II.

11/03/201104:02(Xem: 13124)
II.

NHỮNG GIAI THOẠI HUYỀN BÍ
Nguyễn Hữu Kiệt dịch, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

CHƯƠNG BẢY: NỮ TU SĨ MAJI

II.

Ngày hôm sau, sau khi ăn điểm tâm, chúng tôi lên xe để đến viếng đạo viện của bà Maji, một vị nữ tu sĩ rất nổi tiếng, làu thông kinh điển Phệ-đà. Bà ở trong một động đá dưới hầm của đạo viện, nằm bên bờ sông Hằng, cách thành phố Ba-la-nại độ hai dặm. Bà thừa kế đạo viện này của thân phụ bà, vốn là một Yogi, cùng với một ngôi nhà trong thành phố và một thư viện Phạn ngữ rất phong phú và quý giá.

Đó là một nơi ẩn cư rất tĩnh mịch, nhất là vào buổi sáng sớm, và rất thuận lợi cho việc công phu thiền định. Tọa lạc bên bờ sông, độ mười lăm thước cao hơn mặt nước, và được che khuất dưới những lùm cây cổ thụ, thật là một nơi đạo viện lý tưởng có phong vị thần tiên khi chúng tôi ngồi trên bệ đá dưới những gốc hòe nở hoa đỏ thắm, cành lá sum suê rậm rạp và luận đàm về đạo lý với nhà nữ tu trí thức này.

Đó là một trong những kinh nghiệm kỳ thú nhất của chúng tôi trên đất Ấn Độ, mà người quen sống ở các xứ Tây phương không bao giờ có thể tưởng tượng được.

Hồi ấy, bà Maji trạc bốn mươi tuổi, màu da lợt, với một phong độ trang nghiêm và cốt cách lịch sự làm cho người ta phải kính nể. Bà có một giọng nói dịu dàng, gương mặt và thân hình đầy đặn, đôi mắt tinh anh biểu lộ sự thông minh và đức tính quả cảm, cương nghị. Bà từ chối không biểu diễn phép thuật thần thông, như chúng tôi vẫn luôn yêu cầu các nhà đạo sĩ trong những dịp tương tự. Những lý do từ chối của bà đều được tất cả các bạn trong nhóm chúng tôi chấp nhận là đầy đủ, và cuộc thăm viếng vẫn có ảnh hưởng thuận lợi cho tất cả mọi người.

Tôi không biết rằng bà có khả năng thực hiện phép mầu hay không, nhưng vốn là một tín đồ chân chính của triết học Vedanta, bà mạnh dạn chỉ trích sự dại khờ của những kẻ ham mê các trò chơi ấu trĩ ấy, thay vì để tâm hồn được yên tĩnh vắng lặng như nền đạo lý cổ truyền từ nghìn xưa vẫn luôn khuyên nhủ các môn sinh trên đường tầm đạo. Dù đi đến bất cứ nơi nào trên đất Ấn Độ, người ta luôn luôn nhận biết được kinh nghiệm đó. Những nhà tu khổ hạnh cao siêu nhất vẫn luôn từ chối không biểu diễn những quyền năng thần bí, trừ phi trong những trường hợp rất đặc biệt. Những ai biểu diễn phép thuật nhiệm mầu bị xem như thuộc hạng thấp kém, chẳng hạn như các nhà phù thủy Hắc phái, họ chỉ được sự bảo trợ và trọng vọng của những người thuộc các giai cấp hạ tiện.

Vài ngày sau, vị nữ tu Maji đến viếng thăm trả lễ bà Blavatsky. Việc ấy gây sự ngạc nhiên trong các giới Ấn Độ, và chúng tôi được cho biết rằng đây là một điều rất lạ thường, vì vị nữ tu này hiếm khi đích thân đến viếng một người nào khác ngoài tôn sư của bà, còn việc bà đến viếng thăm một người Âu thì chưa từng có.

Tôi cảm thấy một sự say mê thích thú về nữ tu sĩ này do những chuyện mà tôi đã nghe kể lại về bà, và thật sự tôi đã đến viếng bà mỗi khi có dịp ghé qua thánh địa Ba-la-nại. Lần cuối cùng tôi đến viếng bà là cùng với bà Annie Besant và nữ bá tước Wachtmeister. Trong nhiều năm, tôi vẫn tin rằng bà là một siêu nhân.

Trong cuộc viếng thăm của bà lúc ấy, bà vẫn là một người hoàn toàn xa lạ đối với chúng tôi, và theo chỗ chúng tôi biết, không một người nào đã từng nói cho bà biết chúng tôi là ai, trừ ra chúng tôi tự giới thiệu trong dịp đến viếng đạo viện của bà lần đầu tiên. Tuy vậy, bà đã nói cho các bạn đạo cùng đi với tôi, trong một dịp bà Blavatsky vắng mặt, nghe một chuyện dị kỳ về bà Blavatsky. Bà nói rằng thể xác của bà Blavatsky đã được một nhà đạo sĩ Yoga mượn tạm vì mục đích phổ biến Triết học Đông phương. Đó là cái thể xác thứ ba mà nhà đạo sĩ đã dùng vào mục đích ấy, và thời gian ông ta đã trải qua trong ba cái thể xác đó, cộng chung lại là độ một trăm năm mươi năm.

