Suy nghiệm về hình ảnh “Từ đất vọt lên”

18/01/201100:09(Xem: 12676)
Suy nghiệm về hình ảnh “Từ đất vọt lên”
Suy nghiệm về hình ảnh “Từ đất vọt lên”
TRONG BỐI CẢNH BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG

blank
Một vị Bồ-tát đã viên mãn trong các hạnh nguyện, thì họ đủ khả năng tùy chuyển khắp các quốc độ, và tùy duyên ứng hiện trong các hành vi. Những nơi chốn của các vị Bồ-tát dù ở góc cạnh nào, cũng đều là tịnh độ, vì các Ngài không còn vướng kẹt trong tịnh - uế. Có chăng, chỉ là tâm thức của chúng sanh phân biệt, từ đó, đôi khi hiểu rằng trú xứ của các vị Đại Bồ-tát đang nằm ở đâu đó trên không trung, vượt cao và xa hơn cảnh giới Ta-bà mà chúng sanh đang sống. Thật sự, các Ngài đang ở ngay trong lòng cuộc sống của chúng sanh, ở trong từng mỗi niệm khởi, do vậy bất cứ nơi đâu còn có sự khổ đau và bất an, uy hiếp và thao túng, thì nguyện hạnh của các Ngài chính là vận tốc để hiện hữu phân hành - kiến tạo bình an.


Các vị Bồ-tát từ đất vọt lên, rất nhiều không thể đếm xuể, không những chỉ có chính tự thân các Ngài vọt lên và luôn cả hội chúng, quyến thuộc của các Ngài cũng tùy tùng, cho chúng sanh một sự ngạc nhiên vô cùng, dưới sự chứng minh của Đức Phật. Bên cạnh đó, Đức Phật đã tuyên bố giao sứ mệnh của Ngài cho các vị này trực tiếp nắm giữ và tiếp tục tuyên truyền rộng rãi. Sứ mệnh của Đức Phật xuất hiện tại trần thế là chân lý, là sự thật, là lẽ phải và sự bình đẳng an vui giữa cuộc đời.

Một mặt khác, Đức Phật đã thẳng thừng từ chối các vị Bồ-tát từ các phương khác đến, khi các vị này mong muốn nhận lãnh sứ mệnh của Ngài giao phó. Tại sao phải từ chối một nhã ý, thiện ý và hạnh ý đó, bởi vì Phật xét thấy ngay trong nội tại, ngay trong cảnh giới này, đất nước này, tâm hạnh của những con người này, đủ khả năng để lãnh trách nhiệm đó, mà không cần phải sự trợ giúp ở phương khác.

Lòng yêu nước cũng thế! Khi đất nước bình an, thì lòng yêu nước trong mỗi con người, nằm yên và lắng đọng, nghĩ đến chuyện đời sống gia đình, đôi khi chúng ta cũng không thể nhận ra được đâu là tình yêu quê hương đất nước đang ẩn náu trong tư tưởng của người Việt Nam. Ngược lại, khi đất nước bất an, binh chiến có khả năng xảy ra, thì từ khắp mọi nơi, ngọn lửa yêu nước, lòng tự trọng của tất cả người con dân đất Việt được trỗi dậy, như từ đất vọt lên.

Bằng nhiều cung cách khác nhau, hành động thể hiện lòng yêu nước của hàng vạn triệu người, bất kể địa vị, đó là phẩm chất cao cả của người Việt; là nếp văn hóa, tư duy và tư tưởng của dân tộc Việt đã ăn sâu trong tâm hồn. Điển hình, chúng ta đã thấy và nghe, Biển Đông đang dậy sóng, nghĩa là bờ cõi Việt Nam đang bị đe dọa xâm lăng, chiếm đoạt, bằng nhiều thủ thuật. Người dân Việt ở khắp mọi nơi trên thế giới, dù khác biệt tư tưởng nhưng đã đồng lòng gạt bỏ tất cả sự riêng tư của mình mà nhứt hô vạn ứng, bằng mọi cách để đấu tranh và bảo vệ hòa bình cho dân tộc, đó là một minh chứng. Lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam, không cần phải bàn luận nhiều từ sách vở, không cần phải là lý thuyết đặc thù, cũng vậy không cần những mẫu người yêu chuộng hòa bình bằng những lời nói suông và luôn hô hào bằng những sáo ngữ.

