I. CỐT LÕI ÐẠO PHẬT

21/05/201311:39(Xem: 8439)
I. CỐT LÕI ÐẠO PHẬT

HÉ MỞ CỬA GIẢI THOÁT

Thiền Sư Thích Thanh Từ

--- o0o ---

I

CỐT LÕI ÐẠO PHẬT

Chủ yếu Ðạo Phật là chỉ dạy chúng sanh giải thoát mọi khổ đau, song lâu đài giải thoát phải xây dựng trên một nền tảng giác ngộ; trước phải giác ngộ nhiên hậu mới giải thoát, như nói “Biết đúng mới làm đúng”. Giác ngộ Giải thoát theo liền bên nhau không thể tách rời được. Cầu Giải thoát mà trước không Giác ngộ là sự mong cầu viễn vông thiếu thực tế. Nhưng người mắc bệnh ghiền á phiện, muốn bỏ mà không ý thức tai hại do ghiền á phiện gây ra, chạy cầu thầy bùa, thầy pháp xin bùa phép uống để khỏi ghiền, là xa vời không thực tế. Muốn bỏ bệnh ghiền á phiện chính người ấy phải nhận thức rõ ràng tai hại của bệnh ghiền, đồng thời lập chí cương quyết bỏ á phiện, dù bị cơn ghiền hành hạ thế mấy, liều chết hẳn không tái phạm. Có thế, người ấy khả dĩ thành công được việc bỏ ghiền á phiền. Mọi khổ đau trong đời sống con người đều do hành động xấu xa của con người chuốc lấy. Muốn Giải thoát mọi đau khổ, con người phải giác ngộ, cương quyết đập tan mọi nguyên nhân sinh ra đau khổ. Nhơn đau khổ đã nát thì quả đau khổ đâu còn. Vì thế, Giác ngộ Giải thoát là “Cốt Lõi Ðạo Phật”

GIÁC NGỘ ÐAU KHỔ

Thuở còn làm Thái Tử, sau khi chứng kiến sự sanh già bệnh chết của con người, Ngài Tất Ðạt Ða quyết tâm xuất gia tầm đạo. Sau khi đã đạt đạo, Ngài thấy rõ trong mọi đau khổ chỉ luân hồi sanh tử là cái khổ to lớn dai dẳng hơn cả. Cho nên, ngót 49 năm Ngài thuyết pháp cốt chỉ rõ con đường Giải thoát Sanh tử Luân hồi cho chúng sanh. Ðồng thời Ngài dùng phương tiện vạch bày phương pháp giảm thiểu đau khổ cho những chúng sanh chưa đủ khả năng thoát khỏi luân hồi.

GIÁC NGỘ LÝ NGHIỆP DẪN.

Chúng sanh si mê tạo nghiệp, sức nghiệp lôi kéo chúng sanh đi vào luân hồi sanh tử. Do nghiệp dẫn dắt chúng sanh mãi trèo lên tuột xuống trong sáu nẽo luân hồi. Có khi chúng ta vui cười ở cõi trời, khi la hét ở cõi A-Tu-La, có lúc nửa cười, nửa mếu ở cõi người, lại có khi kêu la thảm thiết ở địa ngục, có lúc thất thểu đói khát ở ngạ quỷ, có khi ngu si sống theo bản năng ở súc sanh. Ðang lúc bị nghiệp dẫn, chúng ta cũng có gặp những cảnh vui, song cái vui ấy chỉ trá hình của đau khổ. Vì là cái vui mỏng manh tạm bợ, rốt cuộc đều tan biến theo thời gian.

Nghiệp là hành động tạo tác của con người hoặc nói khác, nghiệp là động lực thúc đẩy lôi kéo chúng sanh đến nơi thọ quả. Cụ thể hơn, nghiệp là sức bảo tồn mạng sống hiện tại cả con người. Do hành động tạo tác nhiều lần thành thói quen, có sức mạnh lôi cuốn con người theo thói quen là nghiệp. Ban đầu ta làm chủ tạo nghiệp, nghiệp thành, làm chủ chi phối lại chúng ta. Như người khi mới tập uống rượu và sau khi đã nghiền rượu. Nghiệp dẫn dắt chúng ta lang thang vào sáu nẽo luân hồi đều do những cái sở tập của mình mà nên. Sự sống là động, ngừng mọi hoạt động trong thân thì chết. Như mũi tên rời dây cung bay bổng trong không là do sức đẩy, sức đẩy mãn thì mũi tên phải rơi. Sự sống của thân chúng ta đều do sức nghiệp, nhờ gió nghiệp thu hút tứ đại bên ngoài và thân, cũng do gió nghiệp phế thải trong thân ra ngoài, gió nghiệp dừng thì thân này phải hoại. Có bài tụng:

Ðem vào nhờ gió nghiệp

Tống ra cũng gió đưa

Sự hô hấp tuần hoàn

Tất cả đều do gió

Một phen gió nghiệp dừng

Thân này như khúc goã

Thế nên, sự tồn tại của thân hiện nay và sự nối tiếp của thân mai sau đều do nghiệp. Còn nghiệp là còn sự sống và tiếp nối sự sống. Nghiệp chủ động trong vòng sinh tử của chúng sanh.

