Đám giỗ ta làm gì?

20/05/201211:09(Xem: 12904)
Đám giỗ ta làm gì?

damgio

Tháng trước tôi đến dự đám giỗ bố của một người bạn tại ngoại ô thủ đô Hà Nội. Tôi thật bất ngờ khi ở đây có phong tục ăn thịt chó vào ngày giỗ. Mô Phật! Hơn thế nữa, cả nhà lại trực tiếp giết thịt chó tại nhà, tức trực tiếp sát sinh chứ không phải đi mua ngoài chợ. Mô Phật! Đặc biệt hơn cả là chủ nhà giết chính con chó thân yêu mà họ nuôi bấy lâu nay. Thật hết chỗ nói!

Căn ngăn không được. Khuyên nhủ không ăn thua. Chủ nhà và những người có mặt cùng nhau tìm cách chứng minh với tôi là ăn thịt chó rất bổ, có nhiều đạm. Mà phải tự tay thịt chó để chắc chắn rằng thit được làm, tẩm ướp nguyên chất. Họ cũng cho biết, chỉ có chó tự nuôi mới đảm bảo chó sạch chứ không phải chó đánh bả thuốc độc. Cả bữa tôi không dám nhúng đũa. Đi bữa đó về mà tôi còn bâng khuâng mãi.

Ngày được mời đi giỗ mẹ người bạn lần này tôi định từ chối nhưng sau khi biết rằng không có sát sinh nên tôi đồng ý đi. Phần muốn động viên và tham gia cùng gia đình, phần muốn biết nơi đây tổ chức giỗ ra sao. Nơi tôi đến lần này là một vùng quê nơi cố đô Huế.

Trước ngày diễn ra lế giỗ, trong và sau ngày đó cả nhà cùng tụng kinh. Kinh gia đình tụng gồm Kinh cầu an, kinh cầu siêu, kinh vu lan bồn, kinh báo hiếu. Cả nhà cùng tụng kinh, niệm Phật, lễ Phật. Có một thành viên đi chuông, 1 thành viên đi mõ rất chuẩn mực như 1 đạo tràng trong chùa chẳng khác. Tất cả ai cũng thành kính.

Trong 3 ngày tôi có mặt cả nhà đều ăn chay. Các món chay nấu khá giản dị và tự gia đình mua đồ về nấu. Tôi rất thích món đu đủ làm giòn gọi là dưa mắm nhưng thực ra ra là mắm chay. Các loại bánh khác như bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc đều là chay. Lẩu nấm chay ăn khá ngon. Tuy nhiên mấy món mà tôi thích nhất có lẽ là món gỏi ngó sen và mít trộn, mít xào, mít kho. Ăn mãi không chán. Ăn xong tôi còn xin mang về. Trong những món mang về còn có một món mà tôi bất ngờ: trái vả trộn. Toàn là đặc sản xứ Huế.

Gia đình gia chủ thờ gia tiên, ông bà ở phía sau. Phía trước thờ Phật Bà Quan Âm. Vậy là tất cả cùng ngồi trước bàn thờ Phật Bà để tụng kinh, niệm Phât và làm các nghi lễ. Người lớn và trẻ con, già và trẻ cùng đều tụng kinh.

Một điểm thú vi là trong ngày giỗ có một sư cô khá lớn tuổi đến tham dự. Nhưng sư cô này không tham gia các buổi tụng kinh. Hỏi ra mới biết đây là người bà con trong gia đình xuất gia. Tuy nhiên tự gia đình tụng kinh chứ không cần đến sư cô. Một người con trong nhà cho tôi biết, tâm người tụng mới quan trọng. Rằng nhớ đến cha mẹ, tự con cháu tụng kinh và hồi hướng công đức đâu có thua kém các nhà sư. Hơn nữa anh cho biết, bố mẹ khi biết con cháu tụng kinh cho mình sẽ vui hơn nhiều. Hay thật.

Bữa chiều ngày giỗ, các mâm cỗ chay được sắp lên. Người bác lớn tuổi thay mặt gia đình làm lễ dâng trà và khấn nguyện. Sau đó là các con cháu vào lễ và tạ ơn cha mẹ tổ tiên. Tôi quan sát thấy ai cũng rất thành tâm. Bụng bảo dạ, thế này thì Phật nào mà không chứng cho, cha mẹ nào mà không vui.

Một việc khác với quê tôi nữa là cả nhà ra nghĩa trang, đến mộ thắp hương và tụng kinh niệm chú tại đó. Lúc chúng tôi ra trời đã tối. Tôi thấy gia đình còn đốt 1 đống củi nữa. Thấy bảo để cho nơi đây ấm áp. Hương cũng được thắp cho các ngôi mộ xung quanh. Trên đường về anh con rể cả còn kể rằng ngày mẹ mất, cả nhà cũng đốt lửa ngay cạnh nơi chôn người mới qua đời. Buổi tối đó cả nhà còn ra mộ chơi, đốt củi cho mộ ấm áp, cho người mất không bị lạnh lẽo, cho người vừa qua đời không thấy cô đơn, buồn tủi, đến đêm mới về.

