Tứ Chúng Đồng Tu

03/05/201203:34(Xem: 13321)
Tứ Chúng Đồng Tu

 buddha-5

 

TỨ CHÚNG ĐỒNG TU,

THÁNH PHÀM ĐỒNG CƯ ĐỘ

 

 

Bà Cụ nhà tôi và nhà tôi chuyên tu Tịnh Độ. Mỗi ngày bà cụ ít nhất ba lần công phu niệm Phật. Nhà tôi ít nhất mỗi ngày một lần, từ 5 giờ đến 7 giờ sáng. Khi nghe bàn đến chuyện Tịnh Độ thì nhà tôi như rồng gặp mây, thao thao bất tuyệt, cho rằng mình đã đi đúng đường, vì căn cơ thấp nên không thể hành trì thiền quán mà chỉ biết trì danh niệm Phật, tụng kinh bái sám, để một ngày nào đó được vãng sinh vào thế giới Cực Lạc.

Tôi hỏi nhà tôi tại sao cầu vãng sinh Cực Lạc? Cực Lạc nằm ở đâu? Cực Lạc có gì hay mà cầu vãng sinh? Bà nhìn tôi có vẻ không tin vào lỗ tai của bà ta, vì một Phật tử ai lại hỏi những câu hỏi lạ kỳ như vậy. Tôi lại làm cho bà bối rối them khi tôi nói trong đạo lý Thật Tướng, thì làm gì có sinh tử, khổ đau? Trong đạo lý Bất Sinh, Bất Diệt, Bất Lai, Bất Khứ thì làm gì có Ta Bà, Tịnh Độ.  Trong đạo lý Như Như, thì Như Lai không xuất thế, Như Lai không nhập Niết Bàn, thì làm gì có Cực Lạc, Ta Bà? Rồi tôi dẫn chứng lời Phật dạy trong Kinh Duy Ma Cật: “Này Bảo Tích, chúng sinh là cõi Phật của Bồ Tát, vì sao vậy? Vì Bồ Tát muốn giáo hóa chúng sinh, muốn điều phục chúng sinh, tùy tâm nguyện chúng sinh mà tiếp nhận cõi Phật. Như người muốn xây dựng lâu đài phải xây trên đất chứ không phải xây trong hư không. Bồ Tát cũng thế, vì muốn thành tựu chúng sinh mà tiếp nhận cõi Phật.”

Bà được thế, chụp vội: “Anh thấy chưa trong đoạn Kinh anh dẫn chứng Phật dạy…” Tùy tâm nguyện chúng sinh mà Bồ Tát tiếp nhận cõi Phật.” Như vậy rõ ràng là có cõi Phật được Bồ Tát vì chúng sinh mà tiếp nhận.”

Tôi nói: “Thôi được, cho bà có lý đi. Bà có biết không, niềm tin nơi đức Phật A Di Đà là kết quả của sự chiêm nghiệm về Báo Thân và Pháp Thân Phật. Nếu vượt qua mọi hình tướng, sắc thái của vị Phật lịch sử, vị Hóa Thân Phật, ta sẽ tìm thấy một đức Phật lý tưởng hợp với quả vị phước báo từ bao số kiếp, hợp với sự giác ngộ viên mãn. Nói một cách khác, nếu chúng ta mô tả một vị Phật dựa trên căn bản giác ngộ viên mãn, chúng ta sẽ có một đức Phật tràn đầy ánh sáng, sống lâu vô lượng kiếp, đức Phật Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Bà thường đọc Kinh Pháp Hoa, trong Kinh, đức Thích Ca Mâu Ni ẩn dụ cho hàng đệ tử không nên xem ngài như một vị Phật sinh ở xứ Ca Tỳ La Vệ, xuất gia, hành thiền, tu chứng, nhập diệt, một vị Phật với thọ mạng 80 năm, với công hạnh trên 45 năm, mà ngài thật sự là một vị đã thành Phật lâu đời, lâu kiếp, thời gian vô cùng, hiện thân khắp nơi, không gian vô tận, là đức Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang Phật, không khác đức Phật A Di Đà…”

“Nhưng cảnh giới Ta Bà”, tôi nói tiếp “theo Kinh A Di Đà làm bằng vàng, bằng ngọc, bằng trân châu, mã não có vẻ nhân tạo như vậy đâu có thích thú, làm gì có ánh mặt trời, có cảnh chiều tà, có chiếc lá vàng rụng cuốn theo chiều gió, làm gì có trận mưa ngâu, làm gì có ánh bình minh chói rọi… những vẻ đẹp thiên nhiên mà thế giới Cực Lạc không có! Còn nữa, sinh trên đài sen, trong vườn hoa sen ngũ sắc, nghe âm nhạc suốt ngày! Bà cứ tưởng tượng mình bị đầy ra Côn Đảo, hòn đảo lớn như vậy mà mình còn cảm thấy tù túng, bị cô đơn, bây giờ ngồi trên đài sen, giữa hồ, thì cô đơn biết mấy, tù túng biết mấy, rồi còn phải nghe nhạc suốt ngày, không có phút nào yên tĩnh, thì làm sao chịu cho nổi!”

