Đám giỗ ta làm gì?

20/05/201211:09(Xem: 13208)
Đám giỗ ta làm gì?

damgio

Tháng trước tôi đến dự đám giỗ bố của một người bạn tại ngoại ô thủ đô Hà Nội. Tôi thật bất ngờ khi ở đây có phong tục ăn thịt chó vào ngày giỗ. Mô Phật! Hơn thế nữa, cả nhà lại trực tiếp giết thịt chó tại nhà, tức trực tiếp sát sinh chứ không phải đi mua ngoài chợ. Mô Phật! Đặc biệt hơn cả là chủ nhà giết chính con chó thân yêu mà họ nuôi bấy lâu nay. Thật hết chỗ nói!

Căn ngăn không được. Khuyên nhủ không ăn thua. Chủ nhà và những người có mặt cùng nhau tìm cách chứng minh với tôi là ăn thịt chó rất bổ, có nhiều đạm. Mà phải tự tay thịt chó để chắc chắn rằng thit được làm, tẩm ướp nguyên chất. Họ cũng cho biết, chỉ có chó tự nuôi mới đảm bảo chó sạch chứ không phải chó đánh bả thuốc độc. Cả bữa tôi không dám nhúng đũa. Đi bữa đó về mà tôi còn bâng khuâng mãi.

Ngày được mời đi giỗ mẹ người bạn lần này tôi định từ chối nhưng sau khi biết rằng không có sát sinh nên tôi đồng ý đi. Phần muốn động viên và tham gia cùng gia đình, phần muốn biết nơi đây tổ chức giỗ ra sao. Nơi tôi đến lần này là một vùng quê nơi cố đô Huế.

Trước ngày diễn ra lế giỗ, trong và sau ngày đó cả nhà cùng tụng kinh. Kinh gia đình tụng gồm Kinh cầu an, kinh cầu siêu, kinh vu lan bồn, kinh báo hiếu. Cả nhà cùng tụng kinh, niệm Phật, lễ Phật. Có một thành viên đi chuông, 1 thành viên đi mõ rất chuẩn mực như 1 đạo tràng trong chùa chẳng khác. Tất cả ai cũng thành kính.

Trong 3 ngày tôi có mặt cả nhà đều ăn chay. Các món chay nấu khá giản dị và tự gia đình mua đồ về nấu. Tôi rất thích món đu đủ làm giòn gọi là dưa mắm nhưng thực ra ra là mắm chay. Các loại bánh khác như bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc đều là chay. Lẩu nấm chay ăn khá ngon. Tuy nhiên mấy món mà tôi thích nhất có lẽ là món gỏi ngó sen và mít trộn, mít xào, mít kho. Ăn mãi không chán. Ăn xong tôi còn xin mang về. Trong những món mang về còn có một món mà tôi bất ngờ: trái vả trộn. Toàn là đặc sản xứ Huế.

Gia đình gia chủ thờ gia tiên, ông bà ở phía sau. Phía trước thờ Phật Bà Quan Âm. Vậy là tất cả cùng ngồi trước bàn thờ Phật Bà để tụng kinh, niệm Phât và làm các nghi lễ. Người lớn và trẻ con, già và trẻ cùng đều tụng kinh.

Một điểm thú vi là trong ngày giỗ có một sư cô khá lớn tuổi đến tham dự. Nhưng sư cô này không tham gia các buổi tụng kinh. Hỏi ra mới biết đây là người bà con trong gia đình xuất gia. Tuy nhiên tự gia đình tụng kinh chứ không cần đến sư cô. Một người con trong nhà cho tôi biết, tâm người tụng mới quan trọng. Rằng nhớ đến cha mẹ, tự con cháu tụng kinh và hồi hướng công đức đâu có thua kém các nhà sư. Hơn nữa anh cho biết, bố mẹ khi biết con cháu tụng kinh cho mình sẽ vui hơn nhiều. Hay thật.

Bữa chiều ngày giỗ, các mâm cỗ chay được sắp lên. Người bác lớn tuổi thay mặt gia đình làm lễ dâng trà và khấn nguyện. Sau đó là các con cháu vào lễ và tạ ơn cha mẹ tổ tiên. Tôi quan sát thấy ai cũng rất thành tâm. Bụng bảo dạ, thế này thì Phật nào mà không chứng cho, cha mẹ nào mà không vui.

Một việc khác với quê tôi nữa là cả nhà ra nghĩa trang, đến mộ thắp hương và tụng kinh niệm chú tại đó. Lúc chúng tôi ra trời đã tối. Tôi thấy gia đình còn đốt 1 đống củi nữa. Thấy bảo để cho nơi đây ấm áp. Hương cũng được thắp cho các ngôi mộ xung quanh. Trên đường về anh con rể cả còn kể rằng ngày mẹ mất, cả nhà cũng đốt lửa ngay cạnh nơi chôn người mới qua đời. Buổi tối đó cả nhà còn ra mộ chơi, đốt củi cho mộ ấm áp, cho người mất không bị lạnh lẽo, cho người vừa qua đời không thấy cô đơn, buồn tủi, đến đêm mới về.