Điều tôi ấn tượng nhất là lòng thành kính cùng tung kinh niêm Phật của cả gia đình. Điểm tôi thích nhất ở đây là ăn chay. Nghe nói rằng trong 7 ngày hay 49 ngày thậm chí 100 ngày sau khi người mất cả nhà cùng cúng chay, ăn chay hồi hướng cho người mất. Thật tuyệt vời làm sao.

Tôi cũng không biết các vùng quê khác ở Huế có tổ chức ngày giỗ như nơi tôi đến hay không, bởi nếu khắp nơi đều làm như vậy thì thật là tuyệt vời. Tôi ghi lại đây để mong các vùng khác trên đất nước Việt Nam chúng ta có thể biết, học theo và ứng dụng. Biết rằng làm được như ở đây, tại nhiều nơi không hề dễ. Nhưng Việt Nam ta là đất nước Phật giáo và nếu cứ học nhau dần những cái hay như thế này thì chẳng mấy lâu nữa chúng ta sẽ có những dám giỗ, đám tang văn minh và công đức.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/08/2025(Xem: 4524)
- Được sự thương tưởng của quí vị thiện hữu, chúng con, chúng tôi vừa thực hiện xong một số giếng cần giục (Well hand-pump) cho những ngôi làng nghèo lân cận khu vực núi Khổ Hạnh Lâm & Nalanda tiểu bang Bihar India. Đây là Public Well Hand-pump nên cả làng có thể xài chung, bớt đi rất nhiều nỗi nhọc nhằn trong mùa hạ vì phải đi lấy nước ngoài sông xa. Kính mời quí vị xem qua một vài hình ảnh tường trình.
31/07/2025(Xem: 3703)
Theo Luật Nhân Quả, vợ chồng, con cái đến với nhau phần nhiều qua hai con đường ĐÒI NỢ và BÁO OÁN. Nhiều người không hiểu như vậy nên khi trong nhà xảy ra nhiều chuyện không ưng ý thì than trời trách đất và khổ sở khôn cùng. Ai tin sâu Luật NHÂN QUẢ, khi gặp hoàn cảnh như vậy hãy TỰ NHỦ mình đã gieo NHÂN kiếp xa xưa, nay đủ DUYÊN, mình phải lãnh QUẢ.
27/07/2025(Xem: 2888)
Lời dịch giả: Bài thơ "Chơn Đế" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) sáng tác, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
27/07/2025(Xem: 3310)
Lời mở đầu của người chuyển ngữ Vu Lan là một ngày lễ lớn của Phật giáo, nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến cha mẹ, nhất là đối với mẹ, một người mang nặng đẻ đau, bồng bế mình, nuôi nấng mình từ thuở bé. Ngoài tình mẫu tử ra thì cũng còn có cả tình phụ tử. Cài lên áo mình một cánh hoa hồng không nhất thiết chỉ là để tưởng nhớ đến công ơn của cha mẹ mà đôi khi còn phải nhìn vào chính mình xem mình có xứng đáng cài lên áo mình cánh hoa hồng ấy hay không.
27/07/2025(Xem: 2788)
Indonesia không phải là một quốc gia nổi tiếng với Phật giáo; Phật tử chỉ chiếm một thiểu số rất nhỏ trong dân số đất nước với 0,7%, quá nhỏ bé so với 87,5% dân số theo đạo Hồi. Mặc dù quần đảo hiện nay tạo nên Cộng hòa Indonesia từng nằm dưới sự cai trị của đế chế Srivijaya (650–1377) và Majapahit (1293–1527) chủ yếu theo đạo Phật, người ta thường cho rằng tất cả những gì còn sót lại từ thời kỳ đó chỉ là một số ngôi đền và bảo tháp nằm rải rác, gần như đổ nát.
22/07/2025(Xem: 3178)
Lời dịch giả: Bài viết "Chơn Tâm, Vọng Tâm" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
18/07/2025(Xem: 3338)
Lời dịch giả: Bài viết "Bi Và Ái" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 3, ấn hành cuối tháng 8/1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Thích Diệu Không. Ni trưởng là dịch giả nhiều kinh và luận, cũng là một nhà thơ xuất sắc.
18/07/2025(Xem: 3467)
Namo Buddhaya Người ''biết rõ''.. là người giàu có từ bên trong. ..Người đời thường mải miết theo đuổi những thứ có được: tiền bạc, tài sản, danh tiếng, quyền lực… Họ gọi đó là thành công, là giàu có. Nhưng rồi bao nhiêu người, sau khi có tất cả, lại vẫn cảm thấy trống rỗng?
17/07/2025(Xem: 3651)
Cuốn theo tám ngọn gió đời, Tâm ta loạn động, chẳng hồi nào ngơi. Được khen: vui vẻ, tươi cười. Bị chê: sân dậy, giận người chê ta.
17/07/2025(Xem: 2831)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Khi tính người tịch diệt, thì tính trời hiển lộ. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.