Thế Giới Vật Chất Và Phi Vật Chất

09/05/201309:57(Xem: 16138)
Thế Giới Vật Chất Và Phi Vật Chất

THẾ GIỚIVẬT CHẤT VÀ PHI VẬT CHẤT
Hoang Phong

Chúngta sống trong một thế giới gồm có hai thể dạng :vậtchất và phi vật chất. Tuy mang hai thể dạng khác biệtnhau nhưng thật ra thế giới ấy khá đồng nhất mà Phậtgiáo gọi chung là thế giới luân hồi hayta bà. Tuy thế người ta lại thường tách rời hai thểdạng ấy và xem chúng thuộc vào hai « thế giới » riêng biệt: thế giới vật lývà thế giới tâm linh,còn gọi là thế giới vật chấtvà thế giớitinh thần. Sự phân biệt sai lầm hay thiếu chínhxác đó còn có thể trở nên tệ hai hơn khi người ta tưởngtượng ra một thế giới tâm linh phi vật chất biệt lậpbên ngoài tâm thức gồm có ma quỷ, thần linh, thiên đưòng,địa ngục..., và không ngờ rằng cái thế giới tâm linh phivật chất ấy cũng có thể đang chuyển động trong tâm thứccủa chính mình.

Bàiviết này nhắm vào chủ đích xác định hai thể dạng vậtchất và phi vật chất trong cái thế giới mà chúng ta đangsống dưới các khía cạnh triết học và khoa học để làmđề tài suy tư và để so sánh với quan điểm của Phật giáo,và sau cùng sẽ rút tỉa những gì thiết thực và hữu íchgóp thêm vào việc tu tập của một người Phật tử.

Định nghĩavề thế giới vật chất và phi vật chất

Trướchết cũng nên định nghĩa thế nào là vật chất và phi vậtchất. Đối với thế giới vật chất, có thể ta yên trínghĩ rằng khỏi cần phải định nghĩa hay tim hiểu gì cảvì cái thế giới đó đang hiện hữu sờ sờ trước mắtvà bất cứ ai cũng biết. Tuy nhiên cái thế giới ấy thậtra đã bị thu hẹp rất nhiều bởi khả năng cảm nhận củacác cơ quan giác cảm, một người cận thị sẽ không nhìnthấy được các vật thể ở xa chẳng hạn. Tuy nhiên khoahọc đã góp phần không nhỏ làm gia tăng khả năng hiểu biếtcủa con người về thế giới vật chất bằng các dụng cụnhư kính hiển vi, viễn vọng kính hoặc các máy móc đo đạtkhác, và từ đó đã mở rông thêm cái thế giới vật lýchung quanh, kể cả việc theo dõi bằng máy móc sự vận hànhcủa tâm thức dưới một một vài khía cạnh nào đó.

Nhữnggì vượt ra ngoài « thế giới vật chất » thì chúng ta gọichung là « thế giới phi vật chất » bao gồm tất cả nhữnghiện tượng không hình tướng, không màu sắc, không âm thanhvà không sờ mó được, có nghĩa là vượt khỏi khả năngcảm nhận của ngũ giác. Vậy thế giới ấy gồm có nhữnggì ? Nói một cách tổng quát thì tất cả mọi hiện tượng,dù là vật chất hay phi vật chất trong thế giới này đềuđược sinh khởi hay tạo tác bằng cách lệ thuộc vào nhiềuđiều kiện. Đức Đạt-Lai Lạt-Ma phân chia các hiện tượngtrong thế giới luân hồi thành ba thể loại : các hiện tượnghình tướng, các hiện tượng tri thức và các hiện tượngkhông phải hình tướng cũng không phải tri thức. Các hiệntượng hình tướng gồm các vật thể có hình dáng, màu sắc,v.v..., có thể nhìn thấy bằng mắt hay sờ bằng tay. Các hiệntượng tri thức thì không có hình thể, không màu sắc...,nói chung là không có đặc tính vật lý và không thể đo đạtdược bằng dụng cụ. Nhóm thứ ba gồm các hiện tượng khônghình tướng cũng không tri thức, tức là các khái niệm mangtính cách trừu tượng, chẳng hạn như nghiệp (karma),thời gian, không gian, vị thế, thứ tự, các con số, cá thể,sự sống, vô thường, sự sinh, già nua... Theo cách phân loạitrên đây thì thể loại thứ nhất thuộc vào lãnh vực vậtchất, hai thể loại thứ hai và thứ ba thuộc vào lãnh vựcphi vật chất.

