Thiền Tào Động Nhật Bản

12/04/201107:11(Xem: 20752)
Thiền Tào Động Nhật Bản

THIỀN TÀO ĐỘNG NHẬT BẢN
Nguyên tác: Azuma Ryushin (Đông Long Chơn) - Việt dịch: Thích Như Điển
Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc và quý Phật Tử tại Mỹ Châu – Úc Châu ấn tống 2008



Thiền Tào Động của Nhựt Bản Do Azuma Ryushin (Đông Long Chơn) trước tác Sa Môn Thích Như Điển, Phương Trượng chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc dịch từ tiếng Nhựt sang tiếng Việt bắt đầu ngày 29 tháng 10 năm 2007, nhằm ngày 19 tháng 9 năm Đinh Hợi, Lễ vía Đức Quan Thế Âm tại Tu Viện Đa Bảo Úc Đại Lợi nhân lần nhập thất lần thứ năm tại đây.

MỤC LỤC

Mục Lục
Lời nói đầu

Chương một: Tôn Giáo của Chúng Ta Tào Động Tông

Chương hai: Tự Viện, Tăng Lữ, Nghi Lễ

Chương ba: Tông Chỉ, Giáo Nghĩa và Thánh Điển

Chương bốn: Sinh Hoạt Tín Ngưỡng Của Đàn Tín Đồ

Chương năm: Di Tích Của Lưỡng Tổ Đại Sư

Chương sáu: Tư Liệu Tham Khảo

Chương bảy: Tiểu Sử Tác Giả Đông Long Chơn

Chương cuối: Lời Cuối Sách

MỤC LỤC CHI TIẾT

I. Lời nói đầu
Chương một: Tôn Giáo của Chúng Ta Tào Động Tông

II. Tào Động Tông Và Lịch Sử Hình Thành

II.1 Tên gọi Tào Động Tông .
II.1.1 Phật Giáo Nhật Bản là Phật Giáo của Tông Phái.
II.1.2 Phật Giáo và Đức Thích Tôn
II.1.3 Phật Giáo thời kỳ Nara (Nại Lương) và Heian (Bình An)
II.1.4 Phật Giáo của thời đại Kamakura (Kiêm Thương)
II.1.5 Tính Chất Độc Thiện Của Tông Phái .
II.1.6 Đạo Nguyên Thiền Sư Phủ Định Về Tông Phái .
II.1.7 Lập Trường Của Ngài Đạo Nguyên .
II.1.8 Việc Gọi Tên Tông Phái Bắt Đầu Trong Tông Mình .
II.1.9 Ý nghĩa Danh Xưng Của Tông .
II.1.10 Sự Liên Tục Giữa Tào Khê và Động Sơn .
II.1.11 Động Sơn Tông Và Tào Động Tông .
II.1.12 Phương Cách Thọ Nhận Tông Danh .
II.2 Bổn Tôn – Đức Phật Thích Ca Mâu Ni .
II.2.1 Bổn Tôn là gì? .
II.2.2 Bổn Tôn Lấy Đức Thích Ca Mâu Ni Làm Đại Hòa Thượng .
II.2.3 Nhiều Cách Giải Thích Về Bổn Tôn .
II.2.4 Với Việc Tọa Thiền Bổn Tôn Là Đức Thích Tôn .
II.2.5 Bổn Tôn Đang Sinh Động .
II.2.6 Bổn Tôn Không Rời Khỏi Thân Nầy .
II.3 Lưỡng Tổ Đại Sư .
II.3.1 Lưỡng Tổ .
II.3.2 Cao Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư .
II.3.3 Thái Tổ Oánh Sơn Thiền Sư .
II.3.4 Cuộc Đời Của Cao Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư .
II.3.5 Cuộc Đời Của Thái Tổ Oánh Sơn Thiền Sư .
II.4 Lịch Sử Tào Động Tông .
II.4.1 Ngay Sau Thời Ngài Đạo Nguyên Thiền Sư – Giữa Thời Kỳ Kamakura (Kiêm Thương) .
II.4.2 Lập Trường Của Ngài Oánh Sơn Thiền Sư – Thời Kỳ sau Thời Kamakura .
II.4.3 Minh Phong, Nga Sơn Thiền Sư – Thời Đại Nam Bắc Triều, An Thổ và Đào Sơn .
II.4.4 Phục Hưng Tông Học và Vô Hiệu Hóa Tông Đoàn Thời Kỳ Giang Hộ (Edo) .
II.4.5 Giáo Đoàn Hướng Về Thời Cận Đại – Minh Trị (Meiji), Đại Chánh (Taisho), và Thời Đại Chiêu Hòa (Showa) .
Chương hai: Tự Viện, Tăng Lữ, Nghi Lễ