Nghiệp có nhiều thứ, nói đơn giản chỉ có hai thứ thuộc ba lớp khác nhau: thiện nghiệp, ác nghiệp, tích lũy nghiệp, cận tử nghiệp, định nghiệp, bất định nghiệp. Những hành động lành tạo thành thói quen là thiện nghiệp, sẽ dẫn dắt sanh trong cõi lành. Những hành động dữ tạo thành thói quen là ác nghiệp, sẽ lôi cuốn vào các cõi dữ. Trong lục đạo luân hồi tùy nghiệp lành cao thấp sẽ sanh trong ba đường lành: Trời, người, A-Tu-La. Nghiệp dữ tùy nặng nhẹ sẽ sanh vào ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì thế lành dữ đều do nghiệp, nghiệp là chính hành động hằng ngày của chúng ta. Muốn tương lai vui vẽ hay đau khổ đều do ta quyết định, chính chúng ta làm chủ vận mạng chúng ta, không ai khác có thể đem vui khổ lại cho chúng ta, kể cả đức Phật. Chúng ta là người định đoạt số phận cả mình ngay trong hiện tại và vị lai.

Hằng ngày chúng ta gây tạo nghiệp lành hay dữ tích lũy thành sức mạnh, dẫn dắt chúng ta đến chỗ tương ứng thọ sanh, gọi là tích lũy nghiệp. Thuở Phật tại thế, Thích MA-HA-NAM đến bạch Phật: Hằng ngày con giữ năm giới tu thập thiện... nếu đi đường gặp cọp dữ, voi dữ hại, khi ấy chết con sẽ sanh về đâu? Ðạo Phật đáp: như cây to đang nghiêng hẳn bên nào, khi ấy tâm niệm thiện đẩy mạnh, hoặc tâm niệm ác đẩy mạnh liền theo đó thọ sanh, là cận tử nghiệp. Người ta thường quan trọng giờ phút lâm chung là vì thế. Trợ niệm bằng cách nhắc lại giáo pháp mà người sắp chết đã nghe cho họ dễ tỉnh giác, hoặc tụng kinh niệm Phật theo sở thích hằng ngày của họ, khiến thêm sức mạnh để họ đi theo con đường đã chọn.

Thân miệng ý cộng tác tạo nghiệp lành hay dữ, kết quả tất yếu phải thọ báo lành hay dữ là định nghiệp. Thân miệng riêng rẽ tạo nghiệp lành hay dữ, kết quả có thể thay đổi được là bất định nghiệp. Ví như có người thù ghét chửi, tay đánh một đối phương, sau đó họ ăn năn đến xin lỗi, đối phương dù có tâm lượng rộng rãi đến đâu thử hỏi có tha thứ dễ dàng chăng? Ngược lại có người vô tình hoặc lầm lẫn chửi hay đánh kẻ khác, sau đó anh biết lỗi đến xin lỗi, chắc chắn nạn nhân kia tha thứ chẳng khó.

GIÁC NGỘ TU NGHIỆP THIỆN

Biết thân miệng ý là chỗ xuất phát nghiệp người phát tâm quy y Tam bảo, trước tiên phải giữ năm giới: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm là ba điều thiện của thân; không nói dối, không uống rượu là hai điều thiện của miệng. Chỉ tu năm điều thiện này phải đủ cung cách một người tốt trong xã hội hiện nay, và sẽ là người tốt ở vị lai. Giữ trọn năm giới là đóng cửa ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), không bao giờ ta bước chân đến ba chỗ này. Thế nên, Phật chế năm giới là phương tiện giảm thiểu đau khổ cho con người trong hiện tại và vị lai.

