Suy nghiệm về hình ảnh “Từ đất vọt lên”

18/01/201100:09(Xem: 12821)
Suy nghiệm về hình ảnh “Từ đất vọt lên”
Suy nghiệm về hình ảnh “Từ đất vọt lên”
TRONG BỐI CẢNH BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG

blank
Một vị Bồ-tát đã viên mãn trong các hạnh nguyện, thì họ đủ khả năng tùy chuyển khắp các quốc độ, và tùy duyên ứng hiện trong các hành vi. Những nơi chốn của các vị Bồ-tát dù ở góc cạnh nào, cũng đều là tịnh độ, vì các Ngài không còn vướng kẹt trong tịnh - uế. Có chăng, chỉ là tâm thức của chúng sanh phân biệt, từ đó, đôi khi hiểu rằng trú xứ của các vị Đại Bồ-tát đang nằm ở đâu đó trên không trung, vượt cao và xa hơn cảnh giới Ta-bà mà chúng sanh đang sống. Thật sự, các Ngài đang ở ngay trong lòng cuộc sống của chúng sanh, ở trong từng mỗi niệm khởi, do vậy bất cứ nơi đâu còn có sự khổ đau và bất an, uy hiếp và thao túng, thì nguyện hạnh của các Ngài chính là vận tốc để hiện hữu phân hành - kiến tạo bình an.


Các vị Bồ-tát từ đất vọt lên, rất nhiều không thể đếm xuể, không những chỉ có chính tự thân các Ngài vọt lên và luôn cả hội chúng, quyến thuộc của các Ngài cũng tùy tùng, cho chúng sanh một sự ngạc nhiên vô cùng, dưới sự chứng minh của Đức Phật. Bên cạnh đó, Đức Phật đã tuyên bố giao sứ mệnh của Ngài cho các vị này trực tiếp nắm giữ và tiếp tục tuyên truyền rộng rãi. Sứ mệnh của Đức Phật xuất hiện tại trần thế là chân lý, là sự thật, là lẽ phải và sự bình đẳng an vui giữa cuộc đời.

Một mặt khác, Đức Phật đã thẳng thừng từ chối các vị Bồ-tát từ các phương khác đến, khi các vị này mong muốn nhận lãnh sứ mệnh của Ngài giao phó. Tại sao phải từ chối một nhã ý, thiện ý và hạnh ý đó, bởi vì Phật xét thấy ngay trong nội tại, ngay trong cảnh giới này, đất nước này, tâm hạnh của những con người này, đủ khả năng để lãnh trách nhiệm đó, mà không cần phải sự trợ giúp ở phương khác.

Lòng yêu nước cũng thế! Khi đất nước bình an, thì lòng yêu nước trong mỗi con người, nằm yên và lắng đọng, nghĩ đến chuyện đời sống gia đình, đôi khi chúng ta cũng không thể nhận ra được đâu là tình yêu quê hương đất nước đang ẩn náu trong tư tưởng của người Việt Nam. Ngược lại, khi đất nước bất an, binh chiến có khả năng xảy ra, thì từ khắp mọi nơi, ngọn lửa yêu nước, lòng tự trọng của tất cả người con dân đất Việt được trỗi dậy, như từ đất vọt lên.

Bằng nhiều cung cách khác nhau, hành động thể hiện lòng yêu nước của hàng vạn triệu người, bất kể địa vị, đó là phẩm chất cao cả của người Việt; là nếp văn hóa, tư duy và tư tưởng của dân tộc Việt đã ăn sâu trong tâm hồn. Điển hình, chúng ta đã thấy và nghe, Biển Đông đang dậy sóng, nghĩa là bờ cõi Việt Nam đang bị đe dọa xâm lăng, chiếm đoạt, bằng nhiều thủ thuật. Người dân Việt ở khắp mọi nơi trên thế giới, dù khác biệt tư tưởng nhưng đã đồng lòng gạt bỏ tất cả sự riêng tư của mình mà nhứt hô vạn ứng, bằng mọi cách để đấu tranh và bảo vệ hòa bình cho dân tộc, đó là một minh chứng. Lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam, không cần phải bàn luận nhiều từ sách vở, không cần phải là lý thuyết đặc thù, cũng vậy không cần những mẫu người yêu chuộng hòa bình bằng những lời nói suông và luôn hô hào bằng những sáo ngữ.