Điều tôi ấn tượng nhất là lòng thành kính cùng tung kinh niêm Phật của cả gia đình. Điểm tôi thích nhất ở đây là ăn chay. Nghe nói rằng trong 7 ngày hay 49 ngày thậm chí 100 ngày sau khi người mất cả nhà cùng cúng chay, ăn chay hồi hướng cho người mất. Thật tuyệt vời làm sao.

Tôi cũng không biết các vùng quê khác ở Huế có tổ chức ngày giỗ như nơi tôi đến hay không, bởi nếu khắp nơi đều làm như vậy thì thật là tuyệt vời. Tôi ghi lại đây để mong các vùng khác trên đất nước Việt Nam chúng ta có thể biết, học theo và ứng dụng. Biết rằng làm được như ở đây, tại nhiều nơi không hề dễ. Nhưng Việt Nam ta là đất nước Phật giáo và nếu cứ học nhau dần những cái hay như thế này thì chẳng mấy lâu nữa chúng ta sẽ có những dám giỗ, đám tang văn minh và công đức.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/10/2014(Xem: 11337)
Hồi Thầy mới vào chùa năm 16 tuổi, trên phương diện danh từ thì mình đã được gọi Bụt Sakyamuni là Bổn Sư (Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Sakyamuni). Bổn Sư (tiếng Bắc là Bản Sư) có nghĩa là Thầy tôi. Nhưng kỳ thực đức Bụt mà mình được gặp khi mới vô chùa không phải là một vị Thầy đích thực mà là một nhân vật rất huyền thoại, đầy phép lạ, đầy thần thông, rất xa cách với con người. Mình không được gặp Bụt của đạo Bụt nguyên thủy mà cũng không được gặp Bụt của đạo Bụt tiểu thừa. Hình ảnh Bụt nguyên thủy là một vị Thầy ăn mặc rất đơn sơ, trải bồ đoàn tọa cụ ngồi trên đất, ngồi pháp đàm, nói pháp thoại và ăn cơm với các Thầy. Mình không gặp được hình ảnh đó, vì vậy trên phương diện danh từ mình được gọi là Thầy tôi nhưng kỳ thực giữa mình với đức Sakyamuni có một khoảng cách rất lớn. Đó là một nhân vật hoàn toàn thần thoại, đầy phép lạ.
31/10/2014(Xem: 12081)
Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt làdựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha. Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.
31/10/2014(Xem: 11063)
Mùa Xuân ta lên núi Hăm hở làm sơn ̣̣đồng Bỏ con đường khói bụi Cho sách vở vời trông... Rời mái trường Vạn Hạnh, còn đang lang thang dạy giờ ở các trường Bồ-đề, ngong ngóng một xuất học bỗng du học, tôi bất ngờ bị Sư Bà áp giải lên núi, sau lời phán quyết chắc nịch: “Con phải học một khóa tu Thiền ba năm với Thượng Tọa, xong rồi muốn đi đâu cũng ̣̣được... Còn bây giờ, dứt khoát là…Không!”.
28/10/2014(Xem: 10612)
Có những gì cần phải sửa trong Kinh Phật hay không? Có những gì cần phải cắt bớt khỏi Kinh Phật, hay cần phải bổ túc thêm cho Kinh Phật hay không? Câu trả lời tất nhiên không dễ. Vì người xưa đã nói, nếu chấp vào nghĩa từng chữ một, có thể sẽ hiểu nhầm ý của Phật; nhưng nếu rời kinh một chữ, lại hệt như lời ma nói. Nguyên văn: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan; ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết.
26/10/2014(Xem: 12917)
Gió mùa thu năm nay, trở nên khô khốc, ảnh hưởng bởi nạn hạn hán trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở xứ này. Nhưng đâu đó trên hành tinh, mưa thu lất phất bay, và gió thu se sắt gợi buồn; cũng có nơi mưa ngập cả các con lộ chính của thành phố lớn để người và xe cộ phải lội bì bõm trong giòng nước ngầu đục. Và chỗ nọ, chỗ kia, làn gió dân chủ, hòa bình, khơi niềm hứng cảm cho sự vươn dậy của ý thức tự do, khai phóng.
24/10/2014(Xem: 22270)
Một kỷ nguyên mới canh tân kỹ thuật đang lan tràn khắp thế giới và đang tiến đến trưởng thành, đó là mạng lưới thông tin toàn cầu internet (world wide web), một hệ thống truyền thông và môi trường học có sức mạnh. Không nên xem Internet chỉ là một phương tiện mới để truyền bá Giáo Pháp với một hình thức mới, mà Internet còn có tiềm năng là một căn cứ cho một cộng đồng Phật Giáo trên mạng (online) cống hiến những giá trị xã hội và tâm linh cho mọi người.