Nếu giữ trọn mười điều thiện sẽ được sanh lên cõi trời, là con đường lành cao nhất trong sáu đường. Giữ mười điều thiện là tu đủ ba nghiệp: nơi thân không sát sanh, không trộm cướp không tà dâm; nơi miệng không nói dối, không nói hai lưỡi (không lật lọng) không nói hung dữ, không nói thêu dệt; nơi ý bớt tham, bớt sân, không tà kiến. Tà kiến là nhận định lệch lạc không đúng lẽ thật, gốc từ si mê mà ra. Phật dạy: “Thấy đúng nhơn quả là chánh kiến”. Ba nghiệp biết tu thiện là tạo nguồn an lạc hiện tại và mai sau.

Ngược lại, ba nghiệp tạo đầy đủ mười điều ác là nhơn của địa ngục. Ðịa ngục là đường khổ nhất trong sáu đường luân hồi. Ðâu đợi xuống địa ngục mới khổ, ngay trong cuộc sống hiện tại này, nếu người làm đủ mười điều ác; sẽ thấy một đời hoàn toàn đau khổ. Chúng ta thử nhìn người sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, tham lam, sân hận, tà kiến có lúc nào họ được yên ổn đâu. Dù họ ở địa vị thể nào trong xã hội, bản thân và tam hồn họ vẫn đen tối và đau khổ dài dài.

Phật dạy người Phật tử tu thập thiện cốt để đầy đủ phước đức, đời sau sanh ra sẽ được thỏa mãn mọi nhu cầu trong cõi dục giới này. Song đây chưa phải là lối tu giải thoát, đau khổ cứu cánh, cần tiến lên những bậc trên nữa mới hoàn toàn giải thoát đau khổ. Tuy nhiên, trên đường tu, trước giữ năm giới, kế tu thập thiện là cơ bản, là hai nấc thang đầu tiên trên cây thang giải thoát, thiếu nó người tu sẽ chới với không tiến được.

GIÁC NGỘ DỨT NGHIỆP

Sanh tử gốc do nghiệp dẫn, muốn hết sanh tử phải hết nghiệp. Nghiệp phát xuất từ thân miệng ý, song là chủ động là ý. Ý có nghĩ lành dữ, thân miệng mới tạo thành nghiệp lành dữ. Ý lặng rồi thì thân miệng đâu còn cơ sở tạo nghiệp. Như chiếc xe lăn bánh chạy trên đường, gốc từ cháy xăng nổ máy, muốn xe dừng thì phải hãm xăng tắt máy. Cái chủ động đã dừng, các bộ phận bị động cũng dừng. Người tu quyết giải thoát luân hồi, sanh tử phải chận đứng ý nghiệp. Khi nào ý nghiệp vắng bặt rồi, chắc chắn mình giải thoát ly sanh tử. Phương tiện dừng ý nghiệp, Phật dạy có nhiều lối, gọi là nhiều pháp môn tu. Pháp môn tu thiền, pháp môn tu tịnh độ... Mỗi pháp môn đều nhắm đập chết con khỉ ý thức. Tu thiền phải được định, niệm Phật phải nhứt tâm. Ðã định thì ý thức đâu còn hoạt động. Nhất tâm thì con khỉ ý thức đã chết lịm rồi. Vì thế tu thiền đến diệt tận định thì nhập niết bàn (vô sanh) niệm Phật đến nhất tâm bất loạn thì thấy Phật A-Di-Ðà đến đón về cực lạc. Nhập Niết bàn thì không còn sanh tử, về cực lạc thì hết luân hồi trong lục đạo. Ðược về cực lạc (vui tột) hay nhập niết bàn vô sanh mới thật là giải thoát đau khổ hoàn toàn miễn viễn. Ðây là chỗ Phật Thích Ca nhằm hướng dẫn chúng sanh đạt đến.

