Thiền Lâm Tế Nhật Bản

11/10/201005:35(Xem: 7772)
Thiền Lâm Tế Nhật Bản

THIỀN LÂM TẾ NHẬT BẢN
Nguyên tác Matsubara Taidoo - Thích Như Điển dịch
Nhà xuất bản Phương Đông TP. Hồ Chí Minh 2006
thienlamtenhatban-bia
MỤC LỤC

Lời nói đầu
Chương thứ nhất: Phổ Hệ Thiền
I. Đức Thích Ca, Ngài Đại Ca Diếp và A Nan
II. Ngài Đạt Ma, Huệ Khả và Huệ Năng
Chương thứ hai: Tư Tưởng Thiền
I. Giáo Ngoại Biệt Truyền
II. Bất Lập Văn Tự
III. Trực Chỉ Nhân Tâm
IV. Kiến Tánh Thành Phật
Chương thứ ba: Thiền và Tọa Thiền
I. Thiền Lâm Tế
II. Tâm Thiền
III. Ngồi Thiền
Cách điều chỉnh hơi thở
Cách điều chỉnh tâm
Nghi thức Toạ Thiền
Ngồi Thiền xong
Khuyến tấn
Chương bốn: Lâm Tế Tông
I. Truyền thuyết về Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền
II. Tư Tưởng và Phương Pháp Thiền của Lâm Tế
A. Chân nhân của “nhất vô vị”
B. Làm chủ tuỳ theo nơi
C. Con người vô sự
III. Tông chỉ và giáo nghĩa của Lâm Tế Tông
Bổn Tôn
Kinh Điển
IV. Sự sinh hoạt của Thiền
V. Thiền Lâm Tế Nhật Bản
A. Mười bốn Bổn sơn của Tông Lâm Tế.
VI. Phổ Hệ Thiền Lâm Tế Nhật Bản sau thời kỳ Trung Hưng
VII. Sự Lưu Hành của Thiền Lâm Tế Nhật Bản trong hiện tại
1. Ổn Sơn
2. Trác Châu
Chương thứ năm: Sự Sinh Hoạt của Đàn Na Tín Đồ
I. “Tọa Thiền Hòa Tán“
II Văn Phát Nguyện của Bồ Tát
III Phương Pháp Ăn Uống
Ngũ Quán Kệ
Đức Hạnh là gì?
Thọ dụng với trí tuệ.
Tự ngã tiêu trừ, tâm liền tỉnh lặng.
Chẳng phải thích hay không thích.
Đối việc không ưa thích cũng phải yêu mến nỗ lực làm việc tiếp tục.
Mùi vị của cuộc sống cũng xếp thành hàng.
Mỗi ngày siêng năng tinh tấn để sống.
Tham lam là cội gốc của mê lầm.
Tất cả nên cảm tạ khi ăn
Sự ăn uống cũng giống như dùng thuốc để chữa bệnh
Buổi ăn tối gọi là Dược Thạch
Sưởi ấm tâm, xem tâm như “cái túi đựng đồ”
Đồ ăn cũng là một đời sống
Ăn để thành tựu đạo nghiệp
Bản năng để dưỡng nuôi thuộc về trí tuệ
Vì làm con người nên có thể “thành đạo”.
Itadakimasu và Gochisosama
IV. Niềm Tin và Tín Điều trong sinh hoạt
Sinh hoạt tín điều.
Ngôn ngữ của Lòng Tin
V. Những Lễ Lộc Trong Năm
VI. Cách Bài Trí ở Bàn Thờ Phật
Lời cuối sách

Các bài viết liên quan:

LÂM TẾ NGHĨA HUYỀN tiếng hét vang động trong vô cùng Như Hùng
LÂM TẾ NGỮ LỤC - Lâm Tế Nghĩa Huyền - Thích Duy Lực dịch
LÂM TẾ NGỮ LỤC - Thích Nhất Hạnh
TINH YẾU LÂM TẾ LỤC BÌNH GIẢNG Nhất Hạnh
LÂM TẾ NGỮ LỤCHT. Thanh Từ
http://old.thuvienhoasen.org
10-01-2008 04:34:23