Bà ta có vẻ bực tức nói: “Không ngờ anh quá gàn bướng.  Tưởng anh nghiên cứu sách Phật nhiều, tưởng anh đa văn, túc trí, không ngờ anh không có một sáng tạo nào cả! Anh có nghe câu “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan không?” Lời nói trong Kinh A Di Đà là để diễn tả sự hoàn hảo của thế giới Cực Lạc và lẽ dĩ nhiên ngôn từ không làm sao chuyên chở được toàn ý nghiã.  Chính vì vậy mà Phật sau 49 năm thuyết pháp đã dạy là Ngài không nói một lời nào.”

Không ngờ bà ta khá thật. Tôi hỏi thêm để thử khả năng thâm nhập Phật lý của bà: “Thế giới Cực Lạc như vậy có khác gì Thiên Đường! Bà cầu về Cực Lạc để hưởng thụ và tệ nhất là để hưởng thụ cá nhân mặc cho ai sống khổ đau ở thế giới Ta Bà!”

Bà nói: “Tôi chán anh quá, anh chả biết Phật Pháp tí nào cả.  Thế mà đòi viết sách Phật, ưa đi giảng đạo. Khi lý tưởng về Niết bàn vượt không gian, thời gian, được thể hiện thì đấy chính là Vô Tận hay Vô Lượng, là Di Đà hay Amida hay Amitabha. Sự mô tả về cảnh Cực Lạc chỉ là giải thích đặc tính Vô Lượng của giác ngộ viên mãn. Cực Lạc là nơi Tứ Chúng đồng tu, nơi Thánh Phàm cùng cư trú (Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cư Độ), không phải là nơi chỉ để hưởng lạc mà là nơi thuận tiện cho con đường tiến tu của Tứ Chúng, không phải ích kỷ cho riêng mình, mà là nơi Thánh cũng như Phàm cùng nhau sống, tu, trên hành trình giác ngộ, giải thoát và hành trình ấy được xây đắp không bằng tự lợi mà bằng lợi tha, chính lợi tha là tự lợi, nên không phải dửng dưng trước sự khổ đau của đồng loại, chúng sinh. Kinh Hoa Nghiêm khai triển đạo lý trùng trùng duyên khởi, chủ trương vạn vật trên thế gian liên hệ mật thiết với nhau như lưới pháp châu, mọi động tác, lời nói, ý nghĩ ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, tự lợi là lợi tha, lợi tha là tự lợi, không có cái gì đứng riêng rẽ một mình.”

Bà dừng lại, rồi nói: “Chắc anh biết hết rồi, muốn chọc quê em chứ gì. Có điều em muốn hỏi anh, trong các Kinh khác Phật thường dạy ‘Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi’ bây giờ Kinh A Di Đà lại nói nhờ vào tha lực vào sự cứu độ của Phật A Di Đà, như vậy có mâu thuẫn không anh?”

Tôi nói: “Không biết bà đã đọc Kinh Na Tiên Tỳ Kheo chưa? Trong Kinh thuật chuyện vua Milinda, một hoàng đế Hy Lạp trì vì Sagara vào khoảng năm 115 trước kỷ nguyên, hỏi ngày Na Tiên (Nagasena) tại sao người ác lại được cứu độ nếu tin tưởng vào vị Phật trước khi chết. Na Tiên trả lời, một hòn đá dầu nhỏ mấy đi nữa, nếu quăng xuống nước, nó sẽ chìm, nhưng một tảng đá nặng ngàn cân, nếu để trên chiếc tàu cũng sẽ nổi trên mặt nước.  Ngài Long Thọ (Nagarjuna 100-200) nói có hai phương tiện đưa đến Phật quả, một khó như đi bộ, một dễ như đi thuyền. Tín ngưỡng Di Đà là con thuyền chở người đến cõi Tịnh Độ.”

