Quyển 22

25/01/201509:20(Xem: 3911)
Quyển 22

ĐẠI VIỆT SỬ THI

(30 quyển)

Chủ đề:  Việt Nam Lịch sử Diễn ca

Tác giả: BS. Hồ Đắc Duy

 

QUYỂN 22

THIỆU TRỊ HOÀNG ĐẾ ( 1841- 1847)
 
Năm canh Tý (1840) khi ngài tạ thế
Cho đòi Trương Đăng Quế vào cung
Rước hoàng thái tử Miên Tông
Chiếu theo di mệnh tấn phong ngôi trời
 
Vua lúc đó tuổi vừa băm bốn
Người thông minh tính vốn ôn hòa
Văn chương đáng bậc tài hoa
Siêng năng lo việc quốc gia suốt ngày
 
Ông là con thứ hai Minh Mạng
Nối ngôi cha cáng đáng việc triều
Dưới tay quan chức cũng nhiều
Trung thành giúp rập mọi điều tận trung
 
Tạ Quang Cự hợp cùng Xuân Cẩn
Nguyễn Tri Phương binh trấn Cao Man
Trương Đăng Quế bậc cận thần
Lại thêm Công Trứ cầm quân vững vàng
 
Ở Trấn Tây, Thổ Man quấy rối
Trương Minh Giảng trở lại đất Miên
Xuy, Sức dấy loạn Kiên Giang
Nhiều nơi nổi dậy như đàn ong ve
 
Vua đã phê bãi binh ra khỏi
Đất Cao Man tạm thối lui quân
An Giang di tản rút dần
Dựng thêm đồn lũy bên phần đất ta
 
Theo quân đi vượt qua biên giới
Trương Minh Giảng khi tới An Giang (1841)
Thẹn mình hờn giận ngổn ngang
Cáo đau, thác bệnh, suối vàng quyên sinh
 
Nước Chân Lạp bị Xiêm chiếm đóng (1845)
Dân thổ cư tìm sống sang ta
Khẩn cầu Nam Việt kéo qua
Sai Võ Văn Giai điều tra tình hình
 
Uẫn kéo binh dẫn đầu đi trước  
Chỉ vài ngày lấy được Nam Vang
Trấn Tây quân Việt chận đường
Quân Xiêm hốt hoảng đầu hàng khắp nơi
 
Tướng Chất Tri sai người đến báo (1845)
Xin nghị hòa xếp giáo bãi binh
Hứa lui về lại nước mình
Trấn Tây trả lại với thành Nam Vang
 
Nguyễn Tri Phương truyền thu binh để
Năm Đinh Mùi (1847) làm lễ tấn phong
Ngôi vua cho Nặc ong Đôn
Vua ta xuống chiếu vương phong cho người
 
Ở phương Nam trong ngoài tạm ổn
Việc đê điều là vốn nỗi lo
Bắc thành, Thanh Hóa lụt to (1846)
Truyền cho tu sửa để trừ lụt dâng
 
Bảo đại thần ở kinh và tỉnh
Nạn lũ trôi bàn tính cho xong
Cửu An đắp đập khơi sông
Đắp thêm đất mới nới lòng mặt đê
 
Vua sai mở khoa thi võ học (1846)
Cho khắc truyền ấn quốc Đại Nam
Văn Quan khai được mỏ vàng (1843)
Kiểm tra dân số kho tàng quốc gia (1841, 1847)
 
Đào Trí Phú đi qua Pháp để (1843)
Thảo luận về mua chiếc Điện Phi
Chiếc tàu hiện đại khó bì
Vận tốc cực mạnh ngay khi khởi hành
 
Tạo mẫu riêng cân đai phẩm phục
Lập công thức việc đúc súng đồng (1846)
Mời người đạo đức vào trong
Giúp dân khai hóa việc chung góp phần
 
Nền ngoại giao kết thân các nước
Đất Trung Hoa vẫn được quan tâm
Sang Tàu sứ cử sang thăm
Bắc Kinh phó hội từ năm Nhâm Dần (1842)
 
