Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Cuộc Đàn áp Dã man tại Mông Cổ bởi Stalin Lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô Hàng vạn nhà sư bị giết hàng nghìn ngôi chùa đổ nát

06/09/202110:00(Xem: 477)
Cuộc Đàn áp Dã man tại Mông Cổ bởi Stalin Lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô Hàng vạn nhà sư bị giết hàng nghìn ngôi chùa đổ nát

Cuộc Đàn áp Dã man tại Mông Cổ bởi Stalin Lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô 
Hàng vạn nhà sư bị giết hàng nghìn ngôi chùa đổ nát
(Их Хэлмэгдүүлэлт)

Cuộc Đàn áp Dã man tại Mông Cổ bởi Stalin Lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô Hàng vạn nhà sư bị giết hàng nghìn ngôi chùa đổ

Đàn áp Stalin tại Mông Cổ (Их Хэлмэгдүүлэлт) đề cập đến một thời kỳ bạo lực và khủng bố chính trị ở Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ từ năm 1937 đến năm 1939. 

Stalin là vị chúa tể độc tài đã từng cai trị Liên bang Xô Viết bằng bàn tay sắt trong suốt 30 năm trời (1922-1953). Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, là Đại nguyên soái, Tổng tư lệnh tối cao các Lực lượng vũ trang Liên Xô.  

 

Các cuộc đàn áp là một phần của thanh trừng Stalin (còn được gọi là Đại thanh trừng) đang diễn ra trên khắp Liên Xô cùng lúc đó. Các cố vấn Bộ Dân ủy Nội vụ (Народный комиссариат внутренних дел, NKVD) của Liên Xô, dưới sự chỉ định danh nghĩa của Nguyên soái Khorloogiin Choibalsan (Хорлоогийн Чойбалсан), một lãnh tụ cộng sản của Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ, đã bức hại các cá nhân và tổ chức bị coi là mối đe dọa đối với cuộc cách mạng Mông Cổ. Như ở Liên bang Xô Viết, các phương pháp đàn áp bao gồm tra tấn, các vụ xử án, hành quyết và giam cầm trong các trại lao động cưỡng bức. Nạn nhân bao gồm những người bị buộc tội ủng hộ chủ nghĩa Lamaism (Phật giáo Tây Tạng), chủ nghĩa dân tộc Mông Cổ, Tu sĩ Phật giáo, quý tộc, giới trí thức, những người bất đồng chính kiến. Những người dân tộc Buryats và người Kazakh cũng bị tổn thất lớn do sự thù ghét của người Nga với các dân tộc này.

Sau cuộc Cách mạng Mông Cổ năm 1921, cuộc đấu tranh trong Đảng Cách mạng Nhân dân Mông Cổ (MPRP) đã dẫn đến một loạt các cuộc thanh trừng chính trị bạo lực. Vào tháng 8 năm 1922, Dogsomyn Bodoo (Догсомын Бодоо), Thủ tướng đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Mông Cổ và 14 người khác đã bị xử tử bởi các điệp viên Liên Xô mà không bị xét xử. Hai năm sau, người tiếp quản Dogsomyn Bodoo, Chủ tịch của Đảng nhân dân cách mạng Mông Cổ (MPRP) Soliin Danzan, bị xử tử ngay trong Đại hội Đảng lần thứ 3. Năm 1928, một số thành viên Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ (MPRP) nổi bật bao gồm Ajvaagiin Danzan, Jamsrangiin Tseveen, Tseren-Ochiryn Dambadorj, và Navaandorjiin Jadambaa, bị cầm tù hoặc bị đày trong một cuộc thanh trừng rộng rãi khi đất nước phát động đàn áp Giáo hội Phật giáo. Sau khi những biện pháp quyết liệt này dẫn đến những cuộc nổi dậy trên khắp đất nước, một số nhà cầm quyền cứng rắn nhất của MPRP bao gồm Zolbingiin Shijee, Ölziin Badrakh, và Thủ tướng Tsengeltiin Jigjidjav bị đổ lỗi và trục xuất khỏi đảng.