Muốn niệm Phật được nhất tâm phải tin chắc về sự, hoặc nhận thức về lý. Tin chắc về sự là tin có cõi cực lạc, có Ðức Phật A Di Ðà tiếp dẫn. Tin mình niệm Phật sẽ được vãng sanh. Nhận thức về lý, là nhận rõ tâm tịnh thì độ tịnh. Phật A Di Ðà là tánh giác của mình. Phương pháp niệm Phật là một cách lóng lặng cho tâm mình được thanh tịnh, có câu “Tự Tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Ðộ” đã đủ lòng tin hay nhận thức ấy rồi, hành giả bắt đầu thực hành bằng niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà. Miệng niệm lỗ tai lắng nghe. Phải nghe rõ ràng từng tiếng niệm của mình, dù niệm thầm cũng vậy. Niệm có chuỗi cũng tốt, không chuỗi cũng được. Cốt yếu cột tâm trong sáu chữ Di Ðà, không cho tâm phóng chạy ra ngoài. Ban đầu niệm Phật có thời khóa hay có số chuỗi, sau quen rồi, trong bốn oai nghi, trong mọi hoạt động đều nhớ niệm Phật. Chỉ ngoài giờ ngủ ra tất cả giờ đều là giờ niệm Phật. Người niệm phải tin về sự, sau thời niệm Phật đều phát nguyện hồi hướng sanh về cực lạc. Cõi cực lạc là mục tiêu quy hướng, tuyệt đối của người này. Ðức Phật Di Ðà sẽ đón họ trước giờ lâm chung, khẳng định như vậy, người niệm Phật nhận thức về lý, hướng thẳng về tâm thanh tịnh của mình. Như nói “Trì Thành Nguyệt Hiện” hồ nước đào xong, nước hồ lóng lánh trong thì mặt trăng hiện là tánh giác hiện bày. Tánh giác của Phật Di Ðà, tâm thanh tịnh là cực lạc. Tin về sự hướng ra ngoài, nhận thức về lý là nắm thẳng tâm mình. Tuy sự lý trong ngoài có khác, song trên phương diện thực hành chủ yếu là được nhất tâm. Nhất tâm là mục đích duy nhất của phương pháp niệm Phật. Dù tin sự hay hiểu lý mà niệm Phật không nhất tâm thì cũng chẳng đến đâu. Muốn tu thiền được định tùy trình độ sai khác cũng có nhiều lối tu khác nhau. Tổng quát có hai lối, thiền tiệm thứ và thiền đốn ngộ.

THIỀN TIỆM THỨ

Thiền tiệm thứ là lối tu thiền theo thứ lớp tuần tự tiến lên, có đề mục, có phương pháp ứng dụng. Tu pháp này xong, tiến lên pháp khác. Có sở chứng sở đắc từ tháp lên cao. Như lối tu quán tứ niệm xứ. Minh sát tuệ (Xem sách Thiền Nguyên Thủy). Hoặc tu lối lục diệu pháp môn. Ðây là sáu cửa mầu nhiệm tiến vào thiền.

Ban đầu là sổ tức, là lối đếm hơi thở. Hít hơi vào cùng, đếm một, thở ra sạch đếm hai. Hoặc cả hơi vô hơi ra đếm một, chú tâm vào hơi thở vô, hơi thở ra đến đâu đều biết. Nhớ số từ một đến mười không cho lộn. Ðến mười đếm lại một, cột tâm theo hơi thở và số, vừa đấy nghĩ liền kéo lại vói số và hơi thở. Chú ý đừng có đem hơi thở xuống rún sanh mệt. Hơi thở vừa dài vừa nhẹ là tốt. Ðến bao giờ ngồi thiền cả giờ mà chỉ nhở số và hơi thở là thành công.

Sang tùy tứclà theo hơi thở, đến đây bỏ không đếm số chỉ duyên theo hơi thở ra vào, chú tâm theo hơi thở đến đâu biết rõ đến đó, ra đến tận đâu theo đến đấy. Tâm cột với hơi thở, vừa có nghĩ khác kéo lại với hơi thở, theo sát hơi thở không phút giây lơi lỏng. Cho đến khi chỉ còn biết hơi thở ra vào không nghĩ gì khác là xong phần tùy tức.

Tu chỉ:dừng tâm ở mũi xem hơi thở ra vào, như người gác cổng nhận diện từng người khách ra vào không sai sót. Trụ tâm ở mũi lâu sanh hôn trầm liền khởi quán.

Tu quán:Quán hơi thở ra vào là tướng vô thường mỏng manh tạm bợ, mạng sống lại nương hơi thở mà còn thì mạng sống cũng mong manh tạm bợ. Quả thực mạng sống chỉ trong khoảng hơi thở ra vào, thở ra không hít vào là chết, có gì là chắc chắn lâu dài. Thấy được lẽ thực này là thấy Ðạo. Hoặc quán, hơi thở vào do phổi phồng lên, hơi thở ra do phổi dẹp xuống. Khi phồng lên thì mũi hít không khí vào, phổi xẹp xuống thì đẩy không khí ra; bên ngoài có không khí, bên trong có phổi, hợp với tâm lý tác động thành sự thở. Sự thở không tự có, đủ duyên mới có, đã do duyên thì hơi thở không thật. Sự thở đã không thật, mạng sống đã nương theo hơi thở mà có thì mạng sống cũng không thật. Quán rõ thấy mạng sống như huyễn hóa là thành công.

Tu hoàn:Quán nhiều sanh động, nên xoay lại tìm xem tâm năng quán này ở đâu? Tìm đáo để, không thấy nó thì năng sở tự yên lặng.

