Tiếng Chuông Chùa

02/05/201209:24(Xem: 14629)
Tiếng Chuông Chùa


Dai Hong Chung

TIẾNG  CHUÔNG  CHÙA
Quang Kính Võ Đình Ngoạn


Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ.  Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. 
 
Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước TL – 256 Trước tr TL).  Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?  
 
Người Ấn Độ từ thời xa xưa đã biết dùng trống để cảnh báo sự việc xảy ra, báo thời gian. Lúc Phật còn tại thế, ngài đã dùng trống tập họp tăng chúng đến nghe pháp. Trường hợp của mõ cũng không khá gì hơn, các sử liệu ghi chép không rõ, thường thường chỉ dựa vào các truyền thuyết, có hai loại mõ. Loại mõ khắc hình cá dài nay chỉ còn thấy dùng trong các chùa cổ ở Trung Hoa, được treo ở nhà kho hoặc nhà ăn để báo giờ thọ trai cho các tăng, ni. Loại mõ khắc hình cá cuộn tròn được dùng trong các chùa Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên. 
 
Trong sách Tam Tài Đồ Hội của Vương Tích đời nhà Minh có đoạn” Mõ là loại mà dùng cây khắc thành hình con cá, rỗng bên trong, gõ nó phát ra tiếng, các hàng Phật tử khi tán tụng đều dùng đến nó;” điều nầy chứng tỏ mõ khắc hình cá cuộn tròn được đưa vào các chùa chiền nếu chậm nhất cũng phải vào đời nhà Minh ( 1368 -1644 ).

Với kiến thức nông cạn tôi không có tham vọng khảo cứu về chuông, trống, mõ. Vả lại, chủ đích bài viết nầy chỉ muốn trình bày khái quát công dụng chuông, trống, mõ trong chùa, trong sinh hoạt dân gian, trong chuyện cổ tích, trong văn chương, thi, phú...

Tiếng chuông, tiếng trống và mõ trong các chùa chiền không giống như tiếng chiêng, tiếng trống thúc quân ra trận, cũng không giống như tiếng trống trong câu chuyện Chinh Phụ Ngâm, Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt…, đã khiến người chinh phụ thốt nên lời oán trách trời xanh. Nó cũng không giống như tiếng trống lệnh vua tòng quân, trống vang rền  quan với quân lên đường…. trong bài hát Hòn Vọng Phu khiến nàng Tô Thị qua bao năm tháng ôm con trông đợi ngày về của chồng đã biến thành tượng đá. Nó cũng không giống như tiếng trống dùng trong pháp trường xử chém Cao Bá Quát, Ba hồi trống giục mồ cha chết. Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời.

Tiếng chuông, tiếng trống chiến trường khi gióng lên làm cho tâm tư con người bồi hồi lo sợ, nó như tiếng gào thét của tử thần từ cõi âm vọng về hay tiếng thúc dục khiến con người như say hơi thuốc phiện. Họ lăn xả vào tàn sát lẫn nhau. 
 
Ngược lại tiếng trống, tiếng chuông, mõ trong các tự viện, chùa chiền làm cho tâm tư con người được thư thái, nhẹ nhỏm không lo âu sợ sệt; bởi vì khi tiếng chuông đánh lên có năng lực làm thức tỉnh, đánh động tâm linh, do đó chuông trống lớn còn được gọi là chuông trống bát-nhã. Tương truyền Hoà thượng Chí Công khởi xướng việc đúc đại hồng chung để dùng trong các tự viện và vua Lương Võ Đế đã dùng trong nghi lễ cầu nguyện cho các thần thức bị đọa trong chốn địa ngục, do đó chuông lớn còn được gọi là chuông U minh.

Chuông, trống, mõ dùng trong nghi lễ Phật giáo là những pháp khí, nhạc khí, những vật dụng trợ duyên rất đắc lực cho các các hành giả trên con đường tu học, cho các bậc tu sỉ trong công việc hoằng dương giáo pháp Phật-đà. 
 