Năm 1933–34, trong những gì được xem như diễn tập cho các cuộc đàn áp 1937-1939, Tổng thư ký MPRP Jambyn Lkhümbe và các đảng viên khác, bị cáo buộc về âm mưu với gián điệp Nhật Bản. Hơn 1.500 người đã bị kết án và 56 người bị xử tử.

Đến năm 1934, Thủ tướng Mông Cổ Peljidiin Genden, mệt mỏi vì sự thống trị của Liên Xô, đã trì hoãn Hiệp ước song phương với Liên Xô, trong đó cho phép quân đội Liên Xô đóng quân trong nước Mông Cổ. Ông cũng chống lại áp lực của Moscow kêu gọi giết hơn 100.000 vị Lạt Ma Phật giáo của nước này, mà Stalin gọi là "kẻ thù nhân dân". Thất vọng bởi sự bướng bỉnh của Genden, Stalin đã ủng hộ tướng Khorloogiin Choibalsan làm Nguyên soái và đứng đầu Bộ Nội vụ. Vào tháng 3 năm 1936, Choibalsan dàn xếp việc loại bỏ Genden vì phá hoại các quan hệ Mông Cổ - Xô viết. Genden đã bị bắt và bị gửi đến Moscow, nơi ông bị xử tử một năm sau đó. Mặc dù Anandyn Amar đã trở thành Thủ tướng Chính phủ, nhưng Choibalsan lại trở thành người mạnh nhất trong cả nước.

Trong ba năm tiếp theo, những cố vấn của Liên Xô trong Bộ Nội vụ đã hướng dẫn Choibalsan lên kế hoạch và thực hiện các cuộc thanh trừng. Chẳng bao lâu sau đó, 23 vị Lạt Ma cấp cao Phật giáo Mông Cổ đã bị bắt. Sau một phiên tòa kéo dài một năm, họ đã bị hành quyết công khai vào đầu tháng 10 năm 1937. Khi Tổng trưởng Viện kiểm sát Mông Cổ phản đối việc truy tố các vị Lạt Ma, ông ta cũng bị bắt và sau đó bị bắn.

Vào tháng 8 năm 1937, Nguyên soái Demid, 36 tuổi, vị tướng có sự nổi tiếng mà Choibalsan luôn ganh ghét, đã chết trong đáng ngờ. Ngay sau đó, Choibalsan thâu tóm đồng thời cả chức Tổng tư lệnh quân đội Mông Cổ và Bộ trưởng Quốc phòng. Ngày hôm sau Choibalsan, với tư cách Bộ trưởng Nội vụ, đã ban hành Lệnh 366 tuyên bố rằng nhiều người ở Mông Cổ "đã bị ảnh hưởng bởi các điệp viên Nhật Bản." Cùng tháng đó Stalin đã ra lệnh đóng quân 30.000 quân đội Hồng quân ở Mông Cổ và phái một phái đoàn lớn của Liên Xô đến Ulaanbaatar dưới sự ủy thác của Mikhail Frinovsky. Frinovsky đã thực hiện rất hiệu quả đại thanh trừng ở Liên Xô. Việc bắt giữ 65 quan chức cao cấp và giới trí thức vào đêm ngày 10 tháng 9 năm 1937 báo hiệu sự ra đời của sự thanh trừng một cách nghiêm túc. Buổi thử nghiệm đầu tiên được tổ chức tại Nhà hát Trung tâm của Ulaanbaatar từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 10 năm 1937. 13 trong số 14 người bị cáo buộc đã bị kết án tử hình.