Người Nam Bân nước là Thủy Xá (1846)
Cũng chọn làm sứ giả dưa sang
Chiêm Thành lại muốn tiến dâng
Ta cho hai nước được làm phiên vương
 
Ở Tây phương như Anh Cát Lợi (1845)
Sai sứ qua muốn nối bang giao
Nhân khi nước ấy có tàu
Gặp cơn bão biển trôi vào nước ta
 
Tháng tám qua có nhiều tàu chiến (1847)
Của nước Anh đến biển Tourane
Quốc thư cống phẩm đưa sang
Mong ta chấp thuận giao thương nước ngoài
 
Những năm trước mật sai chỉ dụ
Các tỉnh thành theo dõi giáo dân
Thừa sai thì phải theo chân
Âm mưu phản động phải ngăn kịp thời
 
Nhưng tới đời nguyên niên Thiệu Trị
Lệnh cấm đạo nới nhẹ ít nhiều
Favin đại diện Pháp triều
Xin cho giảm án người theo đạo này
 
Vua Thiệu Trị một người nhân ái
Tha năm người vì nghĩa tiên quân
Thuở xưa họ đã theo chân
Phò Vương trong cảnh khốn cùng thất cơ
 
Cuộc giao hảo ban sơ khởi việc
Pháp cử sang hai chiếc chiến thuyền
Quốc thư chữ Hán dâng lên
Xin vua cho phép được truyền thánh kinh
 
Bỗng đang khi điều đình thương lượng
Thuyền của Tây nổ súng vào ta
Giương buồm vượt biển chạy xa
Vua quan nổi giận liền ra lệnh này
 
Xuống chỉ dụ : cấm ngay truyền đạo
Bắt những người che dấu Thừa Sai
Giáo dân, giám mục nhiều nơi
Nổi lên chống đối lệnh này của vua
 
Ít có vua như là Thiệu Trị
Ông cũng là học sĩ uyên thâm
Lắm khi cùng với quần thần  
Đông Tây kim cổ luận bàn việc xưa
 
Là nhà thơ có nhiều tác phẩm
Cũng là người có lắm bài hay
Vua ra câu đố đến nay
Chưa ai giải được chuyện này thật không ?
 
Đó là bài Vũ Trung Sơn Thủy
Được ra đề theo kiểu hồi văn
Liên hoàn một chút khó khăn
Đọc thành sáu bốn (64) trắc bằng ra thơ
 
Bài thơ xưa nay treo ở viện  
Lúc trước kia gọi viện Long An
Ngày nay thuộc viện bảo tàng
Nằm trong thành nội ở gần Hiễn Nhơn
 
Vua Thiệu Trị khi còn tại thế
Làm những điều đáng kể sau đây
Rút quân ra khỏi trấn Tây
Đào sông đắp đập định ngày khai thông
 
Chỉnh đốn lại trong cung ngoài điện
Khẩn hoang vùng dọc biển miền Nam
Dạy điều nhân nghĩa khai tâm
Kiểm tra dân số để làm thống kê

(Tiếp theo) QUYỂN 22

TỰ ĐỨC HOÀNG ĐẾ ( 1847- 1885)
 
Thái tử Thì lên ngôi hoàng đế  
Tên Hồng Nhậm hậu duệ Gia Long
Được phong là Phước Tuy Công
Niên hiệu Tự Đức nối dòng Nguyễn Vương
 
Hưởng ngai vàng tuổi đương mười chín
Dáng mảnh người bản tính thư sinh
Hiền lành nhân hậu chí tình
Khiêm cung hiếu thuận thông minh hơn người
 
Đối với me,là người hiếu thảo
Việc nước nhà thường báo cho hay
Chép riêng lời mẹ hằng ngày
Quyển Từ huấn lục trong tay xem dần
 