Trong nghi thức tụng niệm của Phật giáo, nếu chúng ta để ý quan sát, chúng ta sẽ thấy các người đang hành lễ như đang biểu diễn một màn nhạc, vị chủ lễ thường là các thầy hoặc các cô, đôi khi là cư sĩ khi buổi lễ do các nhóm đạo tràng thực hiện, các huynh trưởng đối với Gia Đình Phật Tử, những vị nầy giống như các nhạc trưởng, có nhiệm vụ điều khiển dàn nhạc, toàn thể đại chúng phía dưới nhất nhất theo lệnh của vị chủ lễ và người thủ chuông………. Nếu đại chúng đều làm đúng theo nghi thức qui định, theo tôi nghĩ chúng ta cảm nhận những Phật tử đó đang biểu diễn màn  hoà tấu mà nó còn giống như một điệu vũ tập thể.

Nói đến nền văn minh, văn hóa Việt Nam, theo thiển ý chắc không ít độc giả cũng đồng quan điểm với tôi là nó mang đậm dấu ấn Phật giáo. Lịch sử  nước ta trải qua 4000 năm văn hiến, trong đó nền văn hóa Phật giáo đã hình thành và phát triển khoảng 2000 năm. Với thời gian dài như thế, giáo lý của Đức Phật đã ăn sâu, bám rễ và luân lưu trong dòng máu của từng người dân Việt, tạo nên một nền tảng luân lý đạo đức chi phối mọi sinh hoạt xã hội. Trong lãnh vực văn chương, chuyện cổ tích dân gian cũng không thoát khỏi ảnh hưởng đó. Tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng sâu đậm cho đến nỗi có những thi sĩ không phải là Phật tử cũng thốt lên những ngôn từ rất Phật giáo.

Thi sĩ Hàn Mạc Tử, một tín đồ Ki-Tô giáo đã thốt lên câu:

Thơ tôi hương huyền diệu
Mọc lên đạo từ bi

Theo tôi nghĩ Đạo Từ Bi đó là ngôn từ Phật giáo vì đối với Ki tô giáo thường dùng ngôn từ Bác ái ). Ngay trong bài “Ave Maria” ca tụng bà Maria ông cũng có những ngôn từ rất đạo Phật:                           

Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới

Đối với  thi sĩ  Huy Cận trong bài  thơ Trình Bày cũng không thoát khỏi ngôn từ đạo Bụt:

Mặt trời đẹp, sắc đời đua nở thắm
Tôi đã đành mang nặng nghiệp yêu đương

Hoặc: Hỡi Thượng Đế tôi cúi đầu trả lại
Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang

Một số thi nhân không ở trong Phật giáo mà có những vần thơ như thế đủ chứng tỏ văn hóa Phật giáo đã là nền tảng vững chắc tạo dựng nên nền văn hóa dân tộc. Ai là người dân Việt không ít thì nhiều cũng bị ảnh hưởng. Trong nền văn hóa đó, tiếng chuông chùa đã gợi nhiều nguồn cảm hứng cho các văn, thi, nhạc sĩ. Tiếng chuông trong câu chuyện Hồn Bướm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng gợi cho chúng ta cảm giác thiền vị. Tâm thiền đã hòa đồng với cảnh đẹp của thiên nhiên, ngay cả cỏ cây cũng cảm nhận được lời dạy của đức Như Lai, tâm và cảnh như trở thành một bản thể.

Trong làn không khí yên tĩnh êm đềm, tiếng chuông thong thả ngân nga như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp cảnh thiên nhiên, lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt như cảm tiếng gọi của Mâu-Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch

Tiếng Chuông Giao Thừa đó là một truyện ngắn trong tập truyện Tình Người của thầy Nhất Hạnh được sáng tác khi thầy còn là một chú điệu có đề cập đến tiếng chuông chùa trong đêm trừ tịch. Đoạn văn ấy gợi lên hình ảnh mọi người hân hoan chờ đợi giây phút thiêng liêng tống cựu nghênh tân,  rước ông bà tổ tiên về chung vui ba ngày tết với mình, nhà nhà đều lên đèn, cửa mở rộng, ánh sáng chiếu qua các khung cửa xua đi vẻ âm u, đen tối của đêm  ba mươi. Chuông vẫn khoan thai ngân vang  từng tiếng khiến mọi vật đều trở nên ấm cúng lạ thường.