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/07/2011(Xem: 13079)
Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật tồn tại đến ngày nay là do sự truyền thừa từ đức Phật đến chư tổ. Tổ lại truyền cho tổ, ‘Tổ tổ tương truyền’ tiếp diễn từ đời nầy sang đời khác. Sự truyền thừa được thể hiện qua hai phương diện giáo lý và thật hành. Về phần giáo lý thì mỗi tông phái đều sáng lập giáo nghĩa, tông chỉ riêng biệt và đều lấy kinh điển của Phật làm nền tảng. Về phần thật hành hay phần sự có khác biệt là tùy theo giáo nghĩa và tư tưởng của mỗi tông. Mỗi tông phái đều truyền bá và xiển dương pháp môn của mình trong tông môn và quần chúng Phật tử. Mỗi tông phái của đạo Phật được ví như mỗi loại hoa của vườn hoa Phật pháp. Mỗi loại hoa có nét đẹp và hương thơm riêng biệt, để khoe sắc hương, nhưng tất cả đều ở trong vườn tịnh của Phật pháp. Cũng như vậy, mỗi tông phái đều là của đạo Phật và đều cùng mang một vị, đó là vị ‘giải thoát’. Trong phần sưu tập về tông phái Thiên thai, chúng tôi chia thành hai giai đoạn chính. Đó là sự sáng lập tông phái ở Trung Quốc, sau nhiều thế kỷ
24/06/2011(Xem: 4171)
Theo kết quả điều tra dân số năm 2001, Ấn Độ quê hương của Đức Phật, hiện là quê hương của 3.881.056 nữ Phật tử (1). Hiện ước chừng có khoảng 300 triệu nữ Phật tử trên thế giới, trong đó 130.000 vị Ni. Cộng đồng ngày càng lớn mạnh này có một vị trí rất đáng tự hào trong một truyền thống mà ở đó Ni giới và nữ Phật tử từ rất lâu đã là một bộ phận không thể tách rời của Tăng già, gần như ngay khi Tăng già được thành lập. Tuy vậy, ngoài những câu chuyện cảm động được kể lại trong Trưởng lão Ni kệ (2), một cuốn sách trong đó các vị Tỳ kheo Ni tiền bối kể lại quá trình nỗ lực cố gắng và những thành quả mà các vị đã đạt được trên bước đường tới quả vị A La Hán, không có một chứng cứ lịch sử nào được chứng minh. Kết quả là, ghi chép về những đóng góp của nữ giới Phật giáo giờ chỉ còn lại trong những nhân vật văn học của Trưởng lão Ni kệ.
24/06/2011(Xem: 4033)
Phong trào phát triển một đường lối Phật Giáo mới, về sau nầy được gọi là Mahayana (Đại thừa), bắt đầu thành hình trong thời gian 250 năm, từ năm 150 TCN đến 100 CN, là kết quả tích tụ của nhiều phát triển vốn có từ trước. Nguồn gốc của nó không liên hệ với một cá nhân nào, và cũng không đặc biệt liên kết với một tông phái nào của thời kỳ Phật Giáo sơ khai. Có thể phong trào đó khởi dậy từ nhiều nơi trong xứ Ấn Độ, tại miền nam, miền tây bắc và miền đông.
23/06/2011(Xem: 3865)
Quảng Hoằng Minh Tập là bộ sử liệu về tư tưởng Phật giáo do danh tăng Thích Đạo Tuyên (596-667) đời Đường biên soạn. Sách gồm những bài viết Phật học từ đời Ngụy Tấn đến sơ Đường của hơn 130 tác giả.
20/06/2011(Xem: 11850)
Vào năm 1949, tôi đã cùng thầy Trí Hữu, một vị Thượng tọa từ Đà Nẵng thành lập nên Phật Học Đường Ấn Quang ở Sài Gòn. Tôi dạy lớp sơ cấp đầu cho các vị Sadi. Hồi đó tên chùa là Ứng Quang. Chùa vách tre lợp lá rất đơn sơ. Khi đó chiến tranh đang diễn ra giữa quân đội Pháp và lực lượng kháng chiến Việt Minh.
20/06/2011(Xem: 3932)