Trong 18 tháng, Choibalsan đã chấp thuận và thực hiện giết hại hơn 18.000 vị Lạt Ma. Các nhà sư không bị hành quyết đã bị đưa vào các lực lượng vũ trang Mông Cổ hoặc bị đưa vào trại lao động cưỡng bức trong khi 746 cơ sở tự viện Phật giáo của nước này bị phá hủy. Hàng nghìn các nhà trí thức, chính trị gia và bất đồng chính kiến ​​được gắn nhãn "kẻ thù của cuộc cách mạng", cũng như các dân tộc Buryats và Kazakh cũng bị giết. 25 người từ các vị trí hàng đầu trong đảng và chính phủ đã bị xử tử, 187 từ lãnh đạo quân sự, 36 trong số 51 thành viên của Ủy ban Trung ương bị giết. Theo mô hình Nga, Choibalsan đã mở các trại tù gulags ở nông thôn để bắt giam những người bất đồng chính kiến. Choibalsan thường xuyên bị say sưa bởi việc tra tấn và thẩm vấn những kẻ phản đối, bao gồm cả bạn bè và đồng chí cũ, khiến ông bị người dân Mông Cổ gọi là ''bạo chúa khát máu''.

Các cuộc thanh trừng tạm lắng vào tháng 8 năm 1938. Choibalsan trở nên điên loạn bởi giết chóc và phải trải qua sáu tháng (tháng 8 năm 1938 - tháng 1 năm 1939) hồi phục ở Moscow và Sochi, nơi ông được gặp Voroshilov, Yezhov, và Stalin. Khi trở về Mông Cổ, Choibalsan theo chỉ thị của Liên Xô lại thanh trừng thủ tướng Amar. Choibalsan tuyên bố Amar "đã giúp các nhà chống chính phủ, phản đối việc bắt giữ họ, và bỏ bê việc bảo vệ biên giới. Ông phản bội đất nước của mình và là kẻ phản bội cuộc cách mạng." Sau một chiến dịch tuyên truyền phối hợp, Amar bị bắt giữ 7 tháng 3 năm 1939 và được gửi đến Liên Xô, nơi mà sau này ông bị Troika của Liên Xô bị xử tử.

Với việc loại bỏ Amar, Choibalsan trở thành lãnh đạo lớn nhất Mông Cổ, giữ đồng thời chức Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Chiến tranh, và Tư lệnh trưởng các lực lượng vũ trang Mông Cổ. Để đảm bảo ở vị trí của mình, Choibalsan đã chối bỏ trách nhiệm về các cuộc thanh trừng, đổ lỗi cho thứ trưởng bộ nội vụ Nasantogtoh. Sau đó, đến lượt các tay chân của Choibasan bị bắt và bị giết, bao gồm Luvsansharav, Bayasgalan, Dashtseveg, và Luvsandorj. Dogsom và Losol, (hai thành viên sống cuối cùng của bảy thành viên sáng lập ban đầu của MPRP), cũng bị bắt. Dogom đã bị xử tử năm 1941. Losol qua đời trong một nhà tù của Liên Xô trước khi vụ án của ông được đưa ra xét xử.

Trước khi thanh trừng kết thúc vào đầu năm 1939, các tầng lớp xã hội Mông Cổ gần như bị phá tan bị trong khi phần lớn di sản văn hóa của Mông Cổ nằm trong đống đổ nát. Khoảng 18.000 vị Lạt Ma Phật giáo đã bị kết án tử hình trong khi hàng nghìn người khác bị buộc phải vào quân đội Mông Cổ. Hơn 700 cơ sở tự viện Phật giáo đã bị phá hủy. Tầng lớp người cách mạng cũ, được xem là người theo chủ nghĩa dân tộc chủ nghĩa, đã bị loại bỏ thay vào đó là những lãnh đạo tay sai của Liên Xô; 25 người từ các vị trí hàng đầu trong đảng và chính phủ đã bị xử tử (bao gồm cựu thủ tướng Peljidiin Genden và Anandyn Amar), 187 từ lãnh đạo quân sự, và 36 trong số 51 thành viên của Ủy ban Trung ương bị thanh trừng.