Boong, boong... Bốn phía thấp thoáng những ngọn đèn của xóm làng trở dậy cúng giao thừa. Có lẽ cửa nhà nào cũng mở rộng. Núi đồi mất hẳn vẻ hoang dại, trở nên hiền lành. Tiếng đại hồng chung oai nghiêm và ấm áp đã xua đuổi những bóng hình sợ hãi và đánh tan u tịch. Đại hồng chung vẫn khoan thai điểm từng tiếng rành rọt. Âm thanh ngân dài, ấm áp và thuần hậu...( Lá Bối Sàigòn 1964 tái bản lần thứ tư,  San Jose 1989 )

Một thi sĩ khác nghe tiếng chuông chùa đã liên tưởng đến những tiếng chuông khi xưa, có lẽ lúc còn bé hằng năm tung tăng nắm tay mẹ lên chùa lễ Phật. Thời gian xưa củ lại hiện về trong ký ức, thi nhân cảm thấy mình bé nhỏ như năm tháng ngày nào.

Hằng năm tôi đi lễ chùa
Chuông vàng khánh bạc ngày xưa vẫn còn
Chân đi đếm tiếng chuông chùa
Tôi ngỡ năm  tháng ngày xưa trở về

Đối với thi sĩ Trúc Điệp nghe tiếng chuông chùa như lời cảnh tỉnh chúng sinh đừng nên đam mê dục vọng, hãy xa lìa tham, sân, si  để thân tâm được thanh tịnh:

Chuông cảnh tỉnh vang lên lời kể lể
Như khuyên lơn an ủi vạn linh hồn
Khắp trần gian mà vọng lại cô thôn
Cho tất cả một cái gì linh động

Trong bài thơ Chùa Hương, thi nhân Chu Mạnh Trinh cảm nhận như  đang ở cảnh niết-bàn hạ giới, nào là muôn chim đang dâng hoa, cúng trái, nào từng đàn cá đang lắng nghe câu kinh tiếng kệ, tiếng chuông vang lên làm tỉnh mộng khách hồng trần khiến hành giả trở về với cái tâm thanh tịnh:

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình
Khách tang hải giựt mình trong giấc mộng

Tổ tiên chúng ta có câu : Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, câu này nói lên tầm quan trọng của việc chọn bạn mà chơi,  chọn nơi mà ở. Khi xưa mẹ thầy Mạnh tử phải dời chỗ ở 3 lần là vậy,  tục ngữ ta cũng có câu gần chùa gọi Bụt bằng cha hoặc gần chùa gọi Bụt bằng anh do đó những người dân sống chung quanh chùa nghe những hồi chuông công phu sớm tối, nghe những câu kinh tiếng kệ không ít thì nhiều cũng ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của mình cũng gắng lo tu học hạnh lành, đi chùa lễ Phật vào những tối rằm, mùng một hoặc mười bốn, ba mươi. Những dòng thơ của hòa thượng Mãn Giác gợi lên hình ảnh đó

Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu
Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi thôn xóm
Xây dựng tương lai xứ sở mình

Tối đến dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân lành mọi mái tranh

Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gọi lên chùa lễ
Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào

Mùa thu, mùa của lá vàng, mặt nước hồ thu trong veo không gợn sóng, thỉnh thoảng có làn gió thu hiu hiu thổi. Thắng hội Vu-Lan cũng nằm trong mùa nầy. Nhìn những chiếc lá lìa cành, bóng chiều dần dần buông phủ, đàn chim vẩn vơ bay về tổ ấm. Tiếng chuôngchùa đâu đây ngân nga khiến nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng nhớ về mẹ hiền, nhớ đến gương hiếu hạnh của Bồ-tát Mục-Kiền-Liên, khiến dòng nhạc của ông tuông chảy: Đìu hiu gió, bóngchiều rơi theo lá thu. Có đàn chim bay vẩn vơ chuông chùa xa đưa huyền mơ. Mục-Kiền-Liên đứng nhìn cảnh đêm dần lan. Nhớ mẹ xót xa tâm hồn bóng mẹ biết bây giờ đâu... Rồi cũng từ đó người nhạc sĩ nầy nguyện cố noi theo gương Bồ-tát: Mục-Kiền-Liên chúng con cố nguyện noi từng bước vàng.

