Mùa Xuân Viễn Xứ

13/05/201312:48(Xem: 20327)
Mùa Xuân Viễn Xứ
Cho Trọn Mùa Xuân


Mùa Xuân Viễn Xứ

HT. Thích Đức Niệm
Nguồn: www.quangduc.com


mai-10Xuân đã về rồi ư? Xuân đã về sao không thấy hoa cười, lá tươi, khí trời mát dịu trong ánh xuân dương nắng ấm? Xuân đã về rồi ư? Xuân đã về sao không thấy người người thảnh thơi trong bộ áo mới, vẫn không thấy nụ cười hiển lộ trên đôi môi để đón mừng xuân? Xuân tết ở đây, trên đất khách quê người, không còn là xuân tết của những năm trước khi còn ở quê hương!

Xuân tết ở đây không mang màu sắc đặc tính nào giống với xuân tết quê hương khi tôi còn trên đất mẹ thương yêu! Người ta bảo nhau xuân tết đã đến rồi. Nhưng tôi lục lạo tìm mãi nơi lòng tôi và hướng mắt khắp nhìn ra khoảng không gian bốn bề cảnh vật, vẫn không tìm thấy nét xuân tết đâu cả! Nhìn ra cảnh vật bốn bề, thấy đâu đâu cũng cây cối trơ cành, cỏ hoa khô héo, khí trời buốt lạnh căm căm, nhà nhà vẫn giữ chặt cái vẻ âm thầm biệt lập như những hòn đảo lạnh trơ trên mặt đại dương! Ngoài đường, người người vẫn như thường ngày hấp tấp vội vã để đến sở làm cho kịp giờ! Cảnh vật chẳng những không xanh tươi gì hơn ngày thường mà còn đó đây hiện bày ra cảnh tượng tiêu điều cằn cỗi thê lương hơn nữa! Phải chăng khí trời tạo nên tiết mùa thay đổi, hay đó chỉ là bởi tại “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!?”

Kinh Hoa-Nghiêm, đức Phật nói: “Tâm như nhà họa sĩ tài ba hay vẽ vời ra muôn ngàn cảnh vật.” (Tâm như công họa sư, tạo chủng chủng chư pháp.) Cảnh vật ở đây không thấy chúa xuân xuất hiện, không thấy nàng xuân màu sắc uyển chuyển thướt tha hoa thắm lá xanh cành mai đào búp nụ, hay đó chỉ riêng nhãn quang của kẻ tha hương lòng xuân đã chết lịm từ lâu, bởi mang đầy lo âu uẩn khúc đau khổ trong môi trường vật chất cạnh tranh dẫy đầy phiền toái thị phi mà không bắt gặp nàng xuân? Tìm lại chính bản thân, tôi vẫn thấy lòng thản nhiên như dòng nước chảy, thường tại như những ngày qua, không cảm thấy chút nào hương sắc của trời xuân đâu cả, cũng không thấy bàng bạc đâu đâu cõi lòng rung động với nỗi vui mừng về ý nghĩa xuân tết trần gian.

Nhìn lên trời dày đặc lớp vi trần thán khí của kỹ nghệ nhả ra ngăn mờ ngàn sao đêm, không còn thấy ánh sáng tua tủa lấp lánh. Bốn bề vắng ngắt lạnh tanh không nghe thấy pháo nổ mừng đón giao thừa xuân tết. Cũng khôn thấy trước mỗi nhà có trang hoàng nét đặc thù gì thêm để tỏ dấu hiệu đón mừng xuân tết. Xuân ở đâu? Hay xuân đã chìm sâu trong nỗi lòng đau khổ nhớ thương của kẻ vong quốc tha hương? Cảnh đời vô thường, vạn vật vô tình hay chính mình đang sống trong lạc lõng bơ vơ:

Quê hương đâu phải nơi nầy
Ăn nhờ ở tạm cho ngày tháng qua
Lang thang khắp cõi Ta-bà
Xót thương cái kiếp hằng sa lạc loài

Giờ đây trọn gởi niềm đau, với nỗi xót thương hướng về bên kia Thái-bình-dương ngàn xa cách trở sâu thẳm trong mù sương, quê hương chìm trong sương khói mịt mù, nơi đó dẫy đầy lao tù đói khổ, người hành hạ người cùng chủng tộc không chút tiếc thương, và tôi đây chỉ còn sống lại những kỷ niệm tết của thời dĩ vãng, chứ thực tại thì xuân quê hương đã xa cách lắm rồi!