Tu tịnh:Chổ năng sở đã yên lặng này là tâm thanh tịnh, giờ ngồi thiền là xả hết vọng niệm chỉ còn một tâm thanh tịnh là tu tịnh, tâm thanh tịnh bền bỉ lâu dài là xong xuôi phần tu Lục Diệu Pháp Môn (cần đọc quyển Lục Diệu Pháp Môn của Trí Khải Ðại Sư).

THIỀN ÐỐN NGỘ

Thiền đốn ngộ là lối tu trực ngộ bản tâm, gọi là kiến tánh khởi tu, không có đề mục, không có phương pháp, không có gì sở đắc, chi mê là chúng sanh ngộ là Phật, nên nói “Kiến tánh thành Phật” lối tu này không tu mà tu, không chứng mà chứng. Bởi vì khi hành giả trực nhận bản tâm, biết rõ nơi mình có cái không sanh không diệt của nó không chạy theo cái tâm sanh diệt tạo nghiệp luân hồi; ngang đây biết rõ bộ mặt sanh diệt của nó không chạy theo nữa, khi nó dấy lên không cho nối tiếp, không khởi thì lặng yên đừng dấy niệm. Tổ Lâm Tế nói: “Ðã khởi không cho tiếp nối, chưa khởi chẳng cần dấy khởi, còn hơn Ông hành cước mười năm”, Cổ Ðức cũng nói “Chớ sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm”. Thiền Sư Vô Nghiệp suốt đời chỉ dùng một câu “Chớ vọng tưởng” trả lời câu hỏi của thiền khách.

Có người bảo lối tu này là “Tảo niệm” (quét sạch niệm). Song khi ngồi thiền quét, lúc tiếp duyên, xúc cảnh thâu lại, cứ quét rồi thâu đến bao giờ mới hết niệm? Ðúng thế, nếu người tu chỉ biết quét khi ngồi thiền, lúc ra ngoài thì thâu lại, thật là gian nan cho lối tu này. Song ở đây không phải vậy, khi ngồi thiền không theo, lúc ra ngoài thấy các pháp đều duyên hợp hư dối như huyển hóa không có một pháp đáng lưu tâm, thì làm gì có thâu, ví như người đi chợ, cô ta dạo qua các cửa hàng, chen chúc với bao nhiêu người qua lại trên đường phố. Nhưng không có vật gì và người nào đáng cho cô để ý. Về đến nhà, người nhà hỏi: đi chợ có thấy gì không? Cô đáp: Không. có phải thật không thấy gì chăng? Hẳn không phải thế, chỉ không có gì quan trọng đáng cô chú ý nên nói không thấy gì. Khi tiếp duyên xúc cảnh, hành giả thấy rõ các pháp như huyễn hóa tự nhiên không có gì đáng để thâu. Bên trong có bao nhiêu vọng tưởng dấy lên đều không tiếp tục, lâu ngày tự hết. Lại có người bảo “không theo niệm” nhẹ nhàng quá, nếu người tọa thiền bị hôn trầm nặng nề làm sao đuổi được? Nếu khi bị hôn trầm nặng nề, hành giả chấn chỉnh thân, mở mắt sáng mà không hết, nên khởi niệm xem hôn trầm này xuất phát từ chổ nào? Tức là đặt câu hỏi “hôn trầm xuất phát từ chỗ nào?” Theo dõi lùng tìm nó thì hôn trầm sẽ tan. Khi gặp tán loạn mãnh liệt cũng thế. Hành giả nên đặt câu hỏi “vọng tưởng này xuất phất từ chổ nào?” Tìm kiếm một lúc thì sẽ hết. Khi hôn trầm tan, vọng tưởng lặng liền trở lại lối tu “không theo niệm” như trước.

Lối tu này cụ thể hóa bằng mười bức họa “Chăn trâu Thiền Tông” Mã Tổ hỏi Thiền Sư Thạch Cung: Ông làm gì đây? Sư đáp: Con chăn trâu, Mã Tổ: Chăn thế nào? Sư đáp: Mỗi khi nó chạy vào ruộng lúa thì lôi mũi nó kéo về. Cứ thế mãi, giờ ngồi thiền chăn, giờ làm công tác chăn, giờ dạo chơi, tiếp khách cũng chăn... không lơi lỏng. Nên nói hái rau, chặt cũi, nấu cơm, đều là thiền. Chăn cho đên khi trâu không còn, người chăn cũng mất, đây là hoàn toàn an định. Thiền Sư Lương Giới tìm đến am tranh Hòa Thượng Ẩn Sơn hỏi: Hòa Thượng ở đây làm gì? Ẩn Sơn đáp: Tôi thấy hai con trâu báng lộn nhau, chạy ùa xuống sông, đến nay không có tin tức. Sư đắp y đảnh lễ. Ðây là mục thứ tám trong mười mục chăn trâu nhà thiền. Trâu và chăn đều vắng bặt khi còn một vòng tròn trắng. Ðến đây ý nghiệp lặng yên không còn lôi kéo vào luân hồi sanh tử nữa. Nếu hàng Nhị Thừa đến đây la nhập Niết Bàn, vì đã dứt sạch nghiệp sanh tử.