III. Tự Viện, Tăng Lữ, Nghi Lễ .

III.1 Lưỡng Đại Bổn Sơn .
III.1.1 Tào Động Tông Không Có Tổng Bổn Sơn .
III.1.2 Đại Bổn Sơn Vĩnh Bình Tự .
III.1.3 Đại Bổn Sơn Tổng Trì Tự .
III.1.4 Chùa có các Biệt Viện .
III.2 Thất Đường Già Lam .
III.2.1 Sự Thay Đổi Kiến Trúc Của Tự Viện .
III.2.2 Già Lam Của Tào Động Tông Là Nơi Chính Để Tu Hành .
III.2.3 Sơ Lược Về Thất Đường Già Lam .
III.2.4 Trường Hợp Những Tự Viện Thông Thường .
III.2.5 Công Việc Của Các Vị Tăng .
III.3 Bổn Tôn, Phật Tượng Và Pháp Cụ .
III.3.1 Già Lam và Bổn Tôn .
III.3.2 Tượng Phật .
III.3.3 Pháp Cụ .
III.4 Tư Cách Của Tăng Lữ Và Pháp Y .
III.4.1 Tu Hành Và Thời Hiện Đại .
III.4.2 Pháp Giai .
III.4.3 Tăng Giai .
III.4.4 Áo Tràng Và Cà Sa .
III.4.5 Cải Cách Y Phục Và Lạc Tử .
III.4.6 Chế Tác Phục Y .
III.5 Nghi Lễ Của Tào Động Tông .
III.5.1 Nghi Lễ Nghĩa Là Gì? .
III.5.2 Kinh Được Tụng Và Những Hoạt Động Căn Bản .
III.5.3 Tụng Kinh Hằng Ngày .
III.5.4 Những Nghi Lễ Thông Thường Của Mỗi Tháng .
III.5.5 Công Việc Thường Kỳ Trong Mỗi Năm .
Chương ba: Tông Chỉ, Giáo Nghĩa và Thánh Điển

IV. Tông Chỉ, Giáo Nghĩa và Thánh Điển.

IV.1 Yếu Điểm Của Tọa Thiền .
IV.1.1 Tào Động Tông Là Tông Tọa Thiền .
IV.1.2 Thiền Và Lịch Sử .
IV.1.3 Truyền Thống Của Tào Động Tông .
IV.1.4 Thiền Có Nghĩa Là Tọa Thiền .
IV.1.5 Chỉ Quán Đả Tọa Và Tức Tâm Thị Phật .
IV.1.6 Tọa Thiền Dụng Tâm Ký .
IV.1.7 Tọa Thiền Nghĩa Là Gì? .
IV.1.8 Cách Dụng Tâm Thứ Nhất .
IV.1.9 Phương Pháp Ngồi Thiền Có Tính Cách Cụ Thể .
IV.1.10 Khi Buồn Ngủ Thì Phải Làm Sao? .
IV.1.11 Khi Tán Loạn Thì Phái Làm Sao? .
IV.1.12 Cảnh Địa Của Việc Tọa Thiền .
IV.2 Lời Dạy Của “Tu Chứng Nghĩa” .
IV.2.1 Tu Chứng Nghĩa .
IV.2.2 Sự Hình Thành Của “Tu Chứng Nghĩa” .
IV.2.3 Đại Ý .
IV.2.4 Thiền Giới Nhứt Như .
IV.2.5 Tu Chứng Bất Nhị .
IV.2.6 Tu Chứng Nghĩa .
IV.3 Trước Tác Chủ Yếu Của Hai Đại Tổ Sư
IV.3.1 Với Tấm Lòng Cung Kính Để Xem .
IV.3.2 Trước Tác Của Thiền Sư Đạo Nguyên .
IV.3.3 Trước Tác Của Oánh Sơn Thiền Sư .
IV.4 Giải Thích Về Thánh Điển .
IV.4.1 Những Thánh Điển Được Dùng Đến .
IV.4.2 Đối Với Thánh Điển Được Tâm Đắc .
IV.4.3 Giải Thích Về Kinh Điển .
IV.4.4 Giải Thích Về Ngữ Lục .
Chương bốn: Sinh Hoạt Tín Ngưỡng Của Đàn Tín Đồ