 

Đời là một cuộc hành trình. Trong dòng sinh tử Ta Bà, chúng ta đã trải qua bao nhiêu số kiếp, bao nhiêu cuộc hành trình, bập bềnh trên sóng vô minh, tật đố, thị phi, đầy khổ não. Nhưng cuộc đời thật sự đáng chán như vậy sao? Người tu Tịnh Độ nhìn đời không những là cuộc hành trình mà còn là chuyến hành hương.  Bà Vi Đề Hy được Phật khai thị đã đi hành hương từ Phật độ này đến Phật độ khác, cuối cùng bà chọn cảnh Tịnh Độ làm nơi an dưỡng, tiến tu. Nhờ kinh nghiệm khổ đau mà bà Vi Đề Hy được thấy cảnh Tây Phương Cực Lạc. Ta Bà là chuyến hành hương.  Thế giới khổ đau là hy vọng chứ không phải tuyệt vọng. Đạo lý Tịnh Độ không bi quan yếm thế mà là đạo lý Bạt Khổ Dữ Lạc, đạo lý dứt khổ cho vui.

Phương pháp diệt khổ dữ lạc của đạo Bồ Tát như thế nào?  Ngay trong khổ đau mà tìm ra giá trị tôn giáo và đạo đức. Không xa lánh, không trốn tránh, không loại bỏ mà cưu mang tất cả.  Cảnh giới Cực Lạc có chin phẩm, dung chứa chín trình độ tu chứng, dung chứa 4 chúng đệ tử, dung chứa thánh, phàm. Tuy có trật tự 9 phẩm, tuy có thấp cao giữa Hạ Phẩm Hạ Sinh đến Thượng Phẩm Thượng Sinh, nhưng không vì phẩm trật mà loại bỏ, mà bớt cưu mang, Thánh Phàm không vì vậy mà phải phân biệt chống đối lẫn nhau, Thánh Phàm cùng nhau tu tập, thẳng tiến trên hành trình giải thoát, giác ngộ.

 

Cảnh giới Cực Lạc huy hoàng rực rỡ mà hài hòa dung dị.  Những người tu Tịnh Độ không thể không đem biểu tượng này áp dụng vào đời sống hằng ngày, vào mọi hành hoạt của mình, đối với bản thân, với người đồng đạo, với cộng đồng nhân loại. Ta không thể xây dựng Tịnh Độ trong hư không mà xây dựng nó trên nền tảng vững chắc, trên những yếu tố nhân duyên phù hợp với thế giới Tịnh Độ, được khai triển từ trong Tứ Nhiếp Pháp:  Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành, Đồng Sự.

Bố Thí ở đây là san sẻ. San sẻ tài vật, san sẻ đạo pháp, san sẻ cái vui, cái buồn, cái vinh, cái nhục của nhau, cho nhau, để làm tăng trưởng Phật tính duy nhất của toàn thể chúng sinh, để cùng giúp nhau tiến tu trên đường giải thoát, để cùng nhau hướng về cảnh Tây Phương Cực Lạc.

Ái Ngữ ở đây là những lời nói nhu mì, thương yêu, thông cảm, công bằng, hợp lý.  Không che dấu tội phạm nhưng không làm bức xúc những người phạm lỗi, cổ vũ ưu điểm hơn là khuyết trương nhược điểm, mục đích giúp nhau trên hành trình giác ngộ, giải thoát, giúp nhau trong nhiệm vụ cứu mình, cứu người, là nền tảng âm nhạc trong cảnh Tây Phương Tịnh Độ.

Lợi Hành ở đây là mọi ý nghĩ, lời nói, hành động đều hướng đến phúc lợi cho mình, cho người, làm nền tảng cho Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cự Độ.

Đồng Sự ở đây là không phân biệt ngã nhân. Nặng nhọc không từ, hành hoạt trong mọi hình hài, “tố phú quí hành hồ phú quí, tố bần tiện hành hồ bần tiện, tố di địch hành hồ di địch.” “Một là tất cả, tất cả là một” thiên hình vạn trạng, “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên.”

 

Xuất phát từ tâm từ bi, đạo Bồ Tát kiến thiết Tịnh Độ để nâng cao lý tưởng Bồ Tát, để hình thành lý tưởng độ sinh. Tịnh Độ là công năng xã hội hóa lý tưởng tự độ, độ tha.  Không có Tịnh Độ thì lý tưởng Bồ Tát không thể thành tựu. Không có Ta Bà thì lý tưởng Bồ Tát không có cơ sở và cơ hội thực hiện.