Tómlại, tất cả những gì đang biến động trong tâm thức, kểcả những khái niệm của sự hiểu biết dùng để xác địnhnhững hiện tượng bên ngoài tâm thức đều thuộc vào thếgiới phi vật chất. Những xúc cảm như lo âu, sợ sệt, thươngyêu, giận dữ, khổ đau, hạnh phúc..., là những thành phầncủa thế giới phi vật chất. Đồng tiền giấy hay đồngtiền bằng vàng ta đang cầm trên tay là vật chất, nhưng giátrị của chúng có tính cách quy ước thì lại thuộc vào lãnhvực phi vật chất. Những cơn ác mộng trong giấc ngủ haynhững ám ảnh khiếp đảm trong tâm thức một người bịbệnh tâm thần hoặc những ảo giác thích thú của một ngườidùng ma túy... đều thuộc vào « thế giới phi vật chất ».

Theocách phân loại của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma như được trìnhbày trên đây thì thời gian và không gian thuộc vào thế giớiphi vật chất, chúng không có hình tướng và cũng không phảitri thức. Vậy thời gian và không gian thật sự là gì ? Câuhỏi có thể làm cho nhiều người sửng sốt vì số đôngtrong chúng ta vẫn yên trí rằng thời gian và không gian lànhững gì quá « đương nhiên » và bất cứ ai cũng biết.Nhưng thật ra cho đến nay chưa có một triết gia hay một khoahọc gia nào hiểu được thời gian và không gian là gì. Từthời cổ đại cho đến nay đã có không biêt bao nhiêu triếtgia và khoa học gia thay nhau đưa ra các giả thuyết và kháiniệm về không gian và thời gian. Nhà toán học Hy Lạp Euclide(~450 ~380 trước tây lịch) đề nghị không gian có ba chiều,và gần đây hơn thì nhà bác học Albert Einstein (1879-1955) gánthêm cho cái không gian toán học của Euclide một chiều nữalà thời gian. Nhà bác học Isaac Newton (1643-1727) cho rằng khônggian có tính cách tuyệt đối, nhà bác học Gottfried Liebniz(1646-1716) thì khẳng định không gian chỉ có tính cách tươngđối, và nhà toán học kiêm vật lý và triết gia Henri Pointcaré(1854-1912) lại cho rằng hình học không gian chỉ đơn giảnlà một quy ước mà thôi. Đối với thời gian thì lại cònphức tạp hơn nữa vì thời gian có tính cách « trừu tượng» hơn không gian rất nhiều. Tóm lại, những gì vừa đượctrình bày cho thấy chúng ta có xu hướng tin vào những sựkiện có vẻ như hiển nhiên được cảm nhận qua kinh nghiệmthường nhật của các giác quan, nhưng thực sự thì chúngkhông quá hiển nhiên như chúng ta tưởng.

Đọc thêm: ●TRÍ TUỆ TRONG PHẬT GIÁO - Hoang Phong

Sựcấu hợp giữa thân xác và tâm thức :

Thânxác vật chất còn được kết hợp với một thành phần vôcùng quan trọng nữa, đó là tâm thức. Kính sách nói rằngcá thể con người có ba cửa ngõ : đó là thân xác, ngôn từvà tâm thức. Có thể không đến nỗi quá khó khi cần khéphai cửa ngõ thân xác và ngôn từ để cho chúng nghỉ ngơi,tuy nhiên đối với cửa ngõ tâm thức thì hết sức gay go.Thí dụ một người ngồi thiền có thể giữ cho thân xácbất động, miệng khép lại, nhưng tâm thức thì không mấykhi chịu nghỉ ngơi. Vì thế tâm thức là thành phần mà ngườitu tập khó nắm bắt và chủ động nhất. Sau đây là vàilời giảng liên quan đến tâm thức của một đại sư Tâytạng là ngài Dilgo Khyentsé Rinpoché (1910-1991), rất uy tín đốivới giới Phật tử Tây phương :