Lòng yêu nước phải thật sự được ghi nhận từ những con người biết hy sinh, nếm trải những thực tế khổ đau, những sỉ nhục khi bị áp bức và bị lệ thuộc, và biết sống cho kẻ khác, biết yêu quê hương và xứ sở. Chúng ta càng không phải trông chờ từ đâu đến, mong sự hỗ trợ từ bên ngoài, mà phải nghĩ đến ngay nội lực của chính mình. Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam từ nhiều thế kỷ, cho chúng ta thấy khi cả một dân tộc đã đồng lòng và cùng chí hướng thì dù cho kẻ thù là cường quốc cũng phải thất bại trước sức mạnh đó.

Đức Phật đã từ chối những phát nguyện của các vị Bồ-tát ở phương khác, và ở những cảnh giới khác, nhận lãnh sứ mạng của Ngài tuyên thuyết chân lý ở cõi Ta-bà. Bởi vì, Ngài đã thấy được năng lực, sức mạnh thật sự của những người đang có mặt, những người này đã thành thục và tràn đầy kinh nghiệm với thực tế đang diễn ra của đời sống và hoàn cảnh đang sống, đang vướng mắc thì mới có đủ khả năng xây dựng cảnh giới khổ đau này thành bình an, uế trược thành tịnh độ, chiến tranh thành hòa bình.

Cũng vậy, muốn chiến thắng được ngoại xâm và muốn chứng minh sức mạnh thật sự của đất nước chúng ta, thì hãy cho kẻ ngoại xâm biết rằng cả dân tộc đang đoàn kết và thấy được nội lực tiềm ẩn của chúng ta đó là sức mạnh của toàn dân tộc đang sống và đang sẵn sàng ở các nơi và sẵn sàng hy sinh gìn giữ lãnh thổ.

Sự lựa chọn của chúng ta trong thời điểm này chính là nhận thức rõ đâu là kẻ thời cơ, và đâu là sự yếu mềm của một bộ phận thích sống lệ thuộc, thờ ơ, và cần xét lại những thiện ý của các quốc gia lân bang. Đó là, những gì mà chúng ta cần làm trong thời điểm đang bị đe dọa và khinh thường như hiện nay, những gì đang xảy ra ngoài Biển Đông, và cũng chính là những suy nghĩ của người con Phật qua lời dạy của Ngài, trong sự nghiệp xây dựng hòa bình, an vui của tất cả chúng sanh. Chúng ta không phải là những người chỉ biết thừa hưởng những gì mình đang có và không biết nỗi khó khăn của người khác. Chúng ta cũng không phải là những người nhiệt huyết trong ngu muội, chúng ta cũng không phải là những con người luôn hiếu thắng không phân biệt lẽ phải, cũng không phải người chỉ nói không hành động.

Trong thời điểm mà cả con dân Việt Nam đang nằm trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng, sự khôn khéo lựa chọn trong đấu tranh, chính là yếu tố quan trọng để khỏi đưa đất nước rơi vào cảnh chiến tranh, tàn khốc, và nhận lấy hậu quả bởi sự thiếu đoàn kết, tan rã. Chúng ta hãy suy nghiệm lại những bài học của tiền nhân, những người đã dày công giành lấy, gìn giữ một đất nước Việt Nam có mặt trên bản đồ thế giới hiện nay, để hành động.

