Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

An Lạc Từng Bước Chân

20/01/201103:30(Xem: 18432)
An Lạc Từng Bước Chân

AN LẠC TỪNG BƯỚC CHÂN

Phương Pháp thực Tập Hạnh Phúc

Thích Nhất Hạnh

Chân Nguyện dịch từ bản Anh ngữ
Nhà Xuất Bản Lá Bối, Hoa Kỳ, 1995

an-lac-tung-buoc-chan-content

Mục Lục

Lời tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Lời giới thiệu

Phần 1

HƠI THỞ Ý THỨC

HƠI THỞ MẦU NHIỆM

Hai Mươi Bốn Giờ Tinh Khôi

Cây Bồ Công Anh

Hơi Thở Ý Thức

Hiện tại

Bớt Suy Nghĩ Lại.

Nuôi Dưỡng Chánh Niệm Trong Từng Phút Giây

Ngồi Đâu Cũng Là Ngồi Thiền

Thiền tọa

Chuông Chánh Điện

Chiếc Bánh Thời Thơ Ấu

Bí Tích Thánh Thể

Ăn Cơm Chánh Niệm

Rửa Chén

Thiền Hành

Thiền Điện Thoại

Thiền Lái Xe

Quay Về Một Mối

Cắt Cỏ Và Thở

Vô Nguyện

Đời Sống Là Một Tác Phẩm Nghệ Thuật

Hy Vọng Trông Chờ Đôi Khi Là Một Trở Ngại

Bông hoa và nụ cười ngài Ca Diếp

Phòng Thở

Cuộc hành trình vẫn tiếp tục

Phần hai

CHUYỂN HÓA VÀ TRỊ LIỆU

Dòng Sông Cảm Thọ

Không Cắt Bỏ

Chuyển Hóa Những Cảm Thọ

Ý Thức Về Cái Giận

Đập gối để trút cái giận

Đi thiền hành khi đang giận

Luộc khoai

Nguồn gốc của cái giận

Nội Kết

Sống Chung Hòa Hợp

Bàn Tay Của Bạn

Cha Mẹ

Giữ Gìn Và Nuôi Dưỡng Những Hạt Giống Tốt

Tiếp Xúc Với Những Gì Mầu Nhiệm

Trách Móc Không Giúp Được Gì

Hiểu Và Thương

Tình Thương Chân Thật

Từ Bi Quán

Thiền ôm

Đầu Tư Vào Tăng Thân

Cháu chắt là niềm vui của ông bà

Tăng Thân Tu Học

Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời

Phần ba

AN LẠC TỪNG BƯỚC CHÂN

Tương Tức

Hoa Và Rác

Vững Chãi Thảnh Thơi

Tinh Thần Bất Nhị

Chữa Trị Những Vết Thương Chiến Tranh

Trái Tim Mặt Trời

Nhìn Sâu

Nghệ Thuật Sống Tỉnh Thức

Nuôi Dưỡng Chánh Niệm

Bức Thư Tình

Bổn Phận Người Công Dân

Bảo vệ thân tâm là giữ gìn sinh môi một cách rộng lớn.

Nguồn Gốc Chiến Tranh

Câu Chuyện Chiếc Lá

Chúng Ta Cùng Một Nhân Thể

Hòa Giải

Hãy Gọi Đúng Tên Tôi

Khổ Đau Là Chất Liệu Nuôi Dưỡng Tình Thương

Tình Thương Qua Hành Động

Câu Chuyện Của Dòng Sông

Xây Dựng Thế Kỷ Thứ Hai Mươi Mốt

Lời tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Muốn đem lại hòa bình cho thế giới, trước hết mỗi người chúng ta phải tự chuyển hoá chính mình. Đó là con đường cam go nhưng không còn con đường nào khác. Đi tới đâu tôi cũng nhắc nhở điều đó và tôi sung sướng khi thấy nhiều người từ nhiều tầng lớp cũng đồng quan điểm này. An Lạc phải bắt đầu từ nơi mỗi chúng ta mà từ, bi, hỉ, xảlà nền tảng. Có từ, bi, hỉ, xả, thì đi đâu ta cũng gieo rắc tình thương và sự hoà hợp, đi đâu ta cũng đem an lạc, hạnh phúc đến cho mọi người và mọi loài.
Cuốn sách An Lạc Từng Bước Chân của thầy Nhất Hạnh là kim chỉ nam cho mỗi chúng ta trên con đường cam go ấy. Thầy dạy phép quán niệm hơi thở để giúp ta giữ sự an lạc của thân tâm và thấy được sự liên hệ mật thiết giữa sự an lạc của thân tâm ta và của thế giới. Đây là một cuốn sách giá trị, có thể thay đổi được hoàn cảnh xã hội và đời sống một con người.