Các đại thần như Phan Thanh Giản
Nguyễn Tri Phương còn vẳng tiếng thơm
Triều thần một dạ sắt son
Hoàng Diệu tuẫn tiết một lòng trung quân
 
Vua là người văn hay chữ tốt
Để lại đời ngót một ngàn trang
Khi vui xướng họa thơ văn
Thức khuya dậy sớm siêng năng việc triều
 
Sức thì yếu việc nhiều không xuể  
Nên nhà vua chẳng thể đi xa
Dân tình chỉ được nghe qua
Còn như kinh lý quả là hiếm hoi
 
Sức khỏe ngài là điều bí ẩn
Vợ thì nhiều mà vẫn không con
Tuổi cao lực đã cạn mòn
Lựa người nối nghiệp nuôi con em mình
 
Triều Tự Đức thịnh hành Nho học
Kẻ đương thời thích đọc từ chương
Văn thơ câu nệ khoa trường
Bế quan tỏa cảng ngày càng thoái lui
 
Xuống chiếu sai định thêm các ngạch
Với văn bằng thì đặt như sau
Thủ khoa, Bảng nhãn đỗ đầu
Thám hoa, Hoàng giáp đứng sau loại này
 
Gọi Tiến sĩ liền ngay sau đó
Thêm cử nhân, chót đổ Tú Tài (1847 , 1851)
Đích thân vua chọn người hay
Tấn phong quan Trạng trong ngoài xướng danh
 
Vừa hoàn thành "Đại Nam Hội Điển" (1856)
Ghi các điều Chế, Chiếu, Biểu, Nghi
Các điều lệ định trường quy
Chính danh mọi việc dễ bề an dân
 
Lập nhà thờ Hiền Thần, Trung Nghĩa (1857)
Lại cho tìm hậu duệ các quan
Thành, Chất, Văn Duyệt hàm oan
Nay cho con cháu chức hàm, tước quan
 
Hồi Tây Sơn có Võ Trường Toản (1852)
Một danh sư ở ẩn giữa đời
Học trò lắm kẻ nên người
Vua phong Tố Đức lập nơi để thờ
 
Mấy năm đầu triều vua Tự Đức
Một vài nơi cướp giựt nổi lên
Cao Bằng thổ phỉ phía trên
Nông dân làm loạn dưới miền Hải Dương
 
Ở Mỹ Lương có Lê Duy Cự
Được tôn làm Soái Chủ vùng này
Quân sư Bá Quát dưới tay
Chiêu quân chiếm lấy Sơn Tây bấy giờ
 
Cao Bá Quát nhà thơ lỗi lạc
Người Gia Lâm , Kinh Bắc ngoại thành
"Chu Thần Thi Tập" nỗi danh
Nói lên được cái nhân sinh bấy giờ
 
Là quân sư cho Lê Duy Cự
Bị tuyên án xữ tử chém treo
Ghép vào tội phản Hòang Triều
Giúp quân phiến lọan làm điều tác oai
 
Sau biến cố dưới thời Thiệu Trị
Vua Tự Đức nghiêm trị nhiều hơn
Luật ra cấm đạo trong dân
Với điều phân sáp giam cầm biết tay
 
Ba Giám Mục là dân nước Pháp
Bị triều đình xử phạt tận tình
Bắt giam riêng biệt một nơi
Rồi đem xữ giảo từng người răn đe
 
Tin thảm sát bay về Pháp Quốc
Nã Phá Luân lập tức ra quân
Binh thuyền sửa soạn đưa sang
Dọn đuờng xâm lược dần dần nước ta
 
Montigny cử qua thương thuyết
Đến Đại Nam xin để bang giao
Cửa Hàn thuyền chiến theo vào
Sứ thần của Pháp dâng thư lên ngài
 
Vua từ chối truyền sai chuẩn bị
Lập đồn lũy bố trí tuần tra
Thần công đặt vịnh Sơn Trà
Cửa Hàn cửa Thuận quân ta canh phòng
 