Thông thường ai cũng nghĩ rằng đạo Phật chỉ mới được truyền sang tây phương trong các thế kỷ gần đây mà thôi, mà quên rằng trong nhiều thế kỷ trước tây lịch PG đã thấm nhuần vùng Tiểu Á và tây bắc Ấn, rồi ảnh hưởng trên cả nền triết học Hy-lạp và giáo lý của vài tôn giáo lớn có nguồn gốc tây phương. Phật tử Việt nam vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo pháp truyền từ Trung quốc nên ít biết đến sự giao hòa của hai nền văn hóa Hy-lạp và PG khởi đầu rất sớm ở vùng đất này.
18/06/2011(Xem: 7501)
Ký giả được xem công văn này trước nhất, liền cho mời Ông Viên Quang là Tổng thư ký của Hội Việt Nam Phật giáo đến bàn việc triệu tập Hội đồng để thảo luận việc quan trọng đó. Nhưng đến buổi họp thì ký giả chẳng may vừa bị cảm nặng, nhân có Cụ BÙI THIỆN CƠ, Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo đến thăm, bèn dặn với Cụ rằng: “Nếu Hội đồng có cử đến tôi, thì nhờ Cụ cố từ chối cho, vì tôi mới bị bệnh, hơn nữa còn bận nhiều công việc”. Sau buổi họp đó, Cụ BÙI THIỆN CƠ và Cụ TRẦN VĂN ĐẠI lại đến phòng bệnh cho biết rằng: “Hội đồng đã đề cử một vài vị Thượng toạ, nhưng các Ngài đều viện cớ rằng: Thượng toạ là Hội trưởng Hội Tăng Ni Bắc Việt lại là Phó Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo, phải lấy tư cách ấy mà ứng phó với thơ mời của Chính phủ để gia nhập Phái đoàn Phật giáo Việt Nam thì đối với cả trong Thuyền gia lẫn người ngoài Thiện tín mới được danh chính ngôn thuận.
10/06/2011(Xem: 9542)
Cách đây hơn hai nghìn năm, Việt Nam là trung tâm mậu dịch buôn bán, rất nhiều thương thuyền của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước Nam hải khác đến miền bắc Việt Nam. Các Tăng lữ Ấn thường đi cùng các thuyền buôn trên đường đến Trung Quốc, dừng lại Việt Nam trong một thời gian ngắn. Vì vậy có thể nói, Việt Nam tiếp xúc Phật giáo Ấn Độ sớm hơn Trung Quốc. Tuyến đường biển là tuyến đường Phật giáo tiểu thừa Ấn Độ truyền vào Trung Quốc và cũng là con đường Tây vực truyền vào Trung Quốc; mặt khác, Phật giáo Việt Nam lại được truyền đến từ Trung Quốc (Thiền Nam tông), chính ở đây diễn ra sự giao hội, dung hợp hết sức thú vị của hai dòng phái Phật giáo này diễn ra trên đất Giao Chỉ. Một là Phật giáo Nam tông hai là Phật giáo Bắc tông.
26/05/2011(Xem: 3868)
Trong lịch sử hình thành Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo châu Á nói chung, Luy Lâu được coi là chiếc nôi của Phật giáo. Nó được coi là Trung tâm Phật giáo xuất hiện sớm nhất trong ba trung tâm Phật giáo thời kỳ khởi thuỷ ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á: Trung tâm Phật giáo Luy Lâu; Trung tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành (thuộc Trung Hoa).
14/05/2011(Xem: 10418)
Trước khi tìm hiểu kỹ về Thiền tông, chúng ta nên có một quan niệm tổng quát về tông phái này thì khi đi sâu vào chi tiết sẽ bớt bỡ ngỡ. Ngay đối với số đông các Phật tử Việt Nam, Thiền tông cũng là một tông phái được ít người hiểu đến vì tính cách kỳ đặc của pháp tu này, vì vậy nên có những xét đoán, phê bình không đúng. Chúng ta nên tránh việc phê bình, chỉ trích các tông phái khác tông phái mình đang tu, vì tông phái nào cũng đòi hỏi một sự học hỏi sâu xa, nên thường khi chỉ trích các tông phái khác thì chỉ căn cứ theo một số hiểu biết hời hợt về tông phái đó, vì vậy những lời chỉ trích thường không đúng được, và chỉ gây thêm những tranh luận vô ích, mất thì giờ. Chúng ta nên tìm học kỹ để phân biệt rõ ràng và thực hành đúng lời Phật dạy, chứ không phải để tranh luận, chỉ trích.