Làm sao có thể vui hưởng mùa xuân chân thật, khi lòng còn nặng trĩu xót xa cho quê hương đang còn rách nát, đồng bào quyến thuộc đang còn bị kềm kẹp dưới ách thống trị bất nhân vô luân của cộng-sản vô thần? Khi mà quê hương còn dẫy đầy lao tù, người người còn phải chịu cảnh sống chia ly thân bằng quyến thuộc; khi mà con ma đói nghèo còn bám chặt cấu xé thân xác đồng bào, người phải ăn bo bo khoai sắn như súc vật; người phải kéo cày thay trâu bò! Ngày nào còn những hiện tượng khủng khiếp hoành hành trên đất mẹ quê hương thì ngày ấy không thể nào có mùa xuân chân thật mang trọn ý nghĩa xuân tết Di-Lặc, xuân hạnh phúc được!

Làm sao có được mùa xuân Di-Lặc, khi mà trên quê hương đất mẹ còn nhan nhản cái cảnh chùa viện giáo đường bị ác quey62n chiế dụng, bị kiểm soát theo dõi, thầy bạn bị phản phúc tù đày, huynh đệ còn sống trong cảnh ngày ngày hồi hộp lo âu thiếu thốn cơ cực? Chừng nào những cực hình nầy còn tiếp diễn, thì chừng ấy vĩnh viễn không sao có thể nở được nụ cười xuân Di-Lặc. Khi mà hải ngoại còn phủ dày trược khí nghi kỵ, xuyên tạc, vu khống, ngụy tạo chụp mũ để bôi bẩn hại nhau, thì ánh xuân dương không cách nào hiển lộ trên bầu trời trong lành tươi mát.

Ánh xuân dương hiển lộ, hoa xuân phô sắc thắm, lòng người cảm thấy đầm ấm hòa vui, là chỉ khi nào con người biết sống thật với lòng mình, thành tâm nhìn nhận sự thật, tôn trọng sự thật và sống cho sự thật trong tình ngưòi tương thân tương kính. Một khi tôn trọng sự thật là biết chọn lấy lẽ sống tiến bộ, là can đảm vất bỏ cặp kính màu vào thùng rác, là cất bước tiến lên quang lộ thánh thiện để thực hiện mùa xuân hạnh phúc cho mình và đồng loại. Đấy là yếu kiện cần thiết để hợp quần Diên-Hồng người người nhất trí với lòng thương chân thật trong cùng ý chí sắt son, thì lúc đó chủ thuyết phi nhân vô đạo ngoại lai vong bản sẽ không còn lý do tồn tại. Đấy là cơ hội để quang phục tổ quốc, xây dựng quê hương thương yêu trong tình tương thân tương kính tương trợ đồng bào đồng chủng.