«Tâmthức đi ngang thân xác giống như một người khách bướcvào một gian nhà. Xuyên qua thân xác ấy, tâm thức nhận biếtđược hình tướng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác. Khi tâm thứcra đi thì thân xác sẽ hóa thành xác chết. Nó sẽ không cònquan tâm đến cái đẹp hay cái xấu, lời lăng nhục hay ngợikhen, không thích thú khi được mặc quần áo lụa là, cũngkhông đau đớn khi bị hỏa táng. Trong tình trạng đó, thânxác là một vật thể không khác gì đất và đá. Khi thânxác và tâm thức tách rời nhau, ngôn từ giữ một vị trítrung gian giữa hai thể dạng cũng biến mất, giống như mộttiếng vang im bặt. Giữa ba thành phần thân xác, ngôn từ vàtâm thức, thì tâm thức quan trọng hơn hết, tu tập Phậtpháp (Dharma) chính là cách biến cải tâm thức ».(tríchtừ quyển Le trésor du coeur des êtres eveillés, Dilgo KhyentséRinpoché, Sueil, 1996)

Tahiểu rằng tâm thức không phải là thân xác, tuy nhiên ta khôngthể tách rời nó khỏi thân xác. Mỗi khi ta muốn nắm bắtnó thì ta cũng không biết nó ở đâu. Nếu muốn tìm hiểuvà xác định nó thì ta cũng không biết nó thật sự là cáigì. Nó không hình tướng, không màu sắc, không hàm chứa mộtđặc tính vật chất nào. Ngài Long Thụ thì xem tâm thức đơngiản chỉ là một danh xưng.

Nhữnggì vừa nêu lên cho thấy việc tìm hiểu tâm thức rất khóvà việc tìm hiểu ấy giữ một vị trí quan trọng trong việctu tập Phật pháp. Tâm thức sẽ được trình bày trong cácphân đoạn dưới đây liên quan đến ngũ uẩn.

Sựchuyển tiếp liên tục giữa các thể dạng vật chất và phivật chất :

Hầuhết chúng ta đều hiểu là thân xác một cá thể con ngườiđược hình thành từ sự kết hợp giữa tinh trùng của chavà noãn cầu của mẹ. Tuy nhiên ta vẫn có thể thắc mắctại sao lại xảy ra sự kết hợp đó để làm phát sinh rasự hiện hữu của ta hôm nay ? Tại sao chỉ có một con tinhtrùng nào đó trong số hàng triệu tinh trùng do cha ta phóngra lại chui lọt vào một cái noãn cầu của mẹ ? Đấy làmột biến cố gần như vô nghĩa so với trùng trùng điệpđiệp các hiện tượng khác đang chuyển động trong thế giớinày, tuy nhiên đối với ta biến cố đó có thể là nguồngốc của cả một vũ trụ vì lý do là sự hiện hữu củavũ trụ này phát sinh tùy thuộc vào sự cảm nhận của chínhta. Dù cho ta không quan tâm và thắc mắc về biến cố đóđi nữa, nhưng các khoa học gia, triết gia, tư tưởnggia, các nhà thần học... đã đưa ra không biết bao nhiêu triếtthuyết để cố gắng giải thích các hiện tượng trong thếgiới này, trong số đó có sự kết hợp giữa một tinh trùngvà một cái noãn cầu.

Đốitượng của khoa học giới hạn trong thế giới vật chấtvà các thể dạng biến động của thế giới đó, vì thếquan điểm của các khoa học gia cũng trở nên hạn hẹp hơnvà thông thường thì họ chỉ nêu lên các thuyết chính yếunhư ngẫu biến (hasard), hoặc thuyết quyết định (déterminisme)liên quan đến quy luật nguyên nhân và hậu quả. Các triếtgia thì thả cho sự suy luận tung hoành mạnh hơn và đưa ranhiều triết thuyết đa dạng khác, chẳng hạn như các thuyếtđịnh mệnh (fatalisme), thuyết tất yếu (nécessitarisme), thuyếtvô định (indéterminisme – một thuyết chủ trương ngượclại với thuyết quyết định), thuyết hỗn độn (chaos), thuyếttự chủ (liberté), thuyết sáng tạo hay tạo hóa (créationisme)v.v...