Đối với  giờ giấc sinh hoạt trong xã hội Việt Nam khi xưa, tiếng chuông chùa ảnh hưởngcũng không nhỏ. Từ ngày có tiếng chuông tinh tấn công phu sớm tối của các thiền sư, những chú gà trống không còn có lý do để tranh công với 5 loại gia cầm khác, giờ đây có lẽ tiếng gáy của các chú vào mỗi buổi sáng chỉ  còn công dụng để ve vản, tỏ tình với các cô gà mái tơ. Người dân nay nghe tiếng chuông để thức giấc chuẩn bị cho công việc đồng áng hoặc chợ búa hay thu xếp mọi việc để trở về nhà: 

Gió đưa cành trúc la đà
Hồi chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương
Trên chùa đã dộng tiếng chuông
Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu

 Hoặc: 
Chiều chiều bìm bịp giao canh
Trống chùa đã đánh sao anh chưa về

Khi người dân dùng tiếng chuông chùa để định giờ giấc cho công việc làm ăn của mình, thì từ đó cũng phát sinh ra những câu chuyện cổ tích mang nội dung như những bài thuyết giảng của đức Như Lai.

Ngày xưa có một anh chàng chuyên về nghề giết lợn đem thịt ra chợ bán. Anh ta sống gần một ngôi chùa, mỗi sáng khi nghe tiếng chuông đổø anh giết lợn để kịp phiên chợ. Một hôm vị trụ trì ngôi chùa nằm mơ thấy một người đàn bà dẫn đàn con đến xin cứu mạng. Vị thiền sư liền hỏi bằng cách gì thầy có thể cứu mạng. Người thiếu phụ nói ngày mai khi dậy tụng kinh xin thầy đừng đánh chuông thì mẹ con nàng sẽ được cứu, vị trụ trì nhận lời. Sáng hôm sau, sư cụ lẳng lặng dậy tụng kinh mà không thỉnh chuông công phu như thường lệ. Không nghe tiếng chuông báo thức nên chàng đồ tể ngủ thẳng giấc, đến khi tỉnh dậy mặt trời đã lên cao, nếu giết lợn không còn kịp thời gian của phiên chợ nữa. 
 
Anh chàng bực mình lên chùa hỏi sư cụ sao không đánh chuông khiến anh phải lỡ dở công việc. Vị thầy kể lại giấc mơ. Anh ta liền về nhà, chạy ra chuồng lợn xem thì thấy con lợn nái mình định mổ thịt đã sinh một đàn con. Anh tự nghĩ loài súc vật cũng có linh hồn, cũng tham sống sợ chết, cũng vì con sẵn sàng hy sinh cho con thế mà lâu nay vì sinh kế anh đã giết bao nhiêu sinh mạng. Anh liền bỏ đao đồ tể, quyết chí tu hành sau nầy trở thành vị A-la-hán. 
 
Chỗ con dao anh cắm xuống hôm sau mọc lên một loại cây, thân cây có đốt ngắn giống thân cau rừng nhưng lá giống những lưỡi dao có màu đỏ như máu, người dân nơi đây gọi tên là cây huyết dụ. Ngày xưa con dao đồ tể đã giết bao nhiêu sinh mạng, ngày nay với lá cây huyết dụ đã cứu biết bao phụ nữ bị bịnh sản hậu, ôi câu chuyện thật thâm thúy, đượm mùi đạo hạnh lắm thay.

Một câu chuyện khác liên quan đến tiếng chuông tôi được nghe mẹ kể trong thuở bé thơ. Đó là câu chuyện Con trâu vàng hồ Tây.  Vào đời nhà Lý, có vị thiền sư với một túi nhỏ trên vai đi chu du khắp nơi quyên góp đồng đen để về đúc chuông. Vị thiền sư  qua Tàu vào cung gặp vua Tống xin nhà vua rộng lòng bố thí cho mình một số đồng đen để đúc qủa đại hồng chung. Vua Tống hỏi cần bao nhiêu theo thủ kho mà lấy, vị thiền sư chỉ chiếc túi đeo trên vai nói cho đầy túi nầy là đủ. Không ngờ cả kho đồng của vua Tống cho vào túi cũng chưa đầy. 
 