Tàu của Pháp vào trong Cửa Thuận
Đi lòng vòng do thám nước ta
Có khi đến bải Sơn Chà
Thường xuyên lảng vảng xa xa bên ngoài
 
Ở Biên Hòa cho người lên bộ
Đến Quãng Bình neo lại điều nghiên
Rồi qua Nam Định , Thái Bình
Lên bờ khảo sát địa hình ra sao

(Tiếp theo) QUYỂN 22

PHÁP ĐÁNH ĐÀ NẲNG (1858)
 
Nã Phá Luân mỡ đầu cuộc chiến
Cử đi ngay pháo hạm chiến thuyền
Genouilly Trung Tướng toàn quyền
Ba ngàn lính thủy được đem theo cùng
 
Espagnol hợp chung với Pháp
Hội ý nhau bèn lập liên quân
Quảng Nam trực chỉ dong buồm
Ra sức bắn phá hạ đồn An-Ton (1858)
 
Lê Đình Lý cùng quan Đào Trí
Dàn binh vùng Cẩm Lệ giao tranh
Chẳng may trúng đạn trên thành
Rút về hậu cứ chia quân chặn đường
 
Nguyễn Tri Phương tăng cường giữ ải
Đồn Liên Trì, An Hải, Trấn Quan
Dằng dai lựa thế cầm chân
Lính Tây bệnh dịch thất thần rút ngay