V. Sinh Hoạt Tín Ngưỡng Của Đàn Tín Đồ.

V.1 Ý Nghĩa Của Sự Sinh Hoạt Tín Ngưỡng .
V.1.1 Đàn Tín Đồ Nghĩa Là Gì? .
V.1.2 Vì Sao Sự Sinh Hoạt Tín Ngưỡng Lại Quan Trọng? .
V.1.3 Nhiều Đời Sống Tín Ngưỡng Khác Nhau .
V.2 Tụng Kinh Sáng, Tối .
V.2.1 Mua Bàn Thờ Phật Cho Đúng Cách .
V.2.2 Cách Bài Trí Bàn Phật .
V.2.3 Cách Tụng Kinh .
V.3 Lễ Xuất Gia Của Người Tại Gia .
V.3.1 Tuần Tự Thứ Lớp Của Việc Xuất Gia .
V.3.2 Sự Tuần Tự Lễ Xuất Gia Của Người Tại Gia .
V.4 Thọ Giới Hội .
V.5 Nghi Thức Kết Hôn .
V.5.1 Nghi Lễ Kết Hôn Trang Trọng Trước Đức Phật .
V.5.2 Nghi Thức Theo Thứ Tự .
V.6 Đám Tang .
V.6.1 Tại Sao Làm Lễ Đám Tang? .
V.6.2 Đám Ma Theo Tào Động Tông .
V.7 Sự Hiểu Biết Về Giới Danh .
V.7.1 Giới Danh, Pháp Danh và Pháp Hiệu .
V.7.2 Chuẩn Mực Của Giới Danh .
V.7.3 Sự Cấu Tạo Của Giới Danh Và Chủng Loại .
V.8 Những Ngôi Mộ Bình Thường .
V.8.1 Nguyên Hình Của Ngôi Mộ Là Một Cái Tháp .
V.8.2 Những Loại Mộ .
V.8.3 Đi Viếng Mộ .
V.9 Tụng Kinh Cầu Nguyện Cúng Dường .
V.9.1 Lý Do Và Ý Nghĩa Của Việc Tụng Kinh .
V.9.2 Phương Cách Cũng Như Chủng Loại Cầu Nguyện .
V.10 Tọa Thiền Hội .
V.10.1 Căn Bản Của Sự Sinh Hoạt Tín Ngưỡng .
V.10.2 Hướng Dẫn Về Những Hội Tọa Thiền .
V.10.3 Công Việc Của Tọa Thiền Hội .
V.11 Những Sinh Hoạt Tín Ngưỡng Khác .
V.11.1 Lễ Định Kỳ Và Những Nghi Lễ Khác .
V.11.2 Những Lễ Nghi Lâm Thời Chủ Yếu Của Các Tự Viện .
V.11.3 Thông Qua Việc Từ Thiện (Xã Hội Phước Chỉ) .
Chương năm: Di Tích Của Lưỡng Tổ Đại Sư