Vào thời điểm qua đời vào năm 1952, Choibalsan được coi một anh hùng, một người yêu nước. Sự giận dữ của công chúng đối với bạo lực của thanh trừng rơi chủ yếu vào Liên Xô và Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD), với Choibalsan họ dành cho ông cái nhìn thông cảm như một con rối với ít sự lựa chọn nhưng phải làm theo chỉ dẫn của Moscow. Tuy nhiên, với sự kết thúc của chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa vào năm 1990, nhiều sự thật phơi bày đã chứng tỏ Choibalsan thực chất là một lãnh đạo khát máu, trực tiếp thực hiện thanh trừng nhưng sau đó chối bỏ trách nhiệm. Năm 1991, hàng loạt các ngôi mộ tập thể được phát hiện gần Mörön, và năm 2003 ở Ulaanbaatar. Xác chết của hàng trăm vị Lạt Ma và thường dân đã được khai quật, tất cả đều bị giết chỉ bằng một cú bắn vào sọ. Đồng thời, đã có những nỗ lực phối hợp của nhiều nhóm khác nhau để khôi phục lại nhiều ngôi chùa và tu viện bị phá hủy trong các cuộc thanh trừng.

Cuộc Đàn áp Dã man tại Mông Cổ bởi Stalin Lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô Hàng vạn nhà sư bị giết hàng nghìn ngôi chùa đổ


Kể từ khi cuộc Cách mạng Dân chủ 1990 tại Mông Cổ (Ардчилсан хувьсгал), đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc xem xét, và phân tích việc đàn áp chính trị. Tuy nhiên, nhiều thắc mắc vẫn chưa được giải đáp. Vấn đề quan trọng và khó giải quyết nhất là ai là thủ phạm, trách nhiệm của họ phải làm gì. Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi này, cần phải tăng cường nghiên cứu và trước hết là cung cấp quyền truy cập miễn phí vào các kho lưu trữ. 

Điều này sẽ giúp xác định tội lỗi của cá nhân, Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ (MPRP) và Đảng Cộng sản Liên Xô. Liên quan đến vấn đề này, cần phải tổ chức một cuộc hội thảo khoa học công khai rộn rãi về quá khứ lịch sử tội ác của bành trướng Cộng sản Liên Xô. Điều này sẽ cho phép người dân Mông Cổ hiểu rõ hơn về lợi ích của một xã hội dân chủ. Đảng Dân chủ Mông Cổ (Ардчилсан Нам), nổi lên từ các cuộc biểu tình năm 1990, có thể chịu trách nhiệm dẫn đầu cuộc tham vấn cộng đồng. Đến nay Đảng Dân chủ Mông Cổ đã mắc phải sai lầm trong việc đánh giá những sai lầm trong quá khứ của Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ (MPRP), và trong việc phân tích sự đàn áp chính trị dã man do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Stalin cầm đầu. Khi Đảng Dân chủ nắm quyền Mông Cổ, có thể tăng cường công việc này. Ví dụ, Ủy ban Xã hội Dân sự của Bang Atonement, khi đó đã có cơ hội được chuyển đổi thành một Ủy ban độc lập. 

Về hoạt động và tổ chức của Ủy ban, quý vị có thể xem công việc của Ủy ban xét duyệt tài liệu của Bộ Quốc phòng Đức tại Đức Quốc. Roland Young, Chủ tịch của tổ chức, nói về bản chất công việc của tổ chức: "Chúng ta càng hiểu rõ về chế độ Cộng sản độc tài, chúng ta càng có thể xây dựng nền dân chủ tốt hơn". Ở đây cần lưu ý rằng kể từ khi cuộc Cách mạng Dân chủ 1990 tại Mông Cổ cho đến nay, nhưng từ dân chủ vẫn không mất đi ý nghĩa đối với đất nước con người Mông Cổ. Việc kiểm điểm vụ đàn áp chính trị vẫn chưa kết thúc. Cần phải tổ chức công việc này như một quá trình quy mô lớn có sự tham gia của xã hội. 