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 46713)
Hồng Bàng thị. Đầu là Kinh Dương Vương, tương truyền là vua trước tiên của nước Việt ta. Kinh Dương Vương sinh Lạc Long Quân. Hùng Vương là con Lạc Long Quân. Nguyên xưa, Đế Minh, cháu ba đời Viêm đế Thần Nông thị1, đi tuần sang Nam, đến Ngũ Lĩnh2, lấy Vụ tiên nữ, sinh con là Lộc Tục có đức tính hoàn toàn. Đế Minh yêu Lộc Tục lắm, muốn truyền ngôi cho, nhưng Lộc Tục cố nhường cho anh là Nghi. Bấy giờ mới lập Đế Nghi làm vua nối ngôi, thống trị phương Bắc (Trung Quốc), phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, thống trị phương Nam.
09/04/2013(Xem: 25507)
Vua Thái-tổ Cao-Hoàng-đế của ta, ứng Trời, thuận người, nhân thời mở vận, khởi nghĩa ở núi Lam, quét nhanh lũ giặc Minh. Kịp khi Kiền-khôn đã trở lại như cũ, Vũ-trụ đã thay-đổi sang mới, khi ấy mới làm sách "Thực lục". Trong đó: nào ý trời xui-khiến, nào việc người chăm-nom; nào vì nghĩa cất quân; nào ra nguy vào hiểm; nào khi lấy ít địch nhiều; nào khi lấy thực đánh hư; nào khi làm giấy tờ phản-gián để quấy-rối tình giặc; nào khi lấy lời-lẽ phủ-dụ để yên-ủi lòng dân.
09/04/2013(Xem: 15678)
Vua Thái-tổ Cao-Hoàng-đế của ta, ứng Trời, thuận người, nhân thời mở vận, khởi nghĩa ở núi Lam, quét nhanh lũ giặc Minh. Kịp khi Kiền-khôn đã trở lại như cũ, Vũ-trụ đã thay-đổi sang mới, khi ấy mới làm sách "Thực lục". Trong đó: nào ý trời xui-khiến, nào việc người chăm-nom; nào vì nghĩa cất quân; nào ra nguy vào hiểm; nào khi lấy ít địch nhiều; nào khi lấy thực đánh hư; nào khi làm giấy tờ phản-gián để quấy-rối tình giặc; nào khi lấy lời-lẽ phủ-dụ để yên-ủi lòng dân.
09/04/2013(Xem: 18699)
Thiền uyển tập anh, sao dùng nghĩa đó? Xin thưa, dùng sự anh tú của nó làm nghĩa vậy. Sao thế? Người theo Thiền tôn cố nhiên là nhiều, nhưng kẻ biết lẽ huyền thật ra lại hiếm: chính như một con phụng giữa bầy gà, một cây lan trong đám cỏ. Nếu chẳng phải phú bẩm anh dị, tri kiến siêu quần, làm sao thấu được ý chí huyền vi, để có thể làm lãnh tụ cho kẻ hậu học và mô thức cho người đời sau?
09/04/2013(Xem: 40187)
Từ khi được hoàn thành đến nay, Việt Điện U Linh Tập đã gây một tiếng vang không nhỏ trong giới văn học Việt Nam, mặc dầu chưa được khắc in một cách chính thức, tác phẩm đã được sao đi chép lại nhiều lần, đã được các học giả tiếm bình, tăng bổ, tùng biên, trùng bổ, đã trở thành những bản thần tích của nhiều thần từ miền trung châu và nhất là đã cung cấp nhiều tài liệu cho lịch sử. Một tác phẩm như vậy là một tác phẩm đã có nhiều người đọc, có ảnh hưởng lớn và cần phải được chúng ta chú trọng đến hơn. Phần dẫn nhập này sẽ đề cập đến soạn niên của tác phẩm, tác giả và những bản chép tay, nội dung, giá trị và ảnh hưởng của Việt Điện U Linh Tập.
09/04/2013(Xem: 19459)
Xét theo thiên Vũ Cống, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên Quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi sửu, cùng một phận dã tinh truyện với nước Ngô. Cõi nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt, cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở phía nam Dương Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam thuộc về Nam Việt. An Nam là miền đất ở phía nam nước Việt nay là quốc hiệu thường gọi.
08/04/2013(Xem: 13059)
Đức Phật dạy: “Nước trong bốn biển chỉ có một vị là vị mặn cũng như giáo lý của ta chỉ có một vị là giải thoát”. Mùi vị của nước trăm sông tuy có khác, nhưng chảy về biển cả thì chỉ là một vị mặn. Mục tiêu chính là Đức Phật xuất hiện ở đời là để giúp chúng sanh “chuyển mê thành ngộ” nghĩa là dứt bỏ những mê lầm tà vạy trở về con đường sáng giác ngộ chân lý, giác ngộ chân lý là được giải thoát.
28/03/2013(Xem: 5097)
Nguyên là một quyển sách do nhà Hachette tại Pháp xuất bản năm 1864. Sách khá xưa, vì thế tôi xin phép được dài dòng kể lại vì đâu lại có quyển sách này trong tay. Tại Pháp, cứ mỗi năm một hai lần các làng xã tổ chức ngày bán đồ cũ. Ðó cũng là dịp dân trong vùng gặp nhau trò chuyện.
07/01/2013(Xem: 5455)
Thưa Ngài Chủ Tịch, “Quốc Gia Hưng Vong, Thất Phu Hữu Trách,” Cha Ông chúng ta đã dạy Bần Tăng từ thuở tấm bé cho đến ngày nay và hơn nửa thế kỷ qua Bần Tăng đã thực hành hạnh cứu khổ, ban vui (Từ Bi)theo lời Phật dạy. Từ khi Miền Bắc thống nhất đất nước, Miền Nam thua trận biến thành “Dân Oan”, oán hận ngút trời, hứa hẹn một cơn binh lửa nồi da xáo thịt mới, sau 39 năm Miền Bắc không thực sự thành công trong việc an dân sau nhiều năm chinh chiến.
17/12/2012(Xem: 5674)
Chúc tất cả mọi giới người đã đến Mừng đồng bào tham dự buổi hôm nay Lễ khai trương cơ sở quan trọng nầy Khánh hỷ của những tấm lòng yêu nước. Thành sự thật đã đạt thành mong ước Văn hóa mình đã tụ điểm nơi đây Phòng tuyến đầu đã chiến thắng từ đây Chính nghĩa đã vươn cao thành sức mạnh Phủ đáp lại tình hiến dâng: Hữu Chánh