Phật ngồi trong mưa

05/12/201010:28(Xem: 11570)
Phật ngồi trong mưa
Phat_Ngoc_4
Tôi đứng trước Phật, dưới cơn mưa nhẹ.

Năm giờ sáng, mây xám tuy mỏng, nhưng che phủ bầu trời, che cả những vì sao muộn khiến không gian ẩm tối, lạnh lẽo và rưng rức quạnh hiu!

Vậy mà có vị Phật lặng thinh ngồi đó.

Trong bóng tối, dưới mưa bay, tôi vẫn lờ mờ thấy nụ cười từ ái, an nhiên của Phật. Phật ngồi trên bục gỗ đơn sơ, lưng dựa vách tường của một kho hàng, chung quanh không hoa đèn, trên đầu không tàn lọng. Phật ngồi bình dị như một vị Phật ở làng quê hẻo lánh, có mặt để giữ niềm tin cho người tuyệt vọng, để an ủi kẻ bần hàn vất vả ngược xuôi.

Nhưng đây là thị trấn một quốc gia giầu có. Và vị Phật đang ngồi trong mưa là vị Phật được hàng triệu người trên khắp thế giới chiêm bái.

Đó là tượng Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới.

Tôn tượng đã vân du từ Âu sang Á, từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, nơi nơi đều được cực kỳ sùng phụng, được đón rước cực kỳ trang trọng bằng những phương tiện tối tân nhất, rực rỡ nhất, tốn kém nhất mà khả năng nơi thỉnh Phật có thể làm được.

Những ai không hội đủ duyên đến chiêm bái Phật Ngọc, cũng có thể thấy được những hình ảnh độc đáo của thế kỷ này, qua bước chân hoằng hóa của Tôn Tượng Đức Bổn Sư Thích Ca được tạc bằng ngọc quý, qua những kỹ thuật thông tin tân tiến.

Vậy mà hôm nay, Phật Ngọc đang ngồi hiu quạnh trong bóng tối mưa bay…

Tôi bật khóc!

Nhưng lập tức, điều gì đó khiến tôi nhận ra ngay, nhận rất rõ, tôi không khóc vì thương Phật ngồi dưới mưa. Tôi khóc để tạ ơn Phật đã ngồi đây, trong không gian này, cho kẻ vô minh u tối là tôi có phút giây mầu nhiệm bật nhớ tới bát cháo thiu của bà lão nghèo khổ đã cúng dường Ngài Tôn Giả Đầu Đà Đệ Nhất Đại Ca Diếp.

Tôn giả thực hành pháp tu Hạnh Đầu Đà từ trước khi được gặp Phật, và trong mười điều rất nghiêm minh khổ hạnh của pháp tu này, tôn giả chỉ không triệt để tuân theo điều thứ năm, là “Khất thực không phân biệt giầu nghèo”. Với tâm từ bi lớn, Tôn Giả nghĩ rằng, người giầu đã đủ phước mới đang hưởng giầu; người nghèo cần được giúp đỡ hơn, để gieo duyên lành, mới mong có cơ hội hưởng phước điền.

Phật Ngọc đã hiện diện ở rất nhiều nơi trên thế giới, qua bao hình thức cực kỳ rực rỡ, tráng lệ. Nay bất ngờ Phật về đây, một nơi không phải chùa, mà chỉ là một phòng sinh hoạt cộng đồng, nơi bất cứ ai cũng có thể mướn để sinh hoạt. Một nơi như thế, làm sao thiết lập bệ cao uy nghiêm, trang hoàng rực rỡ như những nơi Phật từng dừng bước?

Vậy mà,

Đáng phục thay, niềm tin của những người con Phật trẻ tuổi!

Đáng quý thay, sự can đảm của lòng kính ngưỡng trong sáng!

Chủ đề “Phật Ngọc Trong Ta”của nhóm “Mắt Thương Nhìn Đời” đã nói lên điều này.

Những người trẻ phải tin bằng niềm tin mãnh liệt nhường nào, nơi lời Phật dạy, là mỗi chúng sanh đều có một vị Phật Bên Trong, mới dám thỉnh Phật Bên Ngoài về, trong phương tiện hạn hẹp như thế!

Những người trẻ cũng phải can đảm bằng sự can đảm phi thường nào, mới dám an vị Phật giữa sương gió tối tăm thế này!