Khi về nước vị thiền sư liền tiến hành việc đúc chuông. Đại hồng chung đúc xong, lễ an vị và khai chuông được tổ chức rất trang nghiêm, trọng thể. Khi tiếng chuông được gióng lên thì âm thanh ngân nga, vang rền qua mãi bên Tàu khiến con trâu vàng trong kho vua tưởng tiếng mẹ gọi liền tung cửa chạy thẳng qua nước Nam. Đến hồ Tây thấy bóng mình dưới nước trâu vàng tưởng mẹ nên nhảy ùm xuống. 
 
Tương truyền rằng nếu ai một vợ, một chồng mà sinh được 12 người con trai thì sẽ kéo được con trâu vàng. Tôi tự nghĩ tại sao lại là con trâu vàng mà không phải con vật khác, tại sao phải 12 người con trai. Theo thiển ý của tôi con trâu vàng phải chăng ẩn chứa bài pháp chăn trâu và mất trâu, 12 người con trai ám chỉ cho giáo pháp 12 nhân duyên. Nếu ai hiểu thông suốt bài pháp 12 nhân duyên sẽ phá được màn vô minh che phủ, Phật tánh sẽ được phơi bày. Kéo được trâu là mình đã tìm được bản lai diện mục của mình. 
 
Tôi cũng tự hỏi không biết vị thiền sư nầy có phải thiền sư Nguyễn Minh Không trong sách Chùa Xưa Tích Củ mà tác giả Nguyễn Bá Lăng đề cập đến chăng. Nếu vị sư nầy đúng là thiền sư Nguyễn Minh Không thì qủa đại hồng chung này rất có thể là chuông Phả Lại, nó là một trong bốn  vật báu của nước ta, ba thứ còn lại là tháp Báo Thiên  của chùa Báo Thiên với đỉnh tháp toàn bằng đồng, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm với những nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của nền văn hoá Phật giáo thời đại Lý – Trần và cuối cùng là vạc Phổ Minh.  
 
Phải chăng đó cũng do công trình kiến tạo của vị sư nầy. Rất tiếc ngày nay những vật thể nầy không còn nữa. Nếu có còn chăng đó là sự nuối tiếc trong lòng người dân. Điều đáng đau buồn thay khi những  sản phẩm văn hoá đó đã bị một số người con hư hỏng hổ trợ, tiếp tay trong việc huỷ diệt. Nếu có còn chăng đó là sự ghi chép lại những dữ kiện trong trang sử nước nhà và sự phê phán của hậu thế. Nhằm mục đích khuyên răn con cháu tổ tiên ta có câu:

Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Hoặc :
Cọp chết để da, người ta chết để tiếng

Cũng từ  câu ca da tục ngữ trên cho chúng ta thấy có những dòng sông, những tác phẩmnghệ thuật, những nhân vật kèm theo các công trình, các sách lược hay các di tích văn hóa đã và đang là những điểm son trong lịch sử dân tộc, như sông Bạch Đằng với chiến công phá quân Nam Hán của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên Mông. 
 
Sông Nhật Tảo với chiến công đốt tàu chiến Pháp của cụ Nguyễn Trung Trực...Nhưng cũng có những dòng sông tạo nên ô nhục cho dân tộc như dòng sông Gianh, sông Bến Hải. Những công trình kiến tạo nghệ thuật cũng thế. Ngày nay khi chúng ta viếng thăm Vạn Lý Trường Thành, nhìn thấy một kỳ quan của thế giới do con người tạo dựng  lên. 
 
Nhưng nó cũng  một vật thể minh chứng cho hành động huỷ diệt một di sản văn hoá nhân loại bởi một chế độ bạo tàn đốt sách chôn học trò, coi mạng dân như cỏ rác. Đó chính là chứng tích nhục nhã cho những ai đã tạo dựng nên nó, giờ đây chúng ta không còn nghe tiếng chuông chùa Báo Ân, chùa Báo thiên, tiếng khánh Linh Hựu... Thiển ý của tôi có những hồi chuông, những tiếng chuông vẫn vượt không gian, thời gian tồn tại mãi, giáo lý của Đức Từ Phụ ngày nay đã được các trưởng tử Như Lai rao truyền khắp năm châu bốn biển, mang thông điệp tình thương đến cho nhân loại, đó chính là những tiếng chuông, những hồi chuông vẫn ngân vang và ngân vang mãi  mãi để thức tỉnh tình người.