Lòng yêu nước phải thật sự được ghi nhận từ những con người biết hy sinh, nếm trải những thực tế khổ đau, những sỉ nhục khi bị áp bức và bị lệ thuộc, và biết sống cho kẻ khác, biết yêu quê hương và xứ sở. Chúng ta càng không phải trông chờ từ đâu đến, mong sự hỗ trợ từ bên ngoài, mà phải nghĩ đến ngay nội lực của chính mình. Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam từ nhiều thế kỷ, cho chúng ta thấy khi cả một dân tộc đã đồng lòng và cùng chí hướng thì dù cho kẻ thù là cường quốc cũng phải thất bại trước sức mạnh đó.

Đức Phật đã từ chối những phát nguyện của các vị Bồ-tát ở phương khác, và ở những cảnh giới khác, nhận lãnh sứ mạng của Ngài tuyên thuyết chân lý ở cõi Ta-bà. Bởi vì, Ngài đã thấy được năng lực, sức mạnh thật sự của những người đang có mặt, những người này đã thành thục và tràn đầy kinh nghiệm với thực tế đang diễn ra của đời sống và hoàn cảnh đang sống, đang vướng mắc thì mới có đủ khả năng xây dựng cảnh giới khổ đau này thành bình an, uế trược thành tịnh độ, chiến tranh thành hòa bình.

Cũng vậy, muốn chiến thắng được ngoại xâm và muốn chứng minh sức mạnh thật sự của đất nước chúng ta, thì hãy cho kẻ ngoại xâm biết rằng cả dân tộc đang đoàn kết và thấy được nội lực tiềm ẩn của chúng ta đó là sức mạnh của toàn dân tộc đang sống và đang sẵn sàng ở các nơi và sẵn sàng hy sinh gìn giữ lãnh thổ.

Sự lựa chọn của chúng ta trong thời điểm này chính là nhận thức rõ đâu là kẻ thời cơ, và đâu là sự yếu mềm của một bộ phận thích sống lệ thuộc, thờ ơ, và cần xét lại những thiện ý của các quốc gia lân bang. Đó là, những gì mà chúng ta cần làm trong thời điểm đang bị đe dọa và khinh thường như hiện nay, những gì đang xảy ra ngoài Biển Đông, và cũng chính là những suy nghĩ của người con Phật qua lời dạy của Ngài, trong sự nghiệp xây dựng hòa bình, an vui của tất cả chúng sanh. Chúng ta không phải là những người chỉ biết thừa hưởng những gì mình đang có và không biết nỗi khó khăn của người khác. Chúng ta cũng không phải là những người nhiệt huyết trong ngu muội, chúng ta cũng không phải là những con người luôn hiếu thắng không phân biệt lẽ phải, cũng không phải người chỉ nói không hành động.

Trong thời điểm mà cả con dân Việt Nam đang nằm trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng, sự khôn khéo lựa chọn trong đấu tranh, chính là yếu tố quan trọng để khỏi đưa đất nước rơi vào cảnh chiến tranh, tàn khốc, và nhận lấy hậu quả bởi sự thiếu đoàn kết, tan rã. Chúng ta hãy suy nghiệm lại những bài học của tiền nhân, những người đã dày công giành lấy, gìn giữ một đất nước Việt Nam có mặt trên bản đồ thế giới hiện nay, để hành động.

Thích Huệ Giáo
(Giác Ngộ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/05/2021(Xem: 13292)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 9776)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 18219)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 13217)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 9023)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 16139)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 7865)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 11978)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 8200)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/2021(Xem: 12047)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.