VI. Di Tích Của Lưỡng Tổ Đại Sư.

VI.1 Tổ Tích Của Cao Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư .
VI.1.1 Nơi Xuất Sanh .
VI.1.2 Trải Qua Thời Kỳ Ấu Niên .
VI.1.3 Phát Tâm Tại Thần Hộ Tự - Jingooji .
VI.1.4 Những Chùa Đã Tu Hành Tại Nhựt Bản .
VI.1.5 Tu Hành Tại Những Chùa Ở Trung Quốc .
VI.1.6 Địa Điểm Ngày Trở Về .
VI.1.7 Sau Khi Về Nước Ở Tạm Các Chùa .
VI.1.8 Các Nơi Liên Hệ Về Linh Cốt Của Thiền Sư Đạo Nguyên .
VI.2 Tổ Tích Của Oánh Sơn Thiền Sư .
VI.2.1 Nơi Sinh Ra .
VI.2.2 Tu Hành Tại Các Chùa .
VI.2.3 Khai Sơn Các Chùa .
VI.2.4 Địa Điểm Nhập Diệt .
VI.2.5 Những Địa Phương Thờ Linh Cốt Của Thiền Sư Oánh Sơn .
Chương sáu: Tư Liệu Tham Khảo

VII. Tư Liệu Tham Khảo.

VII.1 Những Tư Liệu Tham Khảo Chủ Yếu .
VII.2 Những Tư Liệu Sách Tham Khảo Khác .
VII.3 Tạp Chí, Báo Viết Về Ký Sự .
VII.4 Kinh Tụng – CD Gởi Kèm Gồm: .
VII.5 Kinh Văn Tụng Niệm .
VII.5.1 Khai Kinh Kệ .
VII.5.2 Sám Hối Văn .
VII.5.3 Tam Quy Lễ Văn .
VII.5.4 Tam Tôn Lễ Văn .
VII.5.5 Bát Nhã Tâm Kinh .
VII.5.6 Bổn Tôn Thượng Cúng Hồi Hướng Văn .
VII.5.7 Tu Chứng Nghĩa – Hành Trì Báo Ân .
VII.5.8 Tiên vong Hồi Hướng Văn .
VII.5.9 Phổ Hồi Hướng
VII.5.10 Tứ Hoằng Thệ Nguyện Môn .
Chương bảy: Tiểu Sử Tác Giả Đông Long Chơn

VIII. Tiểu Sử Tác Giả Đông Long Chơn.

Chương cuối: Lời Cuối Sách


Thien_Tao_Dong_Nhat_Ban

I. Lời nói đầu

Nhật Bản được xem là một quốc gia Phật Giáo, bởi vì gần 1300 năm kể từ khi Phật Giáo du nhập từ Trung Hoa và Bán Đảo Triều Tiên, Phật Giáo vẫn duy trì truyền thống tín ngưỡng và tạo được niềm tin vững chắc của người Nhật, mà không có gì thay đổi. Hơn nữa, Phật Giáo ảnh hưởng sâu đậm vào đời sống của người Nhật qua các phương diện như chính trị, kinh tế, giáo dục, nghệ thuật, tư tưởng, văn học, phong tục tập quán, nơi ăn, chốn ở v.v...dẫu có khi dung hòa, có khi xung đột, có khi bị áp chế, cản ngăn, có khi được ủng hộ trở thành vai trò hướng dẫn và chỉ đạo tâm linh.

Ở Nhật hiện tại có đến 75.000 tự viện Phật Giáo, gần 100.000 tăng sĩ và có 70.000.000 tín đồ thuần thành, có thể nói là gần một ức người. Hầu hết các ngôi chùa Nhật đều có lịch sử ngàn năm tồn tại. Không những có không ít các bậc cao Tăng tôn kính mà số lượng Phật Tử thuần thành vô cùng đông đảo. Đã có nhiều nhà chính trị, thương gia, nghệ nhân, văn sĩ, học giả v.v…tin Phật và quy y Tam Bảo; đặc biệt ngày nay Phật Giáo Nhật Bản còn truyền sang Âu Châu, Mỹ Châu và nhiều nước khác, đó là điều mà khoảng 10 năm trước, khó có ai tưởng tượng được.