GIÁC NGỘ PHÁP THÂN

Dứt sạch nghiệp mới gọi là hết sanh tử, chưa phải thành Phật. Về các kinh A Hàm đến đây là chứng Niết Bàn (Vô Sanh) của A La Hán. Kinh Pháp Hoa Phật bảo là Hóa thành không phải là Bảo Sở, về Thiền Tông gọi đây là đất Vô Sanh, là Tử Thủy (nước chết) là đầu sào trăm trượng, cần phải vượt qua mới được. Căn cứ vào mười mục chăn trâu nhà Thiền, chổ này mới là mục thứ tám người và trâu đều mất. Phải tiến lên mục thứ chín là lá rụng về cội, nước chảy về nguồn mới được, mục này gọi là nhập Phật giới hay là nhập Pháp thân. Cần vượt lên mục thứ mười là buông tay vào chợ hay nhập ma giới, mới vuông tròn công đức thành Phật. Dứt sạch nghiệp mới thoát khỏi đau khổ trong sanh tử cho chính mình. Song chưa đạt được Pháp thân, chưa viên mãn công đức cứu khổ chúng sanh, cần phải hòa quang đồng trần làm lợi ích tất cả chúng sanh mới vẹn tròn công đức thành Phật.

THẦM NGỘ LÀ ÐỦ LÒNG TIN

Có người nghĩ, hành giả chưa trực ngộ bản tâm tu thiền đốn ngộ được chăng? Trực ngộ bản tâm là chủ yếu của người tu thiền đốn ngộ. Song có người chưa ngộ mà đủ lòng tin, tu vẫn được. Xem kinh, học luận, hỏi đạo, nghe giảng... thầm nhận mình có bản tâm bất sanh bất diệt, khẳng định không nghi ngờ, người này tu thiền đốn ngộ được. Thiền Sư Pháp Thường đến hỏi Mã Tổ: Thế nào là Phật? Mã Tổ đáp: Tức tâm là Phật. Sư thầm nhận đến núi Ðại Mai cất am tu. Sau Mã Tổ nghe, sai vị Tăng đến thăm dò, Tăng đến hỏi Sư: Hòa Thượng gặp Mã Tổ đã được cái gì về ở núi này. Sư đáp: Mã Tổ nói với tôi: tức tâm là Phật, tôi bèn đến núi này. Tăng thưa: Gần đây Mã Tổ lại nói: “Phi tâm phi Phật”. Sư bảo: ông già mê hoặc người, chưa có ngày xong, mặc ông phi tâm phi Phật, tôi chỉ biết tức tâm tức Phật. Vị Tăng trở về thuật lại Mã Tổ. Mã Tổ nói với đại chúng: Trái mai đã chín. Ðây là tin nhận mình có bản tâm, chân thật một cách chắc chắn là tu thiền đốn ngộ chăn trâu được.

Hoặc giả nhận rõ vọng tưởng hư dối như sương như khói, không theo, không bị nó dẫn, đến khi nó tan biến hoàn toàn, chơn tâm hiển lộ. Ngài Huệ Khả sau khi được Tổ Ðạt Ma nhận làm môn đồ, Ngài hỏi Tổ: Tâm con chưa an xin thầy dạy con phương pháp an tâm? Tổ Ðạt Ma nhìn thẳng mặt bảo: Ðem tâm ra ta an cho. Ngài sửng sốt lặng tìm liền đáp: Con tìm tâm không được. Tổ Ðạt Ma: Ta đã an tâm cho ông. Ngài Huệ Khả liền biết lối vào. Bình nhật chúng ta thấy tâm tưởng lăng xăng, khi nhìn lại, khi mất bóng bặt dáng. Thế là nó hư dối không thật. Biết rõ nó hư dối là nó không có khả năng lôi cuốn dẫn dắt chúng ta nữa. Không chạy theo không bị dẫn, chẳng an là gì? An tâm là nhìn thẳng bộ mặt hư dối của nó, nó tự tan biến còn gì nữa mà động. Thời gian sau, Ngài Huệ Khả thưa Tổ Ðạt Ma: Con nay bặt hết các duyên. Tổ Ðạt Ma bảo: Coi chừng rơi vào đoạn diệt. Ngài Huệ Khả thưa: Không rơi.