Nếu lắng tâm suy nghĩ, bốn chữ “Phật Ngọc Trong Ta”của chủ đề, đã đủ giải tỏa sự việc hy hữu này. Tôn tượng Phật Ngọc quý giá ngồi nơi đơn sơ đạm bạc hay nơi hào nhoáng hoa đèn cũng chỉ để nhắc nhở chúng ta quán chiếu tự thân mà hiển lộ Phật Ngọc tự tâm. Chỉ điều này thôi. Và chỉ điều này mới là điều mười phương Chư Phật nhìn xuống, sách tấn chúng sanh. Dù Tôn Tượng bằng đồng bằng đá, hay kim cương ngọc ngà quý báu, dù Phật ngồi nơi xóm làng nghèo khổ hay đô thị giầu sang cũng không vị Phật nào chờ đợi chúng sanh sùng phụng mà không hành trì lời dạy.

Có tình cờ không, khi nhóm Phật tử trẻ đã can đảm thỉnh Phật Ngọc về nơi đơn sơ này để nói lên điều cực kỳ đáng nói, là “Phật Ngọc Trong Ta”? Nhóm trẻ đã được một vị thầy khả kính hết lòng yểm trợ tinh thần. Chính thầy, suốt thời gian Phật Ngọc ngự giữa gió sương, Thầy đều có mặt từ năm giờ rưỡi sáng để hướng dẫn đại chúng tọa thiền và lạy Hồng Danh Sám Hối.

Chính buổi sáng mưa bay này là buổi đầu tiên, Thầy chậm rãi bước tới, không che dấu nụ cười cảm động ẩn sau khăn áo mầu nâu sậm:

- Mưa gió lạnh lẽo thế này mà qúy vị cũng có mặt rồi ư?

Thầy từ bi hỏi thế, nhưng Thầy cũng đã thấy, như chúng con thấy, là Phật đang ngồi kia, dưới mưa! Và chính Thầy, thưa Thầy, Thầy cũng đang đến với chúng con, không dù, không nón, có lẽ không đủ cả áo ấm! Ôi, chỉ thế thôi, đã khiến chúng con cùng bật khóc! Không cần ngôn ngữ nào, bởi không ngôn ngữ nào chở nổi tình thương bao la của Đức Phật đang ngồi dưới mưa, của vị Thầy đang hiển lộ bước chân 1250 vị Tỳ-kheo năm xưa!

Vô hình chung, tâm tình này, cảnh giới này cũng đang thể hiện hài hòa sự hành trì của hai vị, Đầu Đà Đệ Nhất và Giải Không Đệ Nhất, trong Thập Đại Đệ Tử của Phật. Tôn Giả Đại Ca Diếp khi khất thực chỉ độ nhà nghèo vì nghĩ họ quá nghèo, thiếu hoàn cảnh và phương tiện cúng dường nên Tôn Giả phải tìm đến, giúp họ gieo duyên. Trái lại, Tôn Giả Tu Bồ Đề khi khất thực chỉ tới nhà giầu vì nghĩ rằng họ đắm nhiễm giầu sang, lơ là tu tâm tích đức, hưởng hết phước kiếp này, kiếp sau nhiều phần sẽ đọa lạc trầm luân, nên Tôn Giả đến khất thực để nhắc nhở. Hai môi trường khác nhau nhưng đều xuất phát từ tâm từ bi.

Vậy điểm hội tụ đó là gì? Có phải là từ ÁNH SÁNG PHÁP THÂN PHẬT ẩn sau hình thức Tôn Tượng, tạc bằng bất cứ chất liệu gì, an vị ở bất cứ nơi nào?

May mắn thay, những ai có cơ duyên dừng bước trước Hội Trường Sangha thuộc thành phố Huntington Beach, miền Nam California Hoa Kỳ, trong thời gian mười ngày Phật Ngọc ngự tại đây. Mỗi ngày đều có ít nhất ba thời pháp, cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Nhìn người bản xứ chăm chú nghe pháp, hoặc thành kính qùy trên nền xi măng, chiêm ngưỡng Phật và lạy Phật, ai trong chúng ta mà không bồi hồi cảm động! Rõ ràng, họ không đến đây để chỉ thưởng lãm, vì không có hình thức nào lộng lẫy để thưởng lãm! Phải chăng họ đã cảm nhận được điều gì thầm lặng, sâu sa nhưng cực kỳ mầu nhiệm, qua thế ngồi lặng thinh, tự tại của Đức Bổn Sư Như Lai mà tìm đến, lạy Phật một lạy, tâm bình, thế giới tất bình theo.