Ngườitu tập không nên rơi vào những cái bẫy như thế, nếu rơivào đó thì cũng giống như một con hổ vướng vào lưới,một con nai rơi xuống một cái hố ngụy trang, hay một concá chui vào rọ. Thay vì đi tìm sự giải thoát thì ta lạirơi vào sự vướng mắc. Đức Phật luôn luôn cảnh giác cácđồ đệ của Ngài không được tham gia vào những biện luậnvô bổ và thuần lý như thế. Trước những câu hỏi đượcnêu lên thuộc vào các lãnh vực ấy thì Đức Phật giữ yênlặng và không trả lời. Thật ra những biện luận siêu hìnhtheo lối đó chỉ là cách nhào nặn một vài ý tưởng dựatheo kinh nghiệm và sự hiểu biết cá nhân của mỗi triếtgia để trình bày dưới những hình thức phức tạp và cầukỳ. Nếu ta cố tình tham gia vào đấy để tự nhào nặn tưduy của mình thì cũng rất có thể ta sẽ khám phá ra mộtthế giới muôn màu và muôn vẻ, những thật ra thì cái thếgiới ấy rỗng tuếch. Phần lớn các triết thuyết không hàmchứa điều gì thiết thực, đấy là chưa nói đến một sốtriết thuyết đã từng làm phát sinh những chủ nghĩa tai hạigây ra không biết bao nhiêu đỗ vỡ và đau thương cho nhânloại.

Vìvậy trước sự kiện một con tinh trùng này chui vào một cáinoãn cầu kia để làm phát sinh ra sự hiện hữu của ta hômnay thì ta phải hiểu như thế nào ? Tất nhiên là khó cho tatin có một vị thánh nhân hay một vị thần linh nào đó ngồibên cạnh giường cha me ta để chờ đúng lúc thuận tiệnmà tuyển chọn cho ta một con tinh trùng và một cái noãn cầu.Cha mẹ ta cũng không nghĩ đến việc ấy vì họ còn bận côngviệc của họ, dù cho họ có muốn thì cũng không làm được.Riêng phần ta thì lúc đó ta « chưa » hiện hữu vậy làmthế nào để tự chọn cho ta.

Thóithường ta chỉ sống xuyên qua những kinh nghiệm của giáccảm liên quan đến thế giới vật-chất và không hề quantâm đến những gì thuộc vào thế giới phi-vật-chất. Chúngta hãy lấy thí dụ về hình ảnh một đứa bé cắp sách đếntrường, nếu trước kia đứa bé không chịu cố gắng họchành thì hôm nay ta sẽ không biết đọc ? Hình ảnh đứa béđã hoàn toàn thuộc vào thế giới phi-vật-chất, tuy nhiênta vẫn cảm thấy có một sự liên tục nào đó giữa đứabé và sự hiện hữu của ta hôm nay. Hành động của đứabé trước đây liên hệ đến những gì mà ta đang thừa hưởng.