Sau khi Phật thành đạo, bài thuyết pháp đầu tiên Dhammacakka Pavattana, thường dịch là Kinh Chuyển Pháp Luân, được dịch ra tiếng Anh là Kiến Thiết Vương Quốc Chánh Pháp (The Establishment of the Kingdom od Truth). Cách dịch này khá ý vị. Đức Phật là vị Pháp Vương, muốn xây dựng một Vương Quốc Chánh Pháp. Đưa cái Vương Quốc Chánh Pháp ấy đến cực độ mà phác họa nó thành cụ thể, đó là thuyết Tịnh Độ.  Tịnh Độ có nhiều đặc tướng, nhưng đặc tướng quan trọng nhất là sự hoàn bị trật tự đạo đức. Nhìn vào nội dung Bản Nguyện, về phương diện tiêu cực là ngăn ngừa mọi tội lỗi, về phương diện tích cực là khuyến khích mọi người cùng tiến đến đạo đức và nền tảng của đạo đức là Tứ Nhiếp Pháp.

Tịnh Độ ở phương tây có Thế Giới Cực Lạc, ở phương đông có A Sơ Phật Quốc. Giữa hai cảnh Tịnh Độ này có một quan hệ mật thiết:  Nếu ở cõi Phật này xảy ra đại sự (đại thuyết pháp chẳng hạn) thì cõi Phật khác gửi sứ giả đến tùy hỷ, tán thán, nói lên tinh thần Tịnh Độ liên kết mười phương. Hành giả Tịnh Độ, người tu Phật không thể bỏ qua yếu tố này, yếu tố yểm trợ lẫn nhau, cùng nhau sách tấn trên đường giải thoát, giác ngộ.

Người tu Tịnh Độ hay người nỗ lực trên hành trình giác ngộ phải đầy đủ 4 tư lương cần thiết đó là Tín Tâm, Chí Thành Tâm, Thâm Tâm, Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm. Không những người tu Tịnh Độ mà bất kỳ người muốn hành hoạt Phật sự nào cũng phải đầy đủ 4 tư lương ấy.

Trước khi dùng 4 tư lương cho cuộc hành trình, cần phải hành trì Sám Hối. Tác dụng của Sám Hối cũng như người ta mỗi buổi sáng thức dậy đánh răng, súc miệng, rửa mặt, tắm gội cho thân thanh tịnh, thì Sám Hối là phương thức làm cho tâm thanh tịnh. Kinh Đại Thừa Bổn Sinh Tâm Địa Quán nói: “Sám hối có thể thiêu đốt củi phiền não, sám hối có thể vãng sanh cõi trời, sám hối có thể được cái vui tứ thiền, sám hối như mưa báu Ma Ni Châu, sám hối có thể ra ngục tam giới, sám hối có thể khai hoa bồ đề, sám hối thấy được Đại Viên Kính của Phật, sám hối có thể đến nơi Bảo Sở.”

Mọi hành hoạt của người con Phật, của Phật Giáo, phải bắt đầu bằng Sám Hối, cho bao nhiêu ân oán thị phi, thương buồn, ghét giận đều rửa sạch, cho lòng thanh thỏa, “hội họp trong hòa thuận, thảo luận trong hòa thuận, chia tay trong hòa thuận,”, thực hiện một cơ cấu, một tổ chức trong đó Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cư Độ.

 

Ở trên tôi có nói đời là cuộc hành trình, đời là chuyến hành hương. Nói đến hành trình, hành hương là nói đến người tham gia, nói đến những đoạn đường đi qua. Người tham gia có kẻ đến trước, có kẻ đến sau, có hàng thanh niên sức khoẻ dồi dào, có bậc phụ lão gần đất xa trời; những đoạn đường đi qua có nơi bằng phẳng, có chỗ gập ghềnh. Không vì thành phần tham gia khác nhau, không vì những đoạn đường khác nhau mà ta thối chuyển, mà không cố gắng vượt qua.

Cuộc sống, Duy Thức gọi là Hằng Chuyển Như Bộc Lưu, như giòng nước chảy, biến chuyển không ngừng. Chuyển biến nên không có tự ngã, không có gì để bám chặt vào. Đợt nước này qua đợt nước khác nối nhau chảy, biến thành giòng nước, nói lên sự liên tục và tương liên của nó. Hiện hữu nhưng không có tự ngã.  Trong cái hiện hữu ấy, chúng ta khổ, chúng ta bức xúc, nhưng cũng trong cái hiện hữu ấy chúng ta có dịp hoàn thành tâm nguyện, có dịp tiến tu. Trong cái thế giới cạnh tranh có những hùng tâm muốn kiến tạo một xã hội lý tưởng trên lập trường Lân Mẫn Hữu Tình. Phật Giáo có giúp cho họ nơi nương tựa ấy? Có giúp họ triển khai tinh thần đại từ bi, tinh thần “Ngũ Trược Ác Thế Thệ Tiên Nhập, Như Nhất Chúng Sinh Vị Thành Phật, Chung Bất Ư Thử Thủ Nê Hoàn?”