Kính cảm tạ Chư Tôn Đức đã tới chứng minh một điều mà người con Phật cần nhìn thấy, là “Phật Ở Mọi Nơi”.

Kính cảm tạ Chư Vị Giảng Sư đã từ bi và hoan hỷ ban pháp-thực.

Kính cảm tạ HT Thích Phước Tịnh đã có mặt mỗi buổi sáng mờ sương, hướng dẫn đại chúng bằng pháp thân thanh tịnh khi tọa thiền cũng như khi thành kính lạy Hồng Danh Sám Hối.

Kính cảm tạ Đại Đức Thích Hạnh Tuệ đã mỗi chiều hướng dẫn trì tụng Chú Đại Bi trong lễ thắp nến cầu nguyện.

Sự trải lòng tôn kính và giảng bày giáo pháp Chư Phật của quý Ngài đã tỏa trong không gian khiêm tốn này, làn hương kỳ diệu của Giới Định Tuệ, dẫu lặng thinh, vô hình mà thơm tho từ nhành cây đến bụi cỏ.

Sau, không thể không cám ơn và tán thán nhóm bạn trẻ Mắt Thương Nhìn Đời, các thiện nguyện viên từ khắp nơi, đã thể hiện cụ thể hai điều, tưởng dễ, qua lời nói, nhưng không dễ, qua việc làm. Đó là: Niềm tin và lòng can đảm.

Huệ Trân
(Huntington Beach, Cali, trung tuần tháng 11-2010)

Mời Xem Thêm:

