JETSUN MILAREPA GỬI LẠI TRẦN GIAN Bản dịch: ĐỖ ĐÌNH ĐỒNG
NGUYÊN-TÁC TÂY-TẠNG CỦA JETSUN MILAREPA, ĐẠI SƯ DU GIÀ TÂY-TẠNG NGUYÊN VĂN TIẾNG ANH DO SIR ILUMPHREY CLARKE TUYỂN DỊCH BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT CỦA ĐỖ ĐÌNH ĐỒNG
Milarepa Dạy Ta Điều Gì
1. Hãy khiêm tốn.
Người đời vốn kiêu căng ngạo mạn
Chẳng thua ai chẳng nhịn nhường ai,
Khi nào cũng muốn ta đây
Đứng trên thiên hạ tỏ bày hư danh.
Ai tài giỏi hãy noi gưong đại thánh
Milarepa khổ hạnh tu hành,
Núi cao hang thẳm một mình
Chẳng màng cơm áo no lành
Quyết tâm tịnh hóa dứt sạch vô minh.
Không còn bản ngã phàm tình
Khiêm nhường thương xót chúng sinh muôn loài,
Thánh ca vi diệu tuyệt vời
Nguyên nhân đau khổ bởi người tự cao…
2. Tỉnh giác về cái chết
Thời gian nào có bao lăm
Trăm năm rồi cũng hóa thành hư vô,
Sanh ra rối sẽ xuống mồ
Một đời khổ nhọc mơ hồ tương lai.
Lợi danh ràng buộc kéo lôi
Quay cuồng theo nhịp sống đời nổi trôi.
Cuối cùng chấm dứt cuộc chơi
Xác thân rời rã hồn người về đâu?
Nhân duyên nghiệp báo thẳm sâu
Đưa về sáu nẻo luân hồi tái sanh.
Nói năng , hành động hiền lành
Tâm ý thanh tịnh tái sanh nhẹ nhàng.
An vui hưởng cảnh thanh nhàn…
3. Tỉnh giác về sự vô thường
Trần gian là cõi mộng
Vạn sự thảy vô thường,
Có rồi không thay đổi
Sống chết qua một đời.
Hợp tan như mây nổi
Sự nghiệp có rồi không,
Dính mắc vào hư danh
Kết thúc trong đau khổ.
Lý vô thường tỏ rõ
Sống tự tại tự do.
4. Đừng bị lừa gạt bởi thế gian.
Sân khấu trần gian diễn biến hoài
Công việc liên miên chẳng nguôi ngoai,
Tham công tiếc việc baogiờ nghỉ?
Chạy hết thời gian, xuống tuyền đài.
Sinh mạng mong manh chẳng lâu dài
Ăn chơi ngủ nghỉ hết tương lai
Thời gian trân quý khôn tìm lại
Tu tập công phu chớ lảng phai.
5. Sống chết không hối tiếc.
Muốn sống an vui chết bình an
Nhắm mắt ra đi chẳng than van,
Từ bi hỉ xả không gây tội
Gìn thân miệng ý tạo nghiệp lành.
Hiền nhân sống chết không hối tiếc
Thương người giúp vật sống bình an,
Đời không vướng bận, tâm thanh thản
Tu tập tinh chuyên hướng Niết Bàn…
Seattle, 20-6-2015. NK.
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha.
Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
Mùa Xuân ta lên núi
Hăm hở làm sơn ̣̣đồng
Bỏ con đường khói bụi
Cho sách vở vời trông...
Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng
thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền
thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền
bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng
Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen.
Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại.
Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.
Bằng cách này hay cách khác, Đức Phật luôn gợi nhắc cho chúng ta rằng mỗi người chúng ta đều sở hữu các khả năng và phẩm chất tốt đẹp, cần phải biết vận dụng và phát huy để làm cho cuộc sống trở nên giàu sang hiền thiện, tránh mọi khổ đau và để thực nghiệm hạnh phúc an lạc.
Trong bài kinh Nghèo khổ thuộc Tăng Chi Bộ, Ngài đơn cử câu chuyện một người nghèo túng về của cải vật chất nhưng không biết cách nỗ lực khắc phục tình trạng nghèo khó của mình nên phải liên tiếp rơi vào các cảnh ngộ khó khăn để nhắc nhở chúng ta về các tai họa khổ đau mà chúng ta sẽ phải đối diện, nếu không biết nỗ lực nuôi dưỡng và phát huy các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình.
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.
1. Hãy khiêm tốn.
Người đời vốn kiêu căng ngạo mạn
Chẳng thua ai chẳng nhịn nhường ai,
Khi nào cũng muốn ta đây
Đứng trên thiên hạ tỏ bày hư danh.
Ai tài giỏi hãy noi gưong đại thánh
Milarepa khổ hạnh tu hành,
Núi cao hang thẳm một mình
Chẳng màng cơm áo no lành
Quyết tâm tịnh hóa dứt sạch vô minh.
Không còn bản ngã phàm tình
Khiêm nhường thương xót chúng sinh muôn loài,
Thánh ca vi diệu tuyệt vời
Nguyên nhân đau khổ bởi người tự cao…
2. Tỉnh giác về cái chết
Thời gian nào có bao lăm
Trăm năm rồi cũng hóa thành hư vô,
Sanh ra rối sẽ xuống mồ
Một đời khổ nhọc mơ hồ tương lai.
Lợi danh ràng buộc kéo lôi
Quay cuồng theo nhịp sống đời nổi trôi.
Cuối cùng chấm dứt cuộc chơi
Xác thân rời rã hồn người về đâu?
Nhân duyên nghiệp báo thẳm sâu
Đưa về sáu nẻo luân hồi tái sanh.
Nói năng , hành động hiền lành
Tâm ý thanh tịnh tái sanh nhẹ nhàng.
An vui hưởng cảnh thanh nhàn…
3. Tỉnh giác về sự vô thường
Trần gian là cõi mộng
Vạn sự thảy vô thường,
Có rồi không thay đổi
Sống chết qua một đời.
Hợp tan như mây nổi
Sự nghiệp có rồi không,
Dính mắc vào hư danh
Kết thúc trong đau khổ.
Lý vô thường tỏ rõ
Sống tự tại tự do.
4. Đừng bị lừa gạt bởi thế gian.
Sân khấu trần gian diễn biến hoài
Công việc liên miên chẳng nguôi ngoai,
Tham công tiếc việc baogiờ nghỉ?
Chạy hết thời gian, xuống tuyền đài.
Sinh mạng mong manh chẳng lâu dài
Ăn chơi ngủ nghỉ hết tương lai
Thời gian trân quý khôn tìm lại
Tu tập công phu chớ lảng phai.
5. Sống chết không hối tiếc.
Muốn sống an vui chết bình an
Nhắm mắt ra đi chẳng than van,
Từ bi hỉ xả không gây tội
Gìn thân miệng ý tạo nghiệp lành.
Hiền nhân sống chết không hối tiếc
Thương người giúp vật sống bình an,
Đời không vướng bận, tâm thanh thản
Tu tập tinh chuyên hướng Niết Bàn…
Seattle, 20-6-2015. NK.