Sởdĩ ta cảm nhận được một sự liên tục nào đó trong quátrình hiện hữu chính là nhờ vào tâm thức, và tâm thứcthì nhờ vào sự hoạt động của não bộ. Tuy nhiên ta khôngthể nào bảo rằng một cá thể chỉ hiện hữu liên tụctrong các giai đoạn mà não bộ hoạt động, ngoài các giaiđoạn đó ra thì sự hiện hữu của ta không có. Tất cảcác giai đoạn như phôi, thai nhi, ấu nhi, vị thành niên, trưởngthành, già nua, bệnh tật... đều dự phần vào quá trình hìnhthành và hủy hoại của một cá thể, tuy nhiên khả năng ýthức được sự liên tục giữa các thể dạng ấy chỉ cóthể phát hiện trong thời gian mà não bộ hoạt động bìnhthường. Trong các giai đoạn phôi, thai nhi thì não bộ chưacó hoặc chưa hoạt động hữu hiệu, cũng thế trong các trườnghợp não bộ bị chấn thương, đứt mạch máu não, hôn mêhay là trường hợp bị bệnh tâm thần, bệnh alzheimer thìnão bộ không còn hoạt động hữu hiệu nữa. Mặc dù chưacó não bộ hay não bộ không hoạt động hữu hiệu thì sựliên tục trong quá trình hiện hữu của một cá thể vẫntiếp tục không gián đoạn. Đức Đạt-Lai Lạt-Ma gọi đólà dòng tiếp nối liên tục (continuum) của tri thức, dòngliên tục đó không mang tính cách khởi thủy và nó kéo dàixuyên qua các chu kỳ hiện hữu.

Sựchuyển tải của nghiệp :

Phầntrình bày trên đây giải thích về sự liên tục của cácthể dạng vật-chất và phi-vật-chất của một cá thể giớihạn trong một chu kỳ hiện hữu duy nhất. Tuy nhiên các thểdạng hiển hiện liên tục của một cá thể cũng chuyển tiếpvà liên kết với nhau từ chu kỳ này sang chu kỳ khác. Nghiệpcũng theo đó mà hoán chuyển theo, từ chu kỳ này sang chu kỳkhác.

Nếusự tương quan giữa nghiệp và quả tương đối dễ nhậnthấy xuyên qua các thể dạng thuộc chung một chu kỳ, thídụ như trường hợp đứa bé đến trường – người lớnbiết đọc, thì sự hoán chuyển của nghiệp từ chu kỳ nàysang chu kỳ khác có vẻ khó nhận thấy hơn. Chúng ta đềuhiểu rằng quy luật nguyên nhân – hậu quả có tính cáchvững chắc và toàn cầu, tác động trên tất cả các thểdạng vật-chất và phi-vật-chất, xuyên qua không gian và thờigian, vì thế nó không thể bị hạn chế và chỉ có giá trịtrong giới hạn của mỗi chu kỳ. Nếu quả chưa phát sinh trongchu kỳ hiện tại thì nó sẽ phát sinh trong chu kỳ tiếp theo,hoặc trong những chu kỳ xảy ra thật xa sau này khi đã hộiđủ cơ duyên, tức các điều kiện thích nghi. Trên phươngdiện « kỹ thuật » thì sự liên hệ giữa nghiệp và quảxảy ra như thế nào ? Nghiệp được chuyển tải ra sao từmột thể dạng này sang một thể dạng khác, từ chu kỳ nàysang chu kỳ khác ?

Nghiệplà một hành động và tất cả mọi hành động đều đểlại dấu vết. Đức Đạt-Lai Lạt-Ma giảng rằng những dấuvết do nghiệp tạo ra có thể hình dung như những « vết hằn» in đậm trên dòng tiếp nối liên tục của tri thức. Dòngtiếp nối ấy là cơ sở chuyển tải của nghiệp. Nhờ vàomột thể dạng nào đó một cá thể hành động và tạo ranghiệp, nghiệp lưu lại dấu vết trên dòng tiếp nối. Cũngnhư tất cả các hiện tượng khác, thể dạng đó không thoátkhỏi các nguyên lý vô thường và duyên sinh và sẽ biến đổikhi các điều kiện tạo tác ra nó đổi thay. Tuy nhiên vếthằn của nghiệp trên dòng tiếp nối vẫn còn nguyên vẹncho đến khi gặp được những điều kiện hay cơ duyên thíchnghi để phát hiện thành quả trùng hợp với một thể dạngmới của cá thể ấy. Sự phát hiện đó có thể xảy ra trongthể dạng kế tiếp hay các thể dạng khác thuộc vào cácchu kỳ khác... Sự cố gắng học hành của một đứa bé trướcđây hôm nay giúp cho ta biết đọc. Những xúc cảm phát sinhtừ những gì ta đang đọc và có thể cả những hành độngcụ thể phát sinh từ những xúc cảm đó sẽ làm phát sinhra quả trong một thể dạng tiếp theo sau, thuộc vào chu kỳhiện hữu này hay trong những chu kỳ hiện hữu xa hơn và trùnghợp với một thể dạng « khác » của chính ta trên dòngtiếp nối.