Mặt khác, hầu hết người Nhật đều tự cho là tín đồ Phật Giáo, tuy nhiên cũng có người nhận xét đến các chùa ở Kinh Đô và Nara chỉ thấy toàn khách tham quan, còn tăng sĩ chỉ lo cúng đám để nuôi thân, không có sinh hoạt Tôn Giáo. Tín đồ đến chùa chỉ vì đi thăm mộ thân nhân trong những ngày lễ Thanh Minh (Ohigan), Vu Lan. Ở Nhật, ngày đầu năm, người Nhật đến Thần Xã; khi kết hôn, họ chọn nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Phải chăng đây là tinh thần dung hòa của Phật Giáo hay chỉ là lòng tin riêng của Tín Đồ Phật Giáo; phải chăng niềm tin Tôn Giáo vốn tồn tại trong tinh thần tự giác của mỗi cá nhân Tín Đồ.

Thật ra, đối với thế giới, Nhật Bản là một quốc gia Phật Giáo, vì đa số người Nhật là tín đồ của Phật Giáo, nhưng với người Nhật không hẳn như vậy. Có nhiều lý do, nhưng phải nói rằng lý do chính là sự nổ lực tăng sĩ có đó, nhưng chưa đầy đủ và lý do khác là tín đồ Phật Giáo cũng kém phần tha thiết quan tâm, hẳn nhiên làm cho người ta không thấy Phật Giáo có ảnh hưởng gì cả. Thật sự, không đơn thuần cho Phật Giáo đối với các vấn đề hiện tại khi mà xã hội ngày càng phức tạp, thế giới ngày càng nhiều vọng tưởng và con người dường như đang bị mê hoặc, đến nỗi cảm thấy bất an, hoài nghi, dao động, thậm chí không biết mình là ai và không biết phải làm sao đây trước văn hóa và văn minh do con người tạo ra. Đó chính là tình trạng đau thuơng của thế giới, đương nhiên Nhật Bản không ra ngoài trạng huống ấy.

Thế kỷ 21 được gọi là thế kỷ Tôn Giáo, thời đại Tâm Linh. Phật Giáo tự dưng được nhiều người quan tâm đến. Nhiều hiện tượng cho thấy có sự lưu ý của người Nhật đối với Phật Giáo như kinh sách Phật Giáo được bày bán nhiều hơn ở hiệu sách, nhiều Chùa thành lập ban nghiên cứu để giảng diễn giáo lý Phật Đà và nhiều phái mới ra đời.... Thế nhưng Phật Giáo Nhật Bản vốn có nhiều Tông Phái khác nhau, mỗi Tông Phái có tính chất Tôn Giáo riêng biệt, mà điều nầy được minh chứng qua hình ảnh tăng sĩ, không vị nào không trực thuộc chùa hay tông phái riêng mình, thậm chí tín đồ cũng thế. Thế nên dù thích hay không thích vấn đề lấy gia đình làm đơn vị, dù hiểu hay không hiểu cũng phải trông chờ nơi tông phái của mình

Bản thân tôi (tác giả) không thích về vấn đề phân chia Tông Phái, thích không thuộc Tông Phái nào cả. Nói khác hơn, lập trường của tôi có thể khác với những người học Phật khác, rất tự do khi lưu tâm đến vấn đề Phật Giáo. Thật tế, nhiều người chủ trương như vậy, nhưng không thể xác định khuynh hướng thuộc Tông Phái nào, rốt cuộc chính họ cũng không rõ và bị rơi vào lập trường Tông Phái khác một cách dễ dàng, lúc nào chẳng hay. Vả lại, Phật Giáo Nhật Bản chia nhiều Tông Phái biết đâu lại là vấn đề thông thoáng, bởi vì có nhiều góc độ và nhiều cánh cửa để mở khi bước vào ngôi nhà Phật Giáo.