Nhưng thực tế lại quá đỗi phũ phàng! Nghiệp dân vận nước vẫn còn miên man truân chuyên, bởi lòng người chưa thức tỉnh về một bài học nguyên nhân của sự bỏ nước ra đi mang kiếp sống tha hương! Khi nào trên đất mẹ sạch hết những đứa con vong bản vô minh sùng bái chủ nghĩa phi nhân vô đạo; khi nào người Việt biết thương nhau xả bỏ tỵ hiềm không làm tay sai cho các thế lực vô minh; khi nào toàn dân Việt biết trở lại sống với đạo lý truyền thống ngàn xưa của thời Đinh, Lê, Lý, Trần, thì dân tộc mới hòng có cơ độc lập tự chủ, hào quang xuân hạnh phúc mới thật sự rạng chói trên quê hương, tình chủng tộc mới thật hài hòa vui tươi. Lúc đó mọi người ai nấy tự tại sống lại trên đất mẹ thân yêu, chấm dứt mùa xuân viễn xứ tha hương, mới thật sự sống trong mùa xuân hạnh phúc của thời Lý, Trần. Ấy là mùa xuân hạnh phúc, mùa xuân dân tộc truyền thống ngàn đời của tổ tiên.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/02/2021(Xem: 11363)
Hình ảnh con trâu tượng trưng cho tâm ý của chúng sinh. Mỗi người ai cũng đều có một con “trâu tâm" của riêng mình. Và cứ như thế pháp chăn trâu được nhiều người sử dụng, vừa tự mình chăn vừa dạy kẻ khác chăn. Vào cuối thế kỷ mười ba, thời nhà Trần, trong THIỀN MÔN VIÊT NAM xuất hiện một nhân vật kiệt xuất. Đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Tung, ông là một thiền sư đắc đạo. Ông là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền và có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử này.
08/02/2021(Xem: 10054)
Sau khi đạt được Giác ngộ, Đức Phật nêu lên Bốn Sự Thật và sự thật thứ nhất là "Khổ đau". Khổ đau ẩn chứa trong thân xác, bàng bạc trong tâm thức của mỗi cá thể con người và bùng ra cùng khắp trong thế giới: bịnh tật, hận thù, ích kỷ, lường gạt, đại dịch, bom đạn, chiến tranh... Sự thật đó, khổ đau mang tính cách hiện sinh đó, thuộc bản chất của sự sống, gắn liền với sự vận hành của thế giới. Sự thật về khổ đau không phải là một "phán lệnh" hay một cái "đế", cũng không mang tính cách "kỳ diệu" gì cả, mà chỉ là một sự thật trần trụi, phản ảnh một khía cạnh vận hành của hiện thực.
07/02/2021(Xem: 11515)
Nhà thiền có danh từ Tọa Xuân Phong để diễn tả hạnh phúc khi thầy trò, đồng môn, được ngồi yên với nhau, không cần làm gì, nói gì mà như đang cho nhau rất đầy, rất đẹp. Danh từ đó, tạm dịch là “Ngồi Giữa Gió Xuân” Mùa Xuân chẳng phải là mùa tiêu biểu cho những gì hạnh phúc nhất trong bốn mùa ư? Hạ vàng nắng cháy, vui chơi hối hả như đàn ve sầu ca hát suốt mùa để cuối mùa kiệt lực! Thu êm ả hơn, nhưng nhìn mây xám giăng ngang, lá vàng lả tả, tâm- động nào mà không bùi ngùi tưởng tới kiếp nhân sinh?
07/02/2021(Xem: 9825)
Chú mục đồng chậm rãi bước xuống sông. Bên cạnh chú, con trâu lớn nhất đàn ngoan ngoãn xuống theo. Đôi mắt hiền lành của nó nhìn chú như mỉm cười, tin tưởng và thuần phục. Những con trâu bé hơn lại nhìn bước đi vững chãi, an lạc của con trâu đầu đàn mà nối nhau, cùng thong thả qua sông. Đây là khúc sông cạn mà chú đã dọ dẫm kỹ lắm. Đáy sông lại không có những đá nhọn lởm chởm có thể làm chân trâu bị thương. Bên kia sông, qua khu rừng có những cội bồ đề râm mát là tới đồng cỏ rộng. Mùa này, sau những cơn mưa, cỏ non vươn lên xanh mướt, đàn trâu gồm bẩy con mà chú có bổn phận chăm sóc tha hồ ăn uống no nê sau những giờ cực nhọc cầy bừa ngoài đồng lúa.
07/02/2021(Xem: 14312)
Khi những cơn bảo và áp thấp nhiệt đới hung hãn nhất vừa tạm qua đi, khí trời phương Nam cũng trở buồn se lạnh. Nhiều người cho đó là hoàn lưu của những cơn bão miền Trung mà tất cả con dân “bầu bí chung dàn” vẫn còn đang hướng về chia sẻ, nhưng ít người nhận ra rằng đó chính là cái se lạnh của mùa đông phương Nam, báo hiệu mùa xuân sắp đến nơi ngưỡng cửa của bộn bề lo toan hằng năm.