Rõ ràng thường biết nói không thể đến. Tổ Ðạt Ma nói: Ðây là chổ truyền của Chư Phật, chớ có hoài nghi. Thế là tự nhận biết tâm bất an là hư dối. Ngài Huệ Khả chăn nó đến lúc không còn tâm dạng là “Bặt hết các duyên” chỉ còn lại cái “rõ ràng thường biết” là chổ Chư Phật truyền nhau.

Có nhiều người học đạo đã thầm nhận mình có cái chân thật sẵn đủ, hoặc biết rõ vọng tâm hư dối, mà vẫn chưa đủ lòng tin để tiến tu, họ cứ đòi hỏi phải ngộ mới tu được, quả thực họ đang đuổi theo cái ảo ảnh của danh từ ngộ. Ðâu biết rằng tin chắc không nghi là đã thầm ngộ.

KẾT THÚC

Trên tiến hành tu tập từ phàm phu đến Phật quả thật là thăm thẳm gian truân. Song vì ý thức được sự đau khổ trong kiếp mê lầm, sự đọa đầy trong vòng lục đạo, chúng ta phải nổ lực tiếp tu. Nhờ thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ, chúng ta mới thấy đường để tháo gỡ những gút mắc của muôn ngàn sợi dây nghiệp báo. Gỡ sạch những vòng dây nghiệp báo rồi, chúng ta được thảnh thơi, tự tại. Song, thân bằng quyến thuộc của ta, đồng bào của ta, đồng loại ta, đang bị chúng bủa vây bao phủ, đành lòng nào chúng ta lại ngó lơ. Thế là, vén áo xăn quần, chúng ta lao mình vào cõi trần ai để dìu dắt nhân loại thoát khỏi khổ ải. Ðây là hình ảnh Thiền Sư vai mang chiếc đảy, tay cầm bầu rượu, kết bè hợp bạn với đám người đầu đường xó chợ, đem ánh sáng hòa lẫn với bụi bặm, quả là “đầu tro mặt đất” lang thang. Có thế mới tròn bản nguyện đại bi, mới đủ công đức giải thoát chúng sanh ra khỏi sông mê bể khổ. Cứu mình độ người được viên mãn, đều đặt trọn trên nền tảng giác ngộ giải thoát của đạo Phật.