Lại một lần nữa nói rằng Phật Giáo Nhật Bản là Phật Giáo của các Tông Phái, nhưng thật không hay chút nào khi tăng sĩ và tín đồ thuộc các Tông Phái của Phật Giáo chẳng lưu tâm, cũng chẳng biết mình thuộc Tông Phái nào. Thật ra, trước thời Meiji (Minh Trị), Phật Giáo Nhật Bản theo lập trường truyền thống và nghiên cứu học thuật theo lối Âu Châu, biết Đại Thừa chẳng phải do Đức Phật nói, nhưng có lẽ bắt đầu từ đó, ấn tượng chia rẽ xâm nhập vào Phật Giáo khiến Phật Giáo bị phân chia tạo thành các Tông Phái. Một khi chư Tăng đánh mất tự tin, thậm chí còn hàm hồ đả phá Tông Phái mình, sao lại trách đàn na và tín đồ ngày càng thiếu hiểu biết. Thật là phi lý!

Tất cả những buổi diễn giảng giáo lý Phật Đà của các học giả và sách vở viết về Phật Giáo bày bán ở hiệu sách, thật tế chỉ giới thiệu Phật Pháp căn bản mà thôi, thật ra chẳng đủ. Cần phải có những buổi giảng của Chư Tăng như là giáo hóa, trao đổi thể nghiệm mang tính đặc thù riêng của từng cá thể, gần gũi thân cận. Mặt khác cũng cần có phần nghi lễ tâm linh, thần bí siêu nhiên, huyền bí khác v.v... mà những phương diện đó không ngoài phương tiện truyền đạt tâm linh.

Tác phẩm nầy chỉ bàn về những gì thuộc về phái “Tào Động Tông” của Phật Giáo Nhật Bản như là tổng hợp quan điểm để hướng dẫn mà thôi.

Nếu kể về số lượng Tăng Lữ và tự viện của riêng Tào Động Tông, có thể nói rằng đây là một đoàn thể Phật Giáo lớn nhất của nước Nhật, phụng thờ đức Bổn Sư Thích Ca là vị giáo chủ Phật Giáo. Các Thiền Tăng đời Kamakura kính ngưỡng những vị Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), Thiền Sư Oánh Sơn là Cao Tổ và Thái Tổ. Tông chỉ và giáo nghĩa của hai vị Tổ nầy được thiết lập nơi Đại Bổn Sơn tại hai chùa Vĩnh Bình (Eheiji) và chùa Tổng Trì (Sojiji). Dưới tàng cây cổ thụ ấy, có đến 15.000 ngôi chùa, 20.000 Tăng Sĩ và 7.000.000 tín đồ, với lịch sử 700 năm truyền thừa.

Trong khả năng có thể, chúng tôi sẽ cố gắng giải thích rõ ràng tất cả những vấn đề lịch sử, Bổn Tôn, Lưỡng Tổ, lưỡng Đại Bổn Sơn, tông chỉ, giáo nghĩa, tự viện, Tăng Lữ, nghi lễ, thánh điển, sinh hoạt tín ngưỡng và nhiều phương diện khác thuộc pháp nhơn Tôn Giáo và tông chế[1] của Tào Động Tông, để mọi người liễu tri một cách dễ dàng khi muốn nghiên cứu về tông nầy. Hẳn nhiên, trong điều kiện cho phép, tài liệu nầy cũng là cơ sở căn bản lý giải cho đàn na, tín đồ và những người thuộc Tông Phái khác, khi lưu tâm những vấn đề của Tào Động Tông Nhật Bản một cách bao quát hơn, đó cũng chính là điều mà tác giả vô cùng tha thiết vậy.

Azuma Ryushin (Đông Long Chơn)