       
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/10/2020(Xem: 10157)
Hòa thượng Telo Tulku, Thượng thủ Giáo hội Phật giáo Cộng hòa Phật giáo Kalmykia (thuộc Liên bang Nga) và đại diện danh dự của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Nga và Mông Cổ, cùng các thành viên của Cộng đồng các Quốc gia Độc lập, đã gặp các học giả từ nước Cộng hòa Phật giáo Kalmykia vào ngày 30 tháng 9 vừa qua, để thảo luận về khả năng thành lập một trung tâm giáo dục Đại học Phật giáo. Vào đầu thế kỷ 20, có một số trung tâm cao học Phật giáo tại Kalmykia, được gọi là Tsannid Chöra (Viện Triết học Phật giáo), trước đây đã bị phá hủy bởi Đảng Cộng sản vô thần cực đoan thời Xô Viết.
05/10/2020(Xem: 11088)
Các nguồn tin từ Tây Tạng cho biết, trong một lĩnh vực việc làm vốn đã bị đánh dấu bởi hạn chế cơ hội, các bạn Tây Tạng trẻ tuổi đang tìm kiếm nhân viên chính phủ, đang được yêu cầu kết nạp Đảng cầm quyền Cộng sản Trung Quốc, và nghiên cứu kỹ lưỡng tư tưởng chính trị của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Chủ tịch Quân Trung ương Trung Quốc, Tập Cận Bình.
03/10/2020(Xem: 17504)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Kính thưa chư Tôn đức, chư Pháp hữu & quí vị hảo tâm. Sáng hôm Rằm Trung Thu vừa qua chúng con, chúng tôi lại có dịp lên đường gieo hạt tình thương. Nơi đã đến phát quà là 2 ngôi làng có tên Sudhapur và Aditya Village, hai ngôi làng nghèo này nằm trên lộ trình từ Bodhgaya hướng về Rajgir Thành Vương Xá. Cách Bồ đề Đạo Tràng chừng 27 cây số. - Buổi phát chẩn đã thực hiện cho 302 hộ nghèo. Xin mời chư vị xem qua một vài hình ảnh tường trình..
03/10/2020(Xem: 11671)
Matxcova: “Ba chuyến quang lâm của Đức Đạt Lai Lạt Ma”, một cuộc triển lãm hình ảnh lưu động được khai mạc vào ngày 2/10/2020 tại ngôi đại già lam Phật Thích Ca Mâu Ni (Buddha Shakyamuni) tọa lạc tại Elista, thủ đô của nước Cộng hoà Kalmykia, một quốc gia cộng hòa thuộc Nga, nằm ở phía Nam Liên bang Nga, khu vực rìa Đông của châu Âu. Triển lãm được tổ chức nhân kỷ niệm 15 năm “Trụ trì ngôi đại già lam Phật Thích Ca Mâu Ni”.
03/10/2020(Xem: 11836)
Ngưỡng bạch Giác Linh Hòa Thượng Ân Sư, Quạnh hiu trên bến sông buồn, Sa Giang nước chảy về nguồn nhớ thương, Bao nhiêu nước chảy bấy nhiêu buồn; Thầy ơi ! Trăng nước còn xót xa. Mỗi độ Xuân về, trong ký ức chúng con lại miên man với bao kỷ niệm thiêng liêng cùng vị Ân sư mà chúng con có phúc duyên được học luật và hầu bên cạnh Ngài trong những giờ phút cuối đời. Đó là Trưởng lão Luật sư Thích Huệ Hưng.
03/10/2020(Xem: 10045)
Cư sĩ Chhimey Rigzen, Đại diện Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Trung và Đông Âu và Chính quyền Trương ương lưu vong Tây Tạng, và nữ cư sĩ Thinlay Chukki, người được Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (UNHRC) và và Chính quyền Trương ương lưu vong Tây Tạng (CTA) bổ nhiệm đặc biệt về Nhân quyền tại Văn phòng CTA tại Genèva cùng với Đại sứ Andrew Bremberg, đại diện thường trực của Hoa Kỳ tại Văn phòng Liên Hợp Quốc và Tổ chức Quốc tế khác tại Genèva, Thụy Sỹ ngày 30 tháng 9 năm 2020.
