷ lại nhiều vào máy vi tính thì nó càng quan trọng hơn.
13/01/2021(Xem: 11265)
Tăng đoàn của Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley đã thông báo rằng, Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman (Tông Thuần, Sōjun, 宗純), vị Trưởng lão Thiền sư đáng kính của Thiền phái Tào Động (Sōtō Zen, 曹洞宗), Phật giáo Nhật Bản, vị Giáo thọ sư nổi tiếng đã viên tịch vào hôm thứ Năm, ngày 7 tháng 1 năm 2021. Hưởng thượng thọ 91 tuổi. Trưởng lão Thiền sư Mel Weitsman, người cùng với Trưởng lão Thiền sư Shunryu Suzuki Roshi (pháp danh Shōgaku Shunryū, 祥 岳俊隆, 1901-1971), đồng sáng lập Trung tâm Thiền Phật giáo Berkeley, một trung tâm thực hành Thiền phái Tào Động, Phật giáo Nhật Bản tại Berkeley, California, Hoa Kỳ vào năm 1967.
12/01/2021(Xem: 13731)
Kính thưa quý Phật tử, đồng hương xa gần kính mến, Trái đất xoay tròn, một năm nữa lại đến. Gió xuân, mai đào, bánh chưng, bánh tét... đang đem niềm vui mùa xuân đến cho hành tinh chúng ta. Quý Ni sư kính lời vấn an sức khỏe đến quý Phật tử, tri ân tình thương của quý vị trong thời gian qua, nhất là trong mùa đại dịch Covid Corona, quý vị luôn đồng hành ủng hộ để Chùa Hương Sen được yên ổn sinh hoạt và an tâm tu tập, tụng niệm.
12/01/2021(Xem: 8436)
Vương quốc Phật giáo Bhutan với diện tích và dân số khiêm tốn trên Himalaya đã báo cáo có ca COVID-19 đầu tiên tử vong, khoảng 10 tháng sau khi ca đầu tiên phát hiện Viruscorona, và cố gắng kiểm soát dịch bệnh bằng cách phong tỏa phần lớn đất nước phụ thuộc vào du lịch. Trong một thông báo đưa ra vào cuối ngày thứ Năm, ngày 7 vừa qua, Bộ Y tế Bhutan cho biết một người đàn ông 34 tuổi đã tử vong tại một bệnh viện ở thủ đô Thimphu do Covid-19, tiền sử có bệnh nền như gan mãn tính và suy thận, có kết quả xét nghiệm dương tính.
09/01/2021(Xem: 15318)
“Tha Nhân Là Địa Ngục” (L’enfre, cest les autres/Hell is other people) là câu nói thời danh của triết gia Pháp Jean Paul Sartre. Trong vở kịch nhan đề Huis Clos (Cửa Đóng) tiếng Anh dịch là “Không lối thoát” (No Exit) và tiếng Việt có nơi dịch là “Phía Sau Cửa Đóng” trong đó mô tả ba nhân vật lúc còn sống đã làm nhiều điều xấu. Khi chết bị nhốt vào địa ngục nhưng không phải là “địa ngục” với những cuộc tra tấn ghê rợn về thể xác mô tả trong các tôn giáo, mà bị nhốt vĩnh viễn trong một căn phòng kín. Tại đây ba nhân vật bất đồng, cãi vã nhau- không phải vì cơm áo mà vì quan điểm, sở thích, cách suy nghĩ, tư tưởng, lối sống. Cuối cùng một người không sao chịu đựng được đã thốt lên “Tha nhân là địa ngục”. Câu nói này trở nên nổi tiếng và tồn tại cho tới ngày nay.
07/01/2021(Xem: 13483)
Vào năm 2004, Thư Viện Anh Quốc đã mở cửa đón khách vào thưởng một “pháp bảo” của Phật giáo Trung Hoa mang tên “Kinh Kim Cang”, đó là một trong những cổ vật chính được trưng bày tại cuộc triển lãm “Con Đường Tơ Lụa. Bên cạnh cuốn “Kinh Kim Cang” còn có những cổ vật khác được giữ gìn hoàn hảo hơn 1000 năm qua như : một súc lụa, một tấm thảm trải trước lò sưởi tại ngôi nhà bỏ hoang đã 1.100 năm, một cuộn len 1300 năm tuổi … Phần lớn cổ vật trưng bày tại triển lãm được lấy từ bộ sưu tập của Sir Marc Aurel Stein.
07/01/2021(Xem: 11129)
Một khuôn mặt trong một tấm gương xuất hiện là một khuôn mặt, nhưng thế nào đi nữa hình ảnh đấy không là một khuôn mặt thật sự; đấy là từ những quan điểm trống rỗng về sự hiện hữu của một khuôn mặt. Giống như thế, một nhà huyển thuật có thể gợi lên những ảo ảnh dường như là những thứ thật sự. như một người ở trong một cái thùng bị xiên bởi một cây gươm, nhưng tất cả hoàn toàn không được tạo ra thật sự như những thứ được thấy. Tương tự thế, các hiện tượng như thân thể hiện diện được tạo ra từ chính phía của đối tượng nhưng trống rỗng trong việc được thiết lập cách ấy và luôn luôn như thế.
04/01/2021(Xem: 15589)
Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra nhận xét chính thức đầu tiên về việc nghỉ hưu, từ các trách nhiệm chính trị trong một buổi giảng dạy công khai tại Tsuglagkhang, Dharamshala, ngày 19 tháng 3 năm 2011. Năm 1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ban hành một Hiến pháp Dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên Giới luật Phật giáo, và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên Hợp Quốc để biên soạn, và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai:
04/01/2021(Xem: 16837)
Ngày Xuân ngày Tết, nếu ai tìm những giờ phút thanh thản yên tịnh bằng những bước nhẹ nhàng khoan thai vào vãng cảnh các chùa chiền tự viện, dâng hương bái Phật, nếu để ý sẽ thấy ở một vách tường nào đó treo bộ tranh mang tên gọi là “Thập mục ngưu đồ”. Không phải chốn già lam thiền viện nào cũng có trưng treo, vì đó không phải là điều bắt buộc thuộc thanh quy giới luật, nhiều khi chỉ được treo để trang trí, hay được trưng ra ở một nơi hằng ngày đi qua đi lại như để nhắc nhở, vậy nếu khi ta bắt gặp được tức là ta đang hữu duyên, hãy đừng bỏ dịp đứng trước bộ tranh mang những nét sơ sài ấy để ngắm từng bức mà chiêm nghiệm nghiền ngẫm.
04/01/2021(Xem: 12189)
Phật Vàng (Golden Buddha) có tên chính thức trong tiếng Thái là “Phra Phuttha Maha Suwana Patimakon”, nặng 5,5 tấn. Sau nhiều lần di chuyển, pho tượng hiện đang nằm trong đền thờ Wat Traimit, Bangkok, Thái Lan. Hiện tại, mặc dù các học giả vẫn chưa xác định chắc chắn nguồn gốc của pho tượng là bắt nguồn từ thời gian nào. Nhưng dựa theo cấu trúc của phần đầu bức tượng (hình quả trứng), thì có thể đoán rằng, nó ra đời vào dưới triều Sukhothai vào thế kỷ 13 – 14 – một trong những giai đoạn nổi tiếng nhất của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Thái Lan.