[1] Giống như tư cách gemeinnütziger e.V. của Tôn Giáo tại Đức. Nghĩa là Hội nầy có khai báo tại tòa án, có tính cách từ thiện, xã hội của Tôn Giáo đó.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/07/2011(Xem: 13764)
Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật tồn tại đến ngày nay là do sự truyền thừa từ đức Phật đến chư tổ. Tổ lại truyền cho tổ, ‘Tổ tổ tương truyền’ tiếp diễn từ đời nầy sang đời khác. Sự truyền thừa được thể hiện qua hai phương diện giáo lý và thật hành. Về phần giáo lý thì mỗi tông phái đều sáng lập giáo nghĩa, tông chỉ riêng biệt và đều lấy kinh điển của Phật làm nền tảng. Về phần thật hành hay phần sự có khác biệt là tùy theo giáo nghĩa và tư tưởng của mỗi tông. Mỗi tông phái đều truyền bá và xiển dương pháp môn của mình trong tông môn và quần chúng Phật tử. Mỗi tông phái của đạo Phật được ví như mỗi loại hoa của vườn hoa Phật pháp. Mỗi loại hoa có nét đẹp và hương thơm riêng biệt, để khoe sắc hương, nhưng tất cả đều ở trong vườn tịnh của Phật pháp. Cũng như vậy, mỗi tông phái đều là của đạo Phật và đều cùng mang một vị, đó là vị ‘giải thoát’. Trong phần sưu tập về tông phái Thiên thai, chúng tôi chia thành hai giai đoạn chính. Đó là sự sáng lập tông phái ở Trung Quốc, sau nhiều thế kỷ
24/06/2011(Xem: 4269)
Theo kết quả điều tra dân số năm 2001, Ấn Độ quê hương của Đức Phật, hiện là quê hương của 3.881.056 nữ Phật tử (1). Hiện ước chừng có khoảng 300 triệu nữ Phật tử trên thế giới, trong đó 130.000 vị Ni. Cộng đồng ngày càng lớn mạnh này có một vị trí rất đáng tự hào trong một truyền thống mà ở đó Ni giới và nữ Phật tử từ rất lâu đã là một bộ phận không thể tách rời của Tăng già, gần như ngay khi Tăng già được thành lập. Tuy vậy, ngoài những câu chuyện cảm động được kể lại trong Trưởng lão Ni kệ (2), một cuốn sách trong đó các vị Tỳ kheo Ni tiền bối kể lại quá trình nỗ lực cố gắng và những thành quả mà các vị đã đạt được trên bước đường tới quả vị A La Hán, không có một chứng cứ lịch sử nào được chứng minh. Kết quả là, ghi chép về những đóng góp của nữ giới Phật giáo giờ chỉ còn lại trong những nhân vật văn học của Trưởng lão Ni kệ.
24/06/2011(Xem: 4169)
Phong trào phát triển một đường lối Phật Giáo mới, về sau nầy được gọi là Mahayana (Đại thừa), bắt đầu thành hình trong thời gian 250 năm, từ năm 150 TCN đến 100 CN, là kết quả tích tụ của nhiều phát triển vốn có từ trước. Nguồn gốc của nó không liên hệ với một cá nhân nào, và cũng không đặc biệt liên kết với một tông phái nào của thời kỳ Phật Giáo sơ khai. Có thể phong trào đó khởi dậy từ nhiều nơi trong xứ Ấn Độ, tại miền nam, miền tây bắc và miền đông.
23/06/2011(Xem: 4001)
Quảng Hoằng Minh Tập là bộ sử liệu về tư tưởng Phật giáo do danh tăng Thích Đạo Tuyên (596-667) đời Đường biên soạn. Sách gồm những bài viết Phật học từ đời Ngụy Tấn đến sơ Đường của hơn 130 tác giả.
20/06/2011(Xem: 12400)
Vào năm 1949, tôi đã cùng thầy Trí Hữu, một vị Thượng tọa từ Đà Nẵng thành lập nên Phật Học Đường Ấn Quang ở Sài Gòn. Tôi dạy lớp sơ cấp đầu cho các vị Sadi. Hồi đó tên chùa là Ứng Quang. Chùa vách tre lợp lá rất đơn sơ. Khi đó chiến tranh đang diễn ra giữa quân đội Pháp và lực lượng kháng chiến Việt Minh.
20/06/2011(Xem: 4070)