03/10/2020(Xem: 8270)
Hôm nay trời nhẹ lên cao. Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.[1] Mỹ Ngư cất tiếng hát nho nhỏ. Nàng buồn như tâm trạng câu thơ, chỉ man mác, vu vơ không rõ nguyên do. Nếu quay ngược được thời gian trở lại bốn chục năm về trước khi nàng là thiếu nữ thì còn hiểu được, nhưng đằng này... Lòng buồn suy nghĩ mông lung, bỗng nàng nhớ lại lời Phật dạy; phàm việc gì cũng phải do “duyên khởi“. Cái duyên của nàng bắt đầu là một giấc mơ, một giấc mơ kỳ lạ!
02/10/2020(Xem: 11234)
Cuộc họp chung đầu tiên được tổ chức bởi Hiệp hội các nhà Lãnh đạo Thiền phái Phật giáo Hàn Quốc, tổ chức hàng đầu việc việc giữ gìn và phát huy pháp môn Tham thiền Công án, Thoại đầu (간화선, 看話禪), một thực hành truyền thống của Phật giáo Hàn Quốc. Hiệp hội các nhà Lãnh đạo Thiền phái Phật giáo Hàn Quốc (Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Thượng tọa Uijeong (의정스님), Chủ tịch Thượng tọa Gaksan (각산스님) đã tổ chức Đại hội lần thứ nhất tại Tham Phật Thiền Viện (참불선원-參佛禪院), vào ngày 14 tháng 9 năm 2020 tại thủ đô Seoul, Hàn Quốc và cam kết sẽ “Nỗ lực Phổ biến và Toàn cầu hóa Tham thiền”
02/10/2020(Xem: 10840)
Nhiều người hâm mộ văn hóa thể thao biết rằng, vận động viên bi da chuyên nghiệp nổi tiếng, sinh quán tại Hồng kong và khi 12 tuổi cùng gia đình đến nhập cư tại Vancouver, Canada năm 1990, cư sĩ Phật tử Phó Gia Tuấn (傅家俊) (ba lần đoạt giải vô địch thế giới và 4 lần đạt vị trí Á quân, từng đứng hàng 10 trên thế giới) là một cư sĩ Phật tử ăn trường chay và thường công phu tu tập thiền định Phật giáo. Do đó, nhiều người đã nói về tầm quan trọng của việc giữ cho người chơi thể thao chuyên nghiệp ổn định về mặt cảm xúc trong suốt trò chơi. Việc học Phật pháp và công phu tập thiền định có giúp cho thành tích của cầu thủ Phật tử Phó Gia Tuấn không? Trên thực tế, các môn thể thao ưu tú ngày nay đang trở nên chuyên nghiệp hơn, và tâm lý học thể thao đã trở thành một phần không thể thiếu của các môn thể thể chuyên nghiệp. Theo nghiên cứu chứng thực của khoa học, việc công phu tu tập thiền định Phật giáo rất hữu ích đối với thành tích của vận động viên.
02/10/2020(Xem: 9724)
Như các phần trước đã nói, chân tâm không sinh diệt và vọng tâm sinh diệt luôn tồn tại nơi mỗi con người chúng ta. Bởi con người sống với vọng tâm nên tạo ra dòng lưu chuyển sinh tử khổ đau của chúng sinh hữu tình với những quả báo sai biệt. Tất cả đều có nguồn gốc từ nhân duyên vọng tâm thiện ác. Chân tâm không sinh diệt chính là dòng hoàn diệt, cho nên chấm dứt được khổ đau, sinh tử tạo thành quả báo cũng như các quốc độ thù thắng, vi diệu, bất khả tư nghì của các bậc hiền thánh. Như vậy, phàm phu là do sống với vọng tâm thiện ác vô thường, biến hoại, sinh diệt; còn những ai sống hay an trú trong chân tâm rỗng lặng không sinh diệt thì trở nên là những bậc hiền thánh. Điều này là một chân lý.