--- o0o ---

Trình bày:Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/03/2025(Xem: 7264)
I)- Thế nào là bố thí? Bố là chia bày ra, thí là trao tặng, cho. Bố thí là đem năng lực vật chất như của cải tiền bạc của mình hiến dâng chia tặng cho người, hoặc đem trí tuệ như giảng nói các điều hay lẽ phải trong đời sống, đem các chân lý do Phật dạy giải thích lại cho người”
20/02/2025(Xem: 4775)
Kính thưa chư Tôn đức, chư vị thiện tâm và pháp hữu. 🌹☘ Dân gian VN mình có câu: ''Lễ lạy quanh năm, không bằng tạo Phúc rằm tháng giêng? '' Cùng trong ý niệm đó, xin chia sẻ với chư vị thiện pháp Rằm Thượng Nguyên tại quê nhà, qua lời tường trình của Ni Sư Thích nữ Huệ Lạc, thành viên của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề tại VN!
19/02/2025(Xem: 6696)
Phóng tác truyện Bản sanh - Eastern Stories and Legends Tác giả: Marie L. Shedlock Dịch giả: Nguyên Giác
16/02/2025(Xem: 12330)
Hành trình để đi đến thành công. Bài thơ được cảm tác khi đọc hành trình thành công của Tỷ Phú Mã Hoá Đằng người Trung Quốc , (sinh ngày 20/10 năm 1971), còn có biệt hiệu là Pony Ma, là một ông trùm kinh doanh Trung Quốc, nhà đầu tư, nhà từ thiện, kỹ sư, nhà doanh nghiệp về Internet và công nghệ. Hãy bắt chước Tỷ Phú Mã Hoá Đằng ( Pony Ma ) "sao chép có thể hiểu là học tập, là một kiểu tiếp thu, một kiểu lấy dài bù ngắn".
14/02/2025(Xem: 7851)
Kính gửi chư Tôn Đức, Đạo hữu Tịnh Thanh & quý vị hảo tâm Từ thiện. Được sự thương tưởng và hỗ trợ của chư Tôn đức và quí vị thiện hữu hảo tâm, chúng con, chúng tôi vừa thực hiện xong 5 giếng cần giục (Well hand-pump) cho những ngôi làng nghèo lân cận vùng núi Khổ Hạnh Lâm & các làng ven quốc lộ từ Bồ Đề Đạo Tràng đi Lộc Uyển Varanasi, tiểu bang Bihar India . Đây là Public Well Hand-pump nên cả làng có thể xài chung. Tiến trình khoan giếng của những người thợ Ấn Độ hoàn toàn bằng thủ công, không phải khoan bằng máy, khoan sâu từ 60, 90 chục mét mới có nước, vì vậy mà rất lâu mới hoàn tất được 1 giếng. Mong quý vị liễu trì và cảm thông cho nếu chúng con, chúng tôi có chậm trễ tường trình...
12/02/2025(Xem: 4698)
Một người cư sĩ có nên chất vấn một Phật tử, dù là nhà sư hay cư sĩ, rằng vị này có thuộc toàn bộ các giới hay không, và vị này có đang giữ trọn vẹn các giới hay không? Bài này sẽ viết trong cương vị một cư sĩ về thái độ của người cư sĩ khí có những nghi vấn về giới đối với bất kỳ một người tu học theo Phật giáo nào.
12/02/2025(Xem: 9030)
TẠO PHƯỚC BẰNG TẤM LÒNG và HỌC ĐỨC KHIÊM TỐN Bài # 3: Vô Úy Thí hay Bố Thí Vô Úy: Xin mời quý vị đọc 12 đoạn thơ 4 câu dưới đây và cùng chúng tôi thực tập: (1):Nên nhớ việc lành nhỏ chớ bỏ qua. Gom thu từng chút, dần dà nhiều lên. Ấy là “Năng nhặt, chặt bị” chớ quên. Phước nhiều, cuộc sống tăng thêm duyên lành. ***
11/02/2025(Xem: 11806)
Kính bạch Thầy , có nhìn lại tình thương của Thầy đối với Cụ Bà Tâm Thái mới thấy rất khó giữ được mối quan hệ của cha mẹ và con cái được kết nối chặt chẽ như thế này, mà trái lại ngày nay mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái thật lỏng lẻo. Sự thật là thế, con kính cảm tác bài thơ này. Kính ngưỡng mộ tâm đạo Hiếu của Thầy, và hy vọng con cháu của con được 50% của Thầy,
10/02/2025(Xem: 5874)
Hơn một thập niên sống và học đạo ở Na Lan Đà (Ấn Độ), pháp sư Nghĩa Tịnh đã ghi chép nhiều nhận xét về luật lệ cho tăng đoàn Phật giáo vào TK 7. Đây cũng là một mục đích chính của ngài sau 25 ở nước ngoài và hơn một thập niên du học ở Na Lan Đa (Ấn Độ). Phần này chú trọng vào điều 33 với tựa đề là “Tôn kính quai thức” 尊敬乖式 (tạm dịch/NCT các tục lệ/tôn kính ngược ngạo). Tuy điều 33 chỉ có 161 chữ, nhưng gồm nhiều khái niệm Phật giáo và dữ kiện rất đáng chú ý. Các ghi chép trong đó cho thấy hai bức tranh toàn cảnh của người thường (phàm/tục) phải trải qua giai đoạn xuất gia, sống một đời khất sĩ theo gương hạnh đầu đà để cuối cùng tìm đến niết bàn (vô sinh). Tương phản với người phàm sống trong tham vọng và xa xỉ, giả dối để mưu sinh. Ngoài ra, ảnh hưởng của Phạn ngữ không nhỏ trong văn hoá Trung Hoa, phản ánh qua các cách dịch nghĩa và kí âm còn tồn tại đến ngày nay; một số đã trở thành vốn từ căn bản của các ngôn ngữ bản địa mà ít người biết là có gốc 'ngoại lai'. Một số Hán và Phạ
10/02/2025(Xem: 8223)
Khi tiếng pháo đón chào năm mới 2025 chấm dứt, khi người Hòa Lan trở về với cuộc sống bình thường mỗi ngày thì đó lại là lúc người Việt Nam nơi đây chuẩn bị đón chào năm mới. Chúng ta đón Tết Nguyên Ɖán trong không khí gia đình, chúng ta không hưởng được không khí Tết ngoài đường phố, trong các cửa hàng như ở quê nhà.