Thích Huệ Giáo
(Giác Ngộ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/05/2025(Xem: 3463)
ài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: qua sông, bỏ bè, thấy thường trực không Phật, không ta, không người. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
24/05/2025(Xem: 3473)
(Lời người dịch: Bài này trích từ Viên Âm Nguyệt San, số 21, tháng 5 và 6, năm 1936. Tác giả là Viên Âm, được suy đoán có lẽ là Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bài này kể chuyện một viên quan đời Vua Tự Đức, chỉ ra tánh vô thường và tánh vô ngã trong kiếp người. Đối với nhà Phật, hễ nhận ra tánh vô thường thường trực nơi thân tâm là đủ để giải thoát, không cần tu pháp gì khác nữa. Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ cùng từng có bài thơ, nói rằng muốn vượt qua dòng sông sinh tử để tới bờ giải thoát, thì hãy xem thân tâm như con trâu bùn qua sông, tan vào dòng sông.
24/05/2025(Xem: 5189)
Hôm nay 22 May 2025 chúng con xin tiếp tục tường trình hình ảnh cứu trợ động đất Myanmar đợt 9. Cũng như 8 đợt cứu trợ vừa qua, lần này chúng con cũng kết hợp cùng với chư vị Bhante, chư Tăng Ni VN tại Myanmar (Nhóm thiện nguyện Ánh Sáng Từ Bi, Quỹ Phụng Sự Tâm An, Quỹ Từ Tâm, nhóm Sư Cô Thích nữ Như Hiếu- Suriyavati)
23/05/2025(Xem: 5689)
Kinh A Di Đà Yếu Giải - Kinh Tam Bảo Người nói kinh này: Đức Phật THÍCH CA MÂU NI Ngài Tam Tạng Pháp Sư CƯU MA LA THẬP dịch chữ Ấn Độ ra chữ Hán Ngài Sa Môn TRÍ HÚC giải thích những nghĩa thiết yếu trong kinh Bồ Tát Giới đệ tử TUỆ NHÂN dịch Hán văn ra Việt ngữ
18/05/2025(Xem: 4067)
Mùa Phật đản, trong tâm tình tri ân đức Phật giáng trần cùng với tâm nguyện hộ trì chư Tôn đức Tăng già, các bậc tôn đức tu hành nơi xứ Phật, tuần lễ vừa qua (11 May 2025) chúng con, chúng tôi đã thực hiện viên mãn một buổi cúng dường chư Tăng các truyền thống Phật giáo tại Bangladesh Monastery thuộc khu vực Bồ Đề Đạo Tràng Bodhgaya India với sự bảo trợ của chư tôn đức Ni và chư Phật tử 4 phương...
18/05/2025(Xem: 4798)
Với năm vóc sát đất, con xin thành kính đảng lễ xá lợi Phật với tâm trí hân hoan ghi nhớ ân đức như biển cả bao la của Thế Tôn, khi ngài là một đạo sỹ Sumedha (đã chứng 8 thiền và 5 thắng trí (ngũ thông), có khả năng chứng đạo A La Hán, nhưng không vì an vui cho bản thân trong cảnh giới niết bàn, không còn buộc ràng, phiền não khổ đau, mà thay vào đó, ngài vẫn kiên tâm với Đại Nguyện Thuở xưa (đã được thực hành qua 16 A tăng kỳ kiếp), trở thành một vị Bồ Tát, lần đầu tiên được Đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara) thọ ký, sẽ trở thành một vị Phật toàn giác Gotama (Thích Ca Mâu Ni Phật) sau 4 A tăng kỳ kiếp và 100 ngàn đại kiếp[1].
14/05/2025(Xem: 4167)
Đã cuối xuân rồi mà khí trời còn mát mẻ lạ thường, hoa vạn thọ rực rỡ khắp mọi nơi, cái màu vàng cam tôn quý này dùng để dâng cúng cho thần linh. Hoàng hậu Maya bấm đốt ngón tay tính và đã thấy gần đến ngày khai hoa nở nhụy bèn vào cung:
14/05/2025(Xem: 5724)
Được sự nhiệt tâm thương tưởng của Tăng Ni, Phật tử hải ngoại đến những hoàn cảnh Tăng Ni và dân chúng Myanmar gặp nhiều khó khăn sau trận động đất , hôm nay ngày 6 tháng 5 2025 chúng con xin tiếp tục tường trình hình ảnh cứu trợ động đất Myanmar đợt 7.
14/05/2025(Xem: 6953)
Tháng tư ngập tràn nắng gió Cây cỏ xanh tươi Trời đất mười phương lộng lẫy Ba ngàn thế giới hoan ca
14/05/2025(Xem: 6847)
TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014 (Giảng lần thứ 4) PHẨM THỨ 6: PHÁT ĐẠI THỆ NGUYỆN Phát Thệ Nguyện Rộng Lớn Hòa thượng Tịnh Không chủ giảng Giảng tại: Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà Hong Kong Dịch giả: Diệu Hiệp Giảo chánh: Thích Thiện Trang