Trong một chuyến đi Calcutta nhiều năm sau đó, tôi đã đến khu ngoại ô Bhowanipore để viếng Maji, trong dịp bà từ Ba-la-nại đến đây để viếng thăm một bạn đạo là Nobin Bannerji tại nhà ông này. Tôi đã hội kiến với bà hằng ngày trong thời gian hai tuần ở Calcutta và rất thích thú mà nghe lời thuyết giáo của bà. Bà lúc nào cũng có một số người tầm đạo vây quanh, và những lời giải đáp thắc mắc của bà luôn biểu lộ một học lực uyên thâm, sâu sắc. Phong thái hấp dẫn và giọng nói dễ mến của bà làm cho bà càng thêm đắc nhân tâm và được nhiều người ngưỡng mộ.

Sau hết, còn có sự hấp dẫn của những năng lực thần bí, thường được gán cho những đạo sĩ chân tu ở Ấn Độ, một di sản còn sót lại của những truyền thống từ thời đại cổ xưa. Những quyền lực đó, bà Maji hẳn là phải có đến một mức độ nào, bởi vì chúng ta đã thấy rằng lần gặp gỡ đầu tiên giữa bà với chúng tôi hồi năm 1879, trước khi người ta được biết gì về sự liên hệ giữa bà Blavatsky với hai vị chân sư, bà Maji đã nói với tôi những điều về các ngài mà không ai có thể nói lại cho bà biết, và trong tập nhật ký của bạn Damodar có ghi rằng bà đã làm cho ông ta vô cùng ngạc nhiên với những lời tiết lộ của bà về nhà huyền học T. Subba Rao và về những nhân vật khác nữa.

Sau khi bà Maji từ Calcutta trở về đạo viện của bà ở Ba-la-nại, chúng tôi đã có dịp trở lại viếng thăm bà lần nữa, nhưng không ngờ đây là lần cuối, vì sau đó ít lâu chúng tôi được tin bà từ trần.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/06/2013(Xem: 7589)
Danh Sách Phật Tử tham dự Phái Đoàn Hành Hương Chiêm bái Thánh Tích Ấn Độ - Đài Loan Do Tu Viện Quảng Đức Tổ Chức (ĐĐ Nguyên Tạng hướng dẫn đoàn, từ ngày 8-29/11/2006)
18/06/2013(Xem: 36274)
In the long way history of Buddhism, an ancient and profound religion which has been constantly developing and modernising, Buddhist architecture has been changing increasingly both in form and content.
17/06/2013(Xem: 7543)
Sinh năm 1953 tại Đà Nẵng, nhưng ngay từ nhỏ, Võ Văn Tường đã sinh sống cùng gia đình ở Huế. Vì vậy chất Huế đã in đậm trong người đàn ông hiện đang sinh sống và làm việc tại TP.HCM. Được cha cho chiếc máy chụp ảnh điện tử, nhưng mãi đến năm 14 tuổi, Tường mới biết chụp bức ảnh đầu tiên là cảnh chùa Báo Quốc.
17/06/2013(Xem: 7091)
Kính thưa quý Phật tử trong phái đoàn hành hương, không còn bao lâu nữa chúng ta sẽ lên đường để chiêm bái Thánh Tích Ấn Độ. Ban Tổ Chức xin gởi thông báo số 3 này đến quý Phật tử để giúp cho quý vị chuẩn bị và sắp xếp các công việc cần thiết như sau...
17/06/2013(Xem: 6689)
Ban Thủ Quỹ chúng con xin báo cáo tổng kết về số tiền mà phái đoàn đã phát tâm cúng Dường Tam Bảo & Bố Thí người nghèo tại Ấn Độ và tuần sau sẽ lần lượt cúng dường các chùa ở Đài Loan, chi tiết đã được ghi nhận như sau.
17/06/2013(Xem: 6708)
Tán Dương Công Đức Thành Viên Trong Phái Đoàn Hành Hương
17/06/2013(Xem: 5947)
Từ tháng 3 năm 2011 đến nay, đã có tới 12 vị Tăng, Ni Tây Tạng, phát đại nguyện tự thiêu, lấy thân mình làm ngọn đuốc thắp sáng lương tri chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh, kêu gọi sự quan tâm của nhân loại yêu chuộng công lý và hòa bình đối với chính sách đàn áp tôn giáo và tiêu diệt văn hóa Tây Tạng của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc.
14/06/2013(Xem: 6701)
Khởi hành từ Úc (Local Airport-Sydney-Taiwan-Delhi), Phật tử từ Melbourne, Brisbane, Adelaide, Perth...phải đáp chuyến bay nội địa đến Sydney lúc 6pm chiều ngày 17-11 để kịp lên máy bay quốc tế lúc 9pm để bay đi Đài Loan. Khởi hành từ Canada, Mỹ-Vietnam (Local Airport-Los Angeles/San Francisco/Saigon-Taiwan-Delhi) lúc 6pm chiều ngày 16-11 để kịp lên máy bay quốc tế lúc 11pm để bay đi Đài Loan.
14/06/2013(Xem: 9520)
Hành Hương Chiêm Bái Phật Tích Ấn Ðộ 2006 (Tu Viện Quảng Ðức tổ chức)
05/06/2013(Xem: 7660)
Trước nhất, chúng tôi xin thân gởi đến quý Thân Hữu, quý Phật Tử gần xa, lời tán thán công đức luôn nhắc nhở khuyến khích chúng tôi viết quyển sách này. Những vị này đã nghe tôi kể lại tỉ mỉ cuộc hành trình nơi xứ Phật, những điều mắt thấy, tai nghe và đi tìm hiểu phong tục tập quán lạ, cũng như vào trong làng sâu, gần như chưa có sách nào đề cập đến.