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2021(Xem: 13811)
Hôm qua mình có giới thiệu cuốn sách Buddhism in America (Phật Giáo Mỹ) của Richard Hughes Seager. Có bạn hỏi thêm muốn tìm hiểu Phật Giáo Mỹ nên nhờ mình giới thiệu vài cuốn. Nghĩ rằng đây là câu hỏi hay nên mình xin viết giới thiệu 7 cuốn sách để nhiều người lợi lạc. 1. Cuốn The Faces of Buddhism in America (Diện Mạo của Phật Giáo ở Mỹ) do Charles Prebish 2. Buddhist Faith in America (Đức Tin Phật Giáo ở Mỹ) tác giả Michael Burgan 3. Buddhism in America của Richard Huges Seager (1999, tái bản 2012) 4. Buddhism in America của Scott Mitchell 5. Altered Traits: Science Reveals How Meditation Changes Your Mind, Brain, and Body, 2017 6. A Mindful Nation: How a Simple Practice Can Help Us Reduce Stress, Improve Performance, and Recapture the American Spirit, 2012, 7: American Dharma: Buddhism Beyond Modernity
01/02/2021(Xem: 9869)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.
01/02/2021(Xem: 19860)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/2021(Xem: 10581)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.
01/02/2021(Xem: 17589)
Phần này bàn về các danh từ gọi dụng cụ gắp cơm và đưa vào miệng (ăn cơm) như đũa hay trợ, khoái, giáp cùng các dạng âm cổ của chúng. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), TQ (Trung Quốc), ĐNA (Đông Nam Á), HT (hài thanh), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), VBL (tự điển Việt Bồ La/1651) ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị/1895).
29/01/2021(Xem: 10781)
Ở đời không phải ai cũng chấp nhận sự chân thành của bạn. Những người quanh ta luôn công nhận việc tốt mà ta đã và đang làm, trở thành đương nhiên như thế… và đến một ngày kia bạn quá mệt mỏi liệu có ai bên cạnh bạn và cảm thông với bạn không? Vì trong suy nghĩ của họ bạn là người tự nguyện cho đi..., trong hoàn cảnh như thế liệu bạn có tiếp tục cho đi nữa hay không? Tất nhiên là có, chúng ta hãy tiếp tục sống tốt nhưng phải là người tốt thông minh. Hãy tin rằng không có nỗ lực nào là uổng phí, hãy có quan điểm và lý tưởng của chính mình, luật nhân quả luôn đền bù cho bạn xứng đáng. Nhà Phật dạy có Luân Hồi-Ngiệp Báo. Không ai phủ nhận rằng quan tâm chăm sóc người khác là tốt, nhường nhịn người khác đều là tốt, tuy nhiên quan tâm quá, họ sẽ làm khó ta vạn lần, nhiệt tình quá họ sẽ đâm ra nghi ngờ, thậm chí khiến bạn bị tổn thương …
28/01/2021(Xem: 11023)
Chúng ta đã quen với thể loại thơ Thiền sáng tác nhiều thế kỷ trước từ các ngài Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Hương Hải… Hay gần đây như với thơ của các ngài Nhất Hạnh, Mãn Giác, Tuệ Sỹ, Minh Đức Triều Tâm Ảnh, Ni Trưởng Trí Hải… Đó là nói cho chặt chẽ. Nếu nói cho nới rộng hơn, thơ Thiền cũng là Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Trịnh Công Sơn… Mỗi thời đại đều có những nét riêng, mỗi tác giả cũng là một thế giới độc đáo. Mặt khác, thơ Thiền mỗi quốc độ cũng khác. Trong khi phần lớn thơ Thiền Nhật Bản cô đọng với thể haiku, thơ Thiền Trung Hoa có nhiều bài hùng mạnh như tiếng sư tử hống, như với Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác, hay Tín Tâm Minh của ngài Tăng Xán. Không ngộ được tự tâm, sẽ không có văn phong đầy sức mạnh như thế. Nơi đây, chúng ta nêu câu hỏi: Làn gió Thiền Tông đã ảnh hưởng vào thơ Hoa Kỳ ra sao? Và sẽ giới thiệu về bốn nhà thơ.
28/01/2021(Xem: 13592)
Mọi người đều biết câu chuyện Xá Lợi Phất thăm Cấp Cô Độc khi bị bịnh nặng và giảng cho Cấp Cô Độc bài pháp về quán chiếu, khi thiền trong Tứ Niệm Xứ mà chữa bịnh cho Cấp Cô Độc. Quán về Phật pháp tăng, 18 giới gồm 6 căn 6 trần 6 thức, rồi quán về 7 đại: đất nước gió lửa không kiến thức, quán về thời gian không gian và cuối cùng là quán về 5 uẩn. Cấp Cô Độc nghe xong hết bịnh. Cũng câu chuyện như vậy, nhưng nó khác đi chi tiết là lúc về già sắp mất: Xá Lợi Phất khai thị Cấp Cô Độc chú trọng về 5 uẩn, hãy trả 5 uẩn về lại cho 5 uẩn khi duyên hội tụ đã hết. Hãy trả Pháp về lại cho Pháp. Và Cấp Cô Độc chết thành A la hán vì đã ngộ được đạo về cõi trời.
28/01/2021(Xem: 13276)
Chùa Thiếu Lâm Tự mở ra khóa ngồi thiền cho 18 vị tu thành A la Hán. Khoá tu này trong 30 ngày ngồi trong tịnh thất suốt ngày đêm. Vị chủ trì là Hòa thượng trụ trì của Thiếu Lâm Tự. Thời bấy giờ là mùa xuân, cảnh đẹp hoa nở và thời tiết ấm áp. Mọi thiền sinh miệt mài tập trung thiền định đạt được 30 ngày miên mật thì bỗng xảy ra tiếng nói vọng vào từ ngoài cửa. Giọng nói đầy êm dịu thanh thoát và trong trẻo của một cô gái. Mỗi tiếng phát âm đi sâu vào tim người nghe một cảm giác êm dịu nhẹ nhàng như vuốt ve trái tim của con người.
27/01/2021(Xem: 8519)
Kính thưa quý đọc giả, tôi đột nhiên thấy được quyển sách với nhan đề “Khéo Dùng Cái Tâm” do Hội Phật Học Bát Nhã biên soạn, liền mượn về ngay để nghiên cứu. Tôi sở dĩ nghiên cứu tác phẩm này là do chủ đề “Khéo Dùng Cái Tâm” lôi cuốn tư tưởng của tôi. Chủ đề rất hấp dẫn khiến tôi tò mò không biết nội dung trong đó nói gì đành phải bỏ hết thời gian để đọc cho xong. Toàn bộ quyển sách chỉ nói về Ma Nhập, nhưng quý đọc giả cần phải đọc qua để biết Ma Nhập quan hệ như thế nào đối với con người chúng ta, đồng thời cần phải tỏ tường để tránh né và đối trị.