Lời giới thiệu

Của nhà Xuất bản PARALLAX, Hoa Kỳ

Sáng nay khi đi thiền hành qua khu rừng sồi xanh tươi, tôi thấy mặt trời đỏ chói hiện ra ở chân trời. Quang cảnh rực rỡ làm tôi nhớ lại chuyến đi Ấn Độ với thầy Nhất Hạnh hai năm về trước. Trên con đường đi đến một cái đồng gần Bồ Đề Đạo Tràng, cả phái đoàn dừng lại nghỉ chân trước một cánh đồng lúa và cùng nhau hát bài ca này:

Từng bước chân thảnh thơi
Mặt trời như trái tim đỏ tươi
Từng đóa hoa mỉm cười
Ruộng đồng xanh mát như biển khơi
Cùng gió ca lời chim
Từng bước chân thảnh thơi
Đường dài em bước như dạo chơi

Bài ca gói ghém được những gì thầy muốn nhắn nhủ chúng ta: an lạc không phải là một cái gì ở ngoài chúng ta mà chúng ta phải tìm kiếm hay mong đạt tới. An lạc có ngay trong mỗi bước chân thong thả, trong từng hơi thở, trong đời sống có chánh niệm hàng ngày . Bước được những bước thảnh thơi, an lạc, ta sẻ thấy hoa nở dưới từng bước chân đi. Hoa mỉm cười với ta và chúc ta đi thong dong trên đường dài.

Tôi gặp Thầy Nhất Hạnh năm 1982 khi thầy đến New York dự hội nghị Tôn Trọng và Bảo Vệ Sự Sống .Tôi là một trong những người Mỹ theo đạo Bụt mà thầy được gặp trước tiên. Khi gặp tôi, Thầy đặc biệt chú ý đến tôi , có lẽ vì cách tôi ăn mặc và hành xử giống như mấy chú tiểu ở Việt Nam mà Thầy có dịp dạy dỗ cách đây hai mươi năm. Năm 1983, Thầy tôi là Richard Baker Roshi mời Thầy đến viếng thiền viện của chúng tôi ở San Francisco, Thầy vui vẻ nhận lời. Một giai đoạn mới bắt đầu trong đời sống của vị tu sĩ hiền hòa mà Roshi gọi là " điểm gặp gở kỳ lạ giữa một đám mây, một con ốc sên và một cái đầu máy xe lửa . Thầy đúng là một bậc chân tu".

Thầy Nhất Hạnh sinh năm 1926 tại miền Trung Việt Nam và đi tu lúc Thầy mười sáu tuổi. Tám năm sau. Thầy cùng một số thầy khác thành lập chùa Ấn Quang mà sau này là Phật Học Viện Nam việt.

Thầy đến Hoa Kỳ năm 1961 để học và dạy về Các Tôn Giáo tại đại học Columbia và Princeton. Năm 1963, các thầy ở Việt Nam đánh điện gọi Thầy về để cùng xây dựng giáo hội và tranh đấu chống chiến tranh leo thang sau khi chính phủ Diệm bị lật đổ. Thầy trở về nước và hướng dẫn một phong trào bất bạo động theo đường lối của Gandhi.
Năm 1964. Thầy cùng một số giáo sư và sinh viên đại học thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mà báo chí Mỹ gọi là " một tiểu đội quân Hòa Bình" . Trường tổ chức một nhóm người trẻ đi về miền quê để xây dựng bệnh xá, trường học và làm lại những ngôi làng bị bom tàn phá. Lúc bây giờ đã có trên 10.000 người gồm tu sĩ và giới trẻ làm việc cho chương trình này. Cũng trong năm ấy. Thầy thành lập nhà xuất bản Lá Bối, một trong những nhà xuất bản có tiếng tăm ở Việt Nam, và làm chủ bút tuần báo Hải Triều Âm, cơ quan thông tin của Giáo Hội Phật Giáo. Thầy viết bài và viết sách kêu gọi hai bên lâm chiến hòa giải, vì vậy mà sách của Thầy bị cả hai phe kiểm duyệt gắt gao.