 

Trí Không - Trần Quang Thuận

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2014(Xem: 15665)
thichnhudien Mỗi người trong chúng ta, ai sinh ra trong cuộc đời nầy cũng đều có một nghiệp quả khác nhau. Có kẻ sinh ra làm vua, làm thái tử, làm công chúa. Có người sinh ra làm quan, làm tổng thống, làm thủ tướng, làm người lãnh đạo, làm nhà tư bản, nhà giáo dục, bác học, bác sĩ v.v… Nhưng cũng có lắm người khi được sinh ra lại phải bị rơi vào trong những gia đình thiếu cơm ăn áo mặc, rách nát tang thương. Cũng có lắm người khi sinh ra đã không có đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, tay chân v.v…
07/02/2014(Xem: 14277)
Theo các giáo lý nhân quả và các ví dụ v.v.., thật khó tìm được sự tự do và thuận lợi. Cho dù ta được sinh làm một con người, vẫn còn những vùng đất rộng lớn không có Giáo Pháp. Việc chư Phật xuất hiện và giảng dạy Pháp thì vô cùng hi hữu.
07/02/2014(Xem: 12947)
Trên đường đến viếng thăm Học viện Root vào tháng 12, năm 2005, Lama Zopa Rinpoche được nghe bác tài lái xe bày tỏ là bác rất tức giận gia đình và xin ngài Lama Zopa Rinpoche dạy cho vài bài chú tụng để giúp bác giải quyết vấn đề.
30/01/2014(Xem: 27900)
Bài viết này là của Tiến Sĩ Pinit Ratanakul. Ông tốt nghiệp Cao Học tại Đại Học Chulalongkom, Thái Lan và lấy bằng Tiến Sĩ tại Đại Học Yale, Tiểu Bang Connecticut, Hoa Kỳ. Ông là giáo sư triết và là giám đốc Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo tại Đại Học Mahidol, Thái Lan. Ông là tác giả của cuốn sách “Bioethics: An Introduction to the Ethics of Medicine and Life
30/01/2014(Xem: 17329)
Trong cuộc sống hằng ngày đôi khi tâm con người trở nên giận dữ, không kiềm chế được nên đã biến thành thù hận, từ đó thường xảy ra những sự xung đột, ấu đả và có thể đi đến chỗ gây thương tích hay giết người không chút xót thương. Báo chí thường đăng quá nhiều tin tức về hậu quả xảy ra bắt nguồn từ những cơn giận dữ đủ loại.
28/01/2014(Xem: 11163)
Trong Phật giáo cũng như bất cứ tôn giáo nào, một người bước vào ngưỡng cửa tín ngưỡng, cũng phải tìm hiểu về tôn giáo mình đang theo, ít ra nắm vững giáo lý của một tôn giáo do minh muốn chọn. Đó là nguyên tắc, nhưng phần lớn người đến với đạo Phật, họ đến bằng lòng sùng tín hơn là học hỏi tìm hiểu, vì thế, không tránh khỏi mê tín qua việc cầu khấn, đốt vàng mã, xin xăm bói quẻ và vô số hình thái mà giáo lý nhà Phật không hề khuyến khích.
14/01/2014(Xem: 13824)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạng và thêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính và sự bám víu của con người. Muốn đến gần với Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn ngày nay thật hết sức khó.
12/01/2014(Xem: 15068)
Trong một cuộc thử nghiệm, giáo sư Masaru Emoto đã nhờ 500 người dân sống ở các vùng khác nhau trên nước Nhật tham gia. Vào một thời điểm nhất định được thông báo trước, giáo sư Emoto đặt một ly nước lên bàn rồi yêu cầu mọi người nghĩ đến tình thương và cầu nguyện cho ly nước đó trở nên trong sạch.
12/01/2014(Xem: 23589)
Ngày nay từ Á sang Âu, từ Đông sang Tây, từ châu Mỹ La tinh đến Phi châu…, có vô số trường đã và đang dạy thiền cho học sinh từ các lớp Mầm non. Nhiều thí nghiệm của các chuyên gia, của các trường và kết quả như thế nào về việc đem thiền vào trường học, mời quý độc giả tìm hiểu qua bài viết nầy.
12/01/2014(Xem: 11127)
Thời gian qua nhanh, tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già, cái chết sẽ đến, không biết về đâu? Chúng ta chẳng dám nói rằng mình hiểu hết mọi lẽ nhân sinh cuộc đời, nhưng có chút hiểu biết chân chính ta vẫn làm việc đóng góp, phục vụ mà vẫn sống thanh thản, thoải mái, an nhiên tự tại.