Sựphối hợp giữa tinh trùng và noãn cầu là một cơ duyên giúpcho thể dạng phi-vật-chất cuối cùng trong quá trình hiệnhữu trước đây của ta hiển hiện trở lại thành một thểdạng vật-chất khi tinh trùng phối hợp với noãn. Sự thamgia của cha mẹ ta vào biến cố đó chỉ là những điều kiệnphụ thuộc còn gọi là cơ duyên. Nhìn trên một khía cạnhkhác, đó là cách mà cha mẹ ta tạo nghiệp mới cho mình vàđồng thời nhận lãnh hậu quả phát sinh từ những nghiệpkhác trong quá khứ của họ. Sinh ra ta họ phải nuôi nấngvà dạy dỗ, và sau này nếu ta trở thành một người con thôngminh và hiếu thảo hay là một người con ngu đần và khuyếttật... thì đều tùy thuộc một cách « hợp lý » vào nghiệptrước đây của cha mẹ ta và đồng thời của ta nữa. Tấtcả mọi hiện tượng trong vũ trụ đều tương liên với nhau,nghiệp của cha mẹ ta và ta liên kết với nhau một cách chặtchẽ. Không có một sức mạnh siêu nhiên nào chen vào nhữngbiến cố ấy để sắp xếp, xét xử hay thưởng phạt chamẹ ta và ta cả.

Nếusuy luận xa hơn nữa và trên một bình diện khác, thì ta sẽhiểu rằng nhờ vào biến cố một tinh trùng phối hợp vớimột noãn cầu mà ta được hưởng gia tài ADN (DNA) từ nhữnggien di truyền của cha và mẹ. Sự di truyền đó phù hợp vớinghiệp của ta trong quá khứ, có nghĩa là ta có thể sinh racao lớn hay thấp lùn, xinh đẹp hay xấu xí, nhân từ hay hungdữ, khoẻ mạnh hay khuyết tật... Và nếu tiếp tục nhìnxa hơn nữa thì cha mẹ ta cũng thừa hưởng những gì từ ôngbà ta phù hợp với nghiệp của họ. Sự lệ thuộc như vừakể tiếp tục mở rộng ra cho đến gia tài di truyền ADN chungcủa chủng loại, và xa hơn nữa là của tất cả chúng sinhvà sự sống, sự lệ thuộc đó buộc chặt ta với môi trường,với thế giới vật-chất và phi-vật-chất..., có nghĩa làvới tất cả những gì đang chuyển động trong vũ trụ này....