Năm 1966, theo lời khuyên của các thầy lớn, Thầy rời Việt Nam đi Hoa Kỳ theo lời mời của hội Fellowship of Reconciliation và trường đại học Cornell. Tờ New York số ngày 25 tháng 6- 1966 viết: "Thầy Nhất hạnh đến Hoa Kỳ để nói lên tiếng nói đau thương của số đông những người dân bị đàn áp ở Việt Nam". Chương trình của Thầy dầy đặc những cuộc gặp gỡ và những buổi nói chuyện kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh.. Tiến sĩ Martin Luther King, Jr rất cảm kích tấm lòng nhân đạo tha thiết của Thầy. Ông đã đề nghị trao giải Nobel Hòa Bình năm 1967 cho Thầy Nhất Hạnh. Ông nói: "Tôi thấy không còn ai xứng đáng hơn ". Ông đã dự cuộc hộp báo chống chiến tranh với Thầy Nhất Hạnh tại Chicago.

Khi Thomas Merton, nhà thần học Công Giáo nổi tiếng, gặp Thầy Nhất Hạnh tại tu viện của ông ở Gethsemani, Kentucky, ông bảo với các học trò của ông Chỉ nhìn cách Thầy ấy mở cửa và đi vào phòng cũng đủ biết Thầy là một bậc chân tu. Merton sau đó còn viết thêm một bài báo lấy tựa đề "Thầy Nhất hạnh là người anh em của tôi " . Cho nên mọi lời kêu gọi hòa bình của Thầy Nhất Hạnh điều được ông hưởng ứng và ủng hộ hết mình. Sau khi gặp một số các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ như Fullbright. Kennedy và bộ trưởng Quốc Phòng Mc Namara. Thầy bay qua Âu Châu. Nơi đây Thầy cũng được một số yếu nhân trong chính phủ và Toà Thánh La Mã tiếp kiến . Thầy đã hai lần yết kiến Hồng Y Giáo Chủ Paul V1, đề nghị những người Thiên Chúa giáo và Phật giáo hợp tác với nhau để đem lại hòa bình cho Việt Nam .

Năm 1969, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất yêu cầu Thầy hướng dẫn phái đoàn hòa bình của Phật Giáo bên cạnh hội nghị Paris.Sau khi bản hòa ước được ký năm 1973, Thầy không được phép trở về nước. Thầy bắt đầu cuộc đời lưu vong, thành lập Phương Vân Am cách Paris một ngàn dậm về hướng Tây Nam. Năm 1976-1977. Thầy tổ chức vượt biển cứu trợ những thuyền nhân ở Vịnh Thái Lan, nhưng chính quyền Thái Lan gây nhiều khó khăn không cho Thầy tiếp tục công viện này. Thầy lui về trú ẩn ở Phương Vân Am, tiếp tục viết sách, đọc sách, đóng sách, làm vườn và lâu lâu tiếp bạn bè.

Năm 1982, Thầy sang thăm New York. Qua năm sau. Thầy thành lập Làng Hồng, một trung tâm tu học gần Bordeaux, một vùng êm đềm với vườn nho, ruộng bắp và những cánh đồng hoa hướng dương bao quanh. Bắt đầu từ năm 1983, năm nào Thầy cũng sang Hoa Kỳ để hướng dẫn những khóa tu học và đi giảng thuyết về sự thực tập chánh niệm để có an lạc ngay trong giờ phút hiện tại.
Mặc dầu Thầy không được về nước, nhưng sách của Thầy được chuyền tay chép và đọc bởi nhiều tầng lớp ở Việt Nam. Thầy cũng có mặt khắp nơi trên thế giới, qua những người học trò và cộng sự viên của Thầy ngày đêm làm việc để giúp đỡ những trẻ em và người lớn đói khổ ở Việt Nam, Thầy cũng tìm mọi cách để khuyến khích giúp đở giới văn nhân, nghệ sĩ cũng như những nhà tu bị chính quyền cộng sản giam giữ. Cả những người tỵ nạn tại các trại tập trung ở Thái Lan, Mã Lai và Hồng Kông cũng được giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần .
Bây giờ trông Thầy đã lớn tuổi nhưng trông thầy vẫn còn trẻ lắm. Hiện nay Thầy là một trong những vị thiền sư lớn của thời đại. Giữa một xã hội vật chất hối hả và đầy danh vọng, sự tự tại và tươi mát của Thầy trong cách đi đứng và dạy người khác đi đứng khiến Thầy được tiếp đón như một vị Giác Ngộ. Bằng những phép giản dị và sáng sủa, Thầy đưa ra những phép thực tập sâu sắc thực chứng từ sự hành trì và phụng sự không mệt mỏi của Thầy.