06/02/2021(Xem: 15355)
Mười bức “Tranh Chăn Trâu” trong phần này là của họa sư Nhật Bản Gyokusei Jikihara Sensei, vẽ vào năm 1982 nhân một cuộc thăm viếng thiền viện Zen Mountain Monastery ở Mount Tremper, New York, (Hoa Kỳ). Họa sư vẽ để tặng thiền viện. Các bài thơ tụng thời nguyên gốc của thiền sư Quách Am viết vào thế kỷ thứ 12. Thơ tụng được chuyển dịch ở đây bởi Kazuaki Tanahashi và John Daido Loori, sau đó được nhuận sắc bởi Daido Loori để mong tạo lập ra những hình ảnh và ẩn dụ cho thêm giống với phong cảnh núi sông ở quanh thiền viện Zen Mountain Monastery. Thiền sư Daido Loori là người lãnh đạo tinh thần và là tu viện trưởng của thiền viện này.
04/02/2021(Xem: 14195)
Hôm qua mình có giới thiệu cuốn sách Buddhism in America (Phật Giáo Mỹ) của Richard Hughes Seager. Có bạn hỏi thêm muốn tìm hiểu Phật Giáo Mỹ nên nhờ mình giới thiệu vài cuốn. Nghĩ rằng đây là câu hỏi hay nên mình xin viết giới thiệu 7 cuốn sách để nhiều người lợi lạc. 1. Cuốn The Faces of Buddhism in America (Diện Mạo của Phật Giáo ở Mỹ) do Charles Prebish 2. Buddhist Faith in America (Đức Tin Phật Giáo ở Mỹ) tác giả Michael Burgan 3. Buddhism in America của Richard Huges Seager (1999, tái bản 2012) 4. Buddhism in America của Scott Mitchell 5. Altered Traits: Science Reveals How Meditation Changes Your Mind, Brain, and Body, 2017 6. A Mindful Nation: How a Simple Practice Can Help Us Reduce Stress, Improve Performance, and Recapture the American Spirit, 2012, 7: American Dharma: Buddhism Beyond Modernity
01/02/2021(Xem: 10932)
Tại các nước nông nghiệp hình ảnh con trâu với đứa trẻ chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo là một hình ảnh quen thuộc thường gắn liền với đời sống của người dân. Tại Việt Nam, từ lâu hình ảnh này đã đi vào tâm thức mọi người và không chỉ có giá trị trong đời sống lao động thực tiễn mà còn nghiễm nhiên đi vào lãnh vực văn học nghệ thuật nữa. Trong văn học Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng thời hình ảnh con trâu với trẻ mục đồng đã trở thành thi liệu, biểu tượng, thủ pháp nghệ thuật. Những hình ảnh này hiển hiện trong truyền thống kinh điển cũng như được đề cập đến nhiều lần trong những thời pháp của đức Phật khi Ngài còn tại thế.
01/02/2021(Xem: 20570)
Vào thời thái cổ, theo truyền thuyết Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Ngủ Lĩnh ( nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung quốc ). Vua Đế Minh đã dừng chân tại nơi nầy, ngài cưới Vu Tiên nữ con vua Động Đình Hồ làm vợ. Đế Minh sinh được một trai tư chất thông minh ngài đặt tên Lộc Tục. Vào năm 2879 trước tây lịch ( khoảng thế kỷ thứ 7 TCN ) Đế Minh phong cho con làm vua ở phương Nam. Lộc Tục lên ngôi xưng đế hiệu Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ ngài đóng đô tại Phong châu.
01/02/2021(Xem: 11110)
Kinh Phật đầu tiên là kinh Hoa Nghiêm, kinh Phật cuối cùng là kinh Đại Bát Niết Bàn. Chúng ta học hai kinh nầy để nắm trọn lịch trình của đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn thường gọi là Niết Bàn là kinh vừa kể lại lịch sử đức Phật trước khi nhập diệt vừa là kinh nói về lời giáo huấn cuối cùng của ngài. Vừa tâm lý tình cảm vừa là lời nhắn nhủ sau cùng của Phật cho đạo tràng như người cha trăn trối cho con tiếp tục theo đường đi của ngài. Đời thế gian của Đức Phật khi sinh ra vì bào thai to lớn quá phải giải phẩu bụng của mẹ ngài nên mất máu mà mất sớm, ngài sống qua sự nuôi dưỡng của người dì em của mẹ.