Đọc thêm: ●TRÍ TUỆ TRONG PHẬT GIÁO - Hoang Phong

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/03/2015(Xem: 14226)
Theo quan điểm của Phật giáo “hạnh phúc” là sự đoạn trừ tâm tham ái, để hiểu rõ vấn đề này, người viết xin chia sẻ quý vị quan điểm này như sau: Chúng ta đang sống trong cõi Ta-bà như mảnh vườn hoang luôn bị chế ngự bởi dục vọng khổ đau, bệnh tật, sầu hận, chết chóc… Con người bao giờ cũng muốn vươn lên từ đời sống thấp hèn để tìm một cái gì đó cao đẹp và an lạc hơn đằng sau bức tường đầy sự hấp dẫn của ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) mà con người cảm nhận qua tri giác hay còn gọi là tham ái.
15/03/2015(Xem: 9857)
Tôi có hai người bạn. Là bạn nhưng họ trẻ hơn tôi quãng chục tuổi. Là bạn vì chúng tôi khá quý mến nhau, có nhiều điểm tương đồng và hay sinh hoạt bên nhau. Tên khai sinh của họ là Châu Thương và Mỹ Hằng. Pháp danh của hai bạn này là Nguyên Niệm là Thánh Đức. Điểm thú vị rằng đây lại là một cặp vợ chồng.
14/03/2015(Xem: 14579)
Việc tu hành trên hết là để giải tỏa áp lực của tâm lý. Và áp lực đó nếu nghĩ theo cách thông thường, thì nó luôn đến từ ngoại giới. Vì chúng ta sống trong đời sống, mà không có một tấm lòng để gió cuốn đi. Mà chúng ta chỉ sống với nhau luôn bằng tham, sân, si, cho nên áp lực sẽ đến với chúng ta liên tục là đương nhiên. Nhưng nếu chúng ta quanh năm ngồi một chỗ không đi đâu cả, thì tâm lý vẫn có vấn đề khó khăn như thường. Đó là do chúng ta luôn sống trong vọng tưởng, và ảo tưởng mà thành ra như thế thôi.
13/03/2015(Xem: 14252)
Chánh Niệm cho Tình Yêu Bài của Đỗ Thiền Đăng Diễn đọc: Trọng Nghĩa - Mộng Lan
12/03/2015(Xem: 19284)
Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.
11/03/2015(Xem: 29355)
Món quà để lại lúc lâm chung của một vị Thầy thuốc Trung y cao tuổi, thật quá tuyệt vời! Tổng cộng có 100 điều, mỗi điều đều rất cao thâm, nên cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, nó sẽ giúp bạn đề cao nhận thức đối với sức khỏe!
11/03/2015(Xem: 14355)
Chúng tôi về thăm Trúc Lâm Bảo Sơn, huyện Tóc Tiên, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào cuối giờ chiều. Vùng đất nơi đây khá cằn cõi nhưng cây xanh thì rất nhiều. Đón chúng tôi là sư cô còn rất trẻ. Trà và mứt đủ loại được bày ra như một bữa tiệc. Hóa ra quý sư cô nơi đây sản xuất mứt, vừa để ăn, để tặng, vừa mang bán kiểm tiền kiến thiết chùa và giúp đời.
11/03/2015(Xem: 19154)
Đối với vạn vật trong cõi nhân gian, Phật giáo đều có sự quan sát thấu đáo, hiểu rõ thiên có thiên lý, địa có địa lý, nhân có nhân lý, vật có vật lý, tình có tình lý, tâm có tâm lý. Trên thế gian bất kỳ sự vật gì cũng có cái “lý” riêng biệt của nó, địa lý phong thủy tất nhiên cũng có “nguyên lý” của nó.
06/03/2015(Xem: 12260)
Mai năm nay nở sớm trước Tết. Qua Tết thì những cánh hoa vàng đã rụng đầy cội, và trên cây, lá xanh ươm lộc mới. Quanh vườn, các nhánh phong lan tiếp tục khoe sắc rực rỡ giữa trời xuân giá buốt. Đêm đến, trời trong mây tịnh, vườn sau đón ngập ánh trăng, tạo một không gian huyền ảo lung linh. Đã không có những ngày xuân rực nắng, không có những đêm xuân ấm cúng tiếng đàn câu ca và những chung trà bằng hữu; nhưng chân tình của kẻ gần người xa, vẫn luôn tỏa sự nồng nàn, tha thiết. Cái gì thực thì còn mãi với thời gian thăm thẳm, vượt khỏi những cách ngăn của không gian vời vợi.
27/02/2015(Xem: 14337)
Con người sinh ra, họ khổ đau, rồi họ chết. Theo Anatole France, đó là điều mà kẻ uyên bác đã từng tóm lược về thân phận loài người. Mặt khác, một số nhà tư tưởng tự do nói rằng: "Con người là guồng máy nhỏ, cấu tạo bởi sự sắp xếp ngẫu nhiên của các nguyên tử và phát triển theo quá trình tiến hóa tự nhiên. Đau khổ không thể nào tránh khỏi trong cuộc đấu tranh của con người cho sự sống còn. Không có ý nghĩa nào khác hơn, cũng chẳng mục đích chi cao cả. Chết là sự tan rã của các phần tử hóa học; không còn gì tồn tại."