Thầy dạy phép quan niệm hơi thở vì phương pháp này có khả năng giúp ta nuôi dưỡng chánh niệm trong mỗi sinh hoạt của đời sống hàng ngày. Thầy nói thiền quán không phải chỉ được thực tập trong thiền đường. Việc rửa nồi hay rửa chén bát cũng thiêng liêng như khi mình thấp hương lạy Bụt. Thầy cũng dạy cách mỉm cười để làm thư dãn những bắp thịt trên mặt cũng như của toàn thân. "Cười là tập yoga cho cái miệng", Thầy nói: "Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy là khi ta thực tập tỏ một niềm vui thì những bắp thịt trên mặt liền tác động trên hệ thần kinh của ta khiến ta tự nhiên thấy vui thật sự. Thầy luôn nhắc nhở rằng an lạc và hạnh phúc là một cái gì có thật. Chỉ cần biết ngưng cái đầu óc chạy hoang và trở về với giây phút hiện tại, thấy rõ bầu trời xanh, nụ cười của em bé và cảnh mặt trời lặn là chúng ta đã có an lạc và hạnh phúc, biết mỉm cười, thì mọi cười trong gia đình, trong xã hội cũng được thừa hưỡng".

Cuốn An Lạc Từng Bước Chân là một tiếng chuông tỉnh thức, nhắc nhở ta đừng vì đời sống bận rộn mà đánh mất sự an lạc; nếu ta có chánh niệm thì ngay giữa những phiền toái và bực bội, ta vẫn có thể thong dong. Tiếng điện thoại reo ầm ĩ, chén bát dơ, những nạn kẹt xe hay đèn đỏ , tất cả đều là những người bạn giúp ta trên con đường thực tập chánh niệm, giúp ta quay trở về với con người thật của ta. Muốn có an lạc, hạnh phúc, ta sẽ có ngay khi ta thở từng hơi thở ý thức, khi ta nở nụ cười chánh niệm .

Cuốn An Lạc Từng Bước Chân được góp nhặt từ những bài viết, những buổi nói chuyện của Thầy với công chúng hay với một nhóm bạn nhỏ trong đó có Therese Fitzgerald, Michael Katz, Jane Hirshfield, tôi và nhiều bạn khác đã và đang làm việc chặt chẽ với Thầy.

Cuốn sách này là bức thông điệp đầy đủ và rõ ràng nhất của một vị Bồ Tát đã suốt đời hiến mình cho sự nghiệp giác ngộ. Lời Thầy dạy vừa thực tiễn vừa súc tích. Mong rằng các độc giả sẽ hài lòng cũng như chúng tôi rất sung sướng khi xuất bản nó.