24/10/2014(Xem: 11255)
Chuyện kinh Phật kể rằng, tự ngàn xửa ngàn xưa, hằng hà sa kiếp trước, có con thỏ ngọc nọ thấy bầy đàn đang lúc giá rét cuối đông, chẳng kiếm được chút rau cỏ gì cho nguôi cơn đói bụng ; thỏ nọ liền “hưng khởi đại bi tâm” nhảy vào đám lửa đang cháy rực hồng, tự biến thân mình thành thịt nướng cho bầy đàn ăn đỡ đói. Khi bầy đàn thỏ no nê thì cũng là khi thân thỏ nọ chỉ còn sót lại mấy miểng xương đen. Phật biết đại bi tâm của thỏ từ đầu, bèn nhặt xương thỏ đem về cung quảng, phục sinh và đặt tên cho thỏ là NGỌC THỐ - có nghĩa là Thỏ Ngọc, một sinh thể có đại bi tâm quý như ngọc; thứ ngọc Phật từng nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bấy giờ, cuộc đời thỏ ngọc ngày đêm yên ả nơi cung trăng, tự thân sớm hôm trau dồi công dung ngôn hạnh khiến biết bao người chung quanh nâng niu, thương yêu chiều chuộng.
23/10/2014(Xem: 19677)
“Phật pháp trong đời sống” của cư sĩ Tâm Diệu là tuyển tập về mười hai chuyên đề Phật học gắn liền với đời sống của người tại gia. Tuyển tập các bài viết này gồm ba mục đích chính: (i) Xóa bỏ mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, (ii) Giới thiệu Phật pháp căn bản, giúp người đọc hiểu rõ các giá trị thiết thực của đạo Phật, (iii) Đính chính các ngộ nhận về các khái niệm thầy tu, giải thoát, giá trị trị liệu của thiền và bản chất hạnh phúc trong hiện tại. Dầu được viết trong nhiều thời điểm khác nhau cho nhiều đối tượng độc giả, tác giả chú trọng đến việc giới thiệu về hình thái đạo Phật nguyên chất, xây dựng niềm tin bằng lý trí, giới thiệu đạo Phật từ góc độ ứng dụng trong đời sống, so sánh những điểm dị biệt và sự vượt trội của đạo Phật đối với các truyền thống và tín ngưỡng khác.
23/10/2014(Xem: 11423)
Bằng cách này hay cách khác, Đức Phật luôn gợi nhắc cho chúng ta rằng mỗi người chúng ta đều sở hữu các khả năng và phẩm chất tốt đẹp, cần phải biết vận dụng và phát huy để làm cho cuộc sống trở nên giàu sang hiền thiện, tránh mọi khổ đau và để thực nghiệm hạnh phúc an lạc. Trong bài kinh Nghèo khổ thuộc Tăng Chi Bộ, Ngài đơn cử câu chuyện một người nghèo túng về của cải vật chất nhưng không biết cách nỗ lực khắc phục tình trạng nghèo khó của mình nên phải liên tiếp rơi vào các cảnh ngộ khó khăn để nhắc nhở chúng ta về các tai họa khổ đau mà chúng ta sẽ phải đối diện, nếu không biết nỗ lực nuôi dưỡng và phát huy các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của mình.
23/10/2014(Xem: 14775)
Tục lệ, hay những lễ nghi đã trở thành thói quen, là văn hóa được ước định của một dân tộc. Sự hình thành tục lệ thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong dân gian, hoặc do sự thực hành các tín ngưỡng tôn giáo lâu ngày của một cộng đồng. Sau khi truyền vào Trung Quốc, Phật giáo không chỉ đi sâu vào dân gian, hòa nhập với đời sống, từng bước hình thành nên một bộ quy phạm lễ nghi về “hôn táng hỷ khánh” (dựng vợ gả chồng, chôn cất người chết, thể hiện niềm vui, bày tỏ việc mừng); mà còn có tác dụng thay đổi phong tục đối với các thói quen dân gian mang đậm màu sắc mê tín trong các việc như: tổ chức hôn lễ rườm rà; đoán số mệnh dựa trên bát tự(1); miễn cưỡng tổ chức việc vui trong lúc gia đạo đang gặp rắc rối với mong muốn giải trừ vận xui, tà khí, chuyển nguy thành an, gọi là xung hỷ; thực hành tục minh hôn(2); duy trì lối khóc mộ; xem phong thủy…