Thông thường ai cũng nghĩ rằng đạo Phật chỉ mới được truyền sang tây phương trong các thế kỷ gần đây mà thôi, mà quên rằng trong nhiều thế kỷ trước tây lịch PG đã thấm nhuần vùng Tiểu Á và tây bắc Ấn, rồi ảnh hưởng trên cả nền triết học Hy-lạp và giáo lý của vài tôn giáo lớn có nguồn gốc tây phương. Phật tử Việt nam vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo pháp truyền từ Trung quốc nên ít biết đến sự giao hòa của hai nền văn hóa Hy-lạp và PG khởi đầu rất sớm ở vùng đất này.
18/06/2011(Xem: 7825)
Ký giả được xem công văn này trước nhất, liền cho mời Ông Viên Quang là Tổng thư ký của Hội Việt Nam Phật giáo đến bàn việc triệu tập Hội đồng để thảo luận việc quan trọng đó. Nhưng đến buổi họp thì ký giả chẳng may vừa bị cảm nặng, nhân có Cụ BÙI THIỆN CƠ, Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo đến thăm, bèn dặn với Cụ rằng: “Nếu Hội đồng có cử đến tôi, thì nhờ Cụ cố từ chối cho, vì tôi mới bị bệnh, hơn nữa còn bận nhiều công việc”. Sau buổi họp đó, Cụ BÙI THIỆN CƠ và Cụ TRẦN VĂN ĐẠI lại đến phòng bệnh cho biết rằng: “Hội đồng đã đề cử một vài vị Thượng toạ, nhưng các Ngài đều viện cớ rằng: Thượng toạ là Hội trưởng Hội Tăng Ni Bắc Việt lại là Phó Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo, phải lấy tư cách ấy mà ứng phó với thơ mời của Chính phủ để gia nhập Phái đoàn Phật giáo Việt Nam thì đối với cả trong Thuyền gia lẫn người ngoài Thiện tín mới được danh chính ngôn thuận.
10/06/2011(Xem: 9911)
Cách đây hơn hai nghìn năm, Việt Nam là trung tâm mậu dịch buôn bán, rất nhiều thương thuyền của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước Nam hải khác đến miền bắc Việt Nam. Các Tăng lữ Ấn thường đi cùng các thuyền buôn trên đường đến Trung Quốc, dừng lại Việt Nam trong một thời gian ngắn. Vì vậy có thể nói, Việt Nam tiếp xúc Phật giáo Ấn Độ sớm hơn Trung Quốc. Tuyến đường biển là tuyến đường Phật giáo tiểu thừa Ấn Độ truyền vào Trung Quốc và cũng là con đường Tây vực truyền vào Trung Quốc; mặt khác, Phật giáo Việt Nam lại được truyền đến từ Trung Quốc (Thiền Nam tông), chính ở đây diễn ra sự giao hội, dung hợp hết sức thú vị của hai dòng phái Phật giáo này diễn ra trên đất Giao Chỉ. Một là Phật giáo Nam tông hai là Phật giáo Bắc tông.
26/05/2011(Xem: 4015)
Trong lịch sử hình thành Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo châu Á nói chung, Luy Lâu được coi là chiếc nôi của Phật giáo. Nó được coi là Trung tâm Phật giáo xuất hiện sớm nhất trong ba trung tâm Phật giáo thời kỳ khởi thuỷ ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á: Trung tâm Phật giáo Luy Lâu; Trung tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành (thuộc Trung Hoa).
14/05/2011(Xem: 10969)
Trước khi tìm hiểu kỹ về Thiền tông, chúng ta nên có một quan niệm tổng quát về tông phái này thì khi đi sâu vào chi tiết sẽ bớt bỡ ngỡ. Ngay đối với số đông các Phật tử Việt Nam, Thiền tông cũng là một tông phái được ít người hiểu đến vì tính cách kỳ đặc của pháp tu này, vì vậy nên có những xét đoán, phê bình không đúng. Chúng ta nên tránh việc phê bình, chỉ trích các tông phái khác tông phái mình đang tu, vì tông phái nào cũng đòi hỏi một sự học hỏi sâu xa, nên thường khi chỉ trích các tông phái khác thì chỉ căn cứ theo một số hiểu biết hời hợt về tông phái đó, vì vậy những lời chỉ trích thường không đúng được, và chỉ gây thêm những tranh luận vô ích, mất thì giờ. Chúng ta nên tìm học kỹ để phân biệt rõ ràng và thực hành đúng lời Phật dạy, chứ không phải để tranh luận, chỉ trích.