Arnold Kotler
Xóm Thượng tháng 6, 1990

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/05/2021(Xem: 4708)
Lời tựa Những lời Phật dạy phần lớn mang tính phương tiện. Nếu ta chấp chặt từng chữ, từng lời sẽ khó hiểu được hết ý nghĩa thâm sâu bên trong. Chúng ta - những người học Phật ngày nay - rất cần nhận biết đâu là phương tiện, đâu là chân lý trong những lời Phật dạy để không rơi vào cực đoan và thiên kiến. Ngoài ra, người học Phật cũng cần chú tâm vào thực hành để tự mình thực chứng, để tự tìm ra cách đi phù hợp cho riêng mình.
26/05/2021(Xem: 5013)
Phật Đà sau khi thành Chánh Đẳng Chánh Giác nơi cội Bồ Đề, trong thời gian hai mươi mốt ngày, chỉ riêng mình thọ dụng diệu lạc giải thoát, tự riêng cảm niệm lý pháp tịch tịnh vi diệu thậm thâm khó thấy, không phải cảnh giới của tìm cầu, chỉ có bậc trí mới chứng ngộ được; chúng sanh thì bị nhiễm trước thâm sâu ngã kiến, ái lạc phiền não nặng nề, mặc dù họ được nghe Phật Pháp, e rằng cũng không thể rõ thấu, chỉ uổng công vô ích, chi bằng im lặng tịnh trụ tốt hơn. Sau đó Đại Phạm Thiên Vương ân cần cầu thỉnh Phật thuyết pháp, Thế Tôn mới đến Lộc Dã Uyển ngoài thành Ba La Nại Tư, vì năm ông thị giả lúc trước bỏ Phật mà vào trong đây tu khổ hạnh gồm có: A Nhã Kiều Trần Như, Át Bệ, Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp, Ma Nam Câu Lợi, giảng pháp môn Tứ Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Năm vị sau khi nghe pháp thấu hiểu ý nghĩa các lậu đều dứt, chứng thành bậc A La Hán, đây là Tam Bảo đầu tiên mới thiết lập trong thế gian: Đại Thánh Phật Đà là Phật Bảo, Pháp Luân Tứ Đế là Pháp Bảo, Năm A La Hán là Tăng Bảo.
24/05/2021(Xem: 4510)
Đại thừa lấy việc chăn trâu dụ cho việc điều tâm, luyện tâm. Cái tâm đó, nguyên lai thuần hậu, nhưng đã bị đánh lạc mất, để nó chạy rông, buông lung theo sở thích không biết gì đến những hiểm nguy rình rập, cho nên phải tìm lại, và chế ngự cho thuần tính. Cái tâm vọng động xấu xa lần hồi được gạn lọc khỏi các cấu nhiễm trần gian sẽ sáng dần lên và từ chỗ vô minh sẽ đạt tới cảnh giới vòng tròn viên giác. Đó là tượng trưng cho phép tu “tiệm”. Theo phép tu tiệm thì phải tốn rất nhiều công phu mới tiến đến được từng nấc thang giác ngộ. Nhờ công phu, cái vọng tâm lần hồi gạn lọc được trần cấu mà sáng lần lên, cũng như nhờ được chăn dắt mà con trâu hoang đàng lâu ngày trở nên thuần thục dần dần và lớp da đen dơ dáy trắng lần ra.
24/05/2021(Xem: 3741)
Cơn đại dịch quét qua địa cầu gây điêu đứng và làm xáo trộn cả đời sống của nhân loại. Nó tước đi những sinh mệnh, làm đảo lộn nếp sống của từng cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia và quốc tế. Nó không phân biệt, nể trọng hay nhường nhịn ai; không kỳ thị trí thức hay bình dân, giàu hay nghèo, già hay trẻ, nam hay nữ, khỏe mạnh hay yếu đuối. Nó ly cách từng cá nhân, chia lìa những gia đình, khoanh vùng từng xã hội; và như lưỡi hái khổng lồ của tử thần, nó phạt ngang, san bằng tất cả những gì nằm trên lối đi thần tốc của nó.
24/05/2021(Xem: 7553)
Ca khúc phổ nhạc “Đóa Hoa Dâng Đời... Của Ns Phật Giáo Hằng Vang từ bài thơ có tựa là “ Đóa Hoa Ngàn Đời... Của Huyền Lan đăng tuần báo Giác Ngộ đặc biệt Phật Đản số 110 ra ngày 09/05/1998. Sau đó vào năm 2003. Cư Sỹ Tống Hồ Cầm – Phó Tổng Biên Tập Báo Giác Ngộ - tức nhà thơ Tống Anh Nghị - Chủ Nhiệm CLB thơ ca Báo Giác Ngộ, hợp tuyển thơ báo Giác Ngộ nhiều tác giả có tên gọi “Sắc Hương Hoa Bút... Được tuyển chọn vào tập thơ nhiều tác giả nầy...
24/05/2021(Xem: 4743)
Ni sư Thích Nữ Giới Hương có lẽ là vị trụ trì viết nhiều nhất ở hải ngoại. Đó là theo chỗ tôi biết, trong cương vị một nhà báo nhiều thập niên có liên hệ tới nhà chùa và công việc xuất bản. Viết là một nỗ lực gian nan, vì phải đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, phân tích nhiều, cân nhắc kỹ rồi mới đưa chữ lên mặt giấy được. Đặc biệt, Ni sư Giới Hương cũng là vị trụ trì viết bằng tiếng Anh nhiều nhất. Tôi vẫn thường thắc mắc, làm thế nào Ni sư có đủ thời giờ để gánh vác Phật sự được đa dạng như thế. Nghĩ như thế, vì tự thấy bản thân mình, nghiệm ra, không có đủ sức đọc và viết nhiều như Ni sư.
18/05/2021(Xem: 6172)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 5322)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 12128)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 5350)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]