Thích Vân Phong biên dịch

(Nguồn: Konrad Adenauer Stiftung)

facebook-1

***
youtube
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/05/201406:07(Xem: 3393)
Đảo Jeju, Hàn Quốc; vịnh Hạ Long, Việt Nam; Thác Iguazu (Bra-xin và Ác-hen-ti-na), Đảo Komodo (Indonesia), Rừng mưa Amazon và Sông Amazon, Vườn quốc gia sông ngầm Puerto Princesa (Philippines) và Núi Bàn (Nam Phi) được bình chọn là "Bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới” vào cuối năm 2011.
27/12/201518:53(Xem: 2759)
Thiên Đồng Thiền Tự (天童禅寺) nằm tại làng Thiên Đồng ở dưới chân núi Thái Bạch của Ngân huyện, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang và được gọi là "Đông Nam Phật Quốc-東南佛國" hay “Ninh Ba Thiên Đồng Thiền Tự Pháp Vân Tuệ Nhật Thiên Phật Thiên Tăng- 寧波天童禪寺法雲慧日千佛千僧” vì là một trong năm Tòng lâm lớn nhất Trung Quốc. Ngôi Già lam Cổ Tự được kiến tạo vào đầu thế kỷ thứ IV, đời Tây Tấn năm Vĩnh Khang Nguyên (300), ban đầu chỉ là một Thảo am trên diện tích rất nhỏ nhưng theo thời gian đã lên đến 45 nghìn mét vuông, có đến khoảng 20 quần thể kiến trúc cổ như Thiên Vương điện, Đại Hùng Bảo điện, Thiên Phật các, Ngự Thư lâu, Hồi Quang lâu, Phản Minh lâu, Chung lâu, Pháp đường, Lục Thảo đường, Giới đường, La Hán đường . . . Điện đường, Lầu, Gác, Phòng liêu có đến 30 tòa, gồm 999 gian điện thất rất quy mô hùng vĩ. Hiện còn 730 gian, diện tích 7.640.000 mét vuông, diện tích xây dựng 28.800 mét vuông.
19/08/202122:22(Xem: 470)
Vô thường là không tồn tại mãi mãi, là thay đổi, biến dịch một cách bất định, không như mong muốn chủ quan của chúng sinh. Nguyên lý vô thường là nền tảng của giáo lý đạo Phật, tuy nhiên một số khía cạnh của triết học Phật giáo vượt qua ý tưởng về vô thường.
10/04/201313:31(Xem: 2801)
Khi Koryeo đang chịu cảnh cực khổ vì quân Mông Cổ xâm lược Koryeo, người Koryeo đã khắc lẽ phải trên gỗ. Cứ khắc một chữ trên gỗ là người Koryeo đã cúi lạy ba lần. Hơn 50 triệu chữ và kiểu khắc chữ của toàn bộ các chữ đều giống nhau y như từ một người viết. Cũng không có chữ nào bị lỗi và bị bỏ sót. Đây chính là ‘Cao Ly Đại Tàng Kinh’. Nó là Đại Tàng Kinh cổ nhất hiện đang tồn tại trên thế giới.
11/08/202116:35(Xem: 394)
Tiến sĩ Marc Lieberman (7.8.1949-2.8.2021), một bác sĩ nhãn khoa và tự xưng mình là "Phật tử Do Thái", người đi tiên phong trong đối thoại Do Thái giáo-Phật giáo, khi ông điều trị bệnh nhãn áp, đã tổ chức một cuộc đối thoại giữa các học giả Do Thái và Đức Đạt Lai Lạt Ma. và người sau này đã mang thị giác trở lại cho hàng nghìn người Tây Tạng bị đục thủy tinh thể.
13/02/202008:03(Xem: 3193)
Sau khi Đức Phật thành đạo, ánh sáng giác ngộ của Ngài đã chiếu khắp mọi nơi, hàng vạn người dân Ấn, từ sĩ, nông, công, thương, mọi tầng lớp của xã hội Ấn đều thừa hưởng được kết quả giác ngộ của Ngài. Đến cuối đời của Ngài, Chánh pháp đã có mặt ở khắp Ấn Độ và lan tỏa đến các quốc gia láng giềng. Từ hạ lưu của sông Hằng đi về phía Đông, phía Nam tới bờ sông Caodaveri, phía Tây tới bờ biển Á-rập, phía Bắc tới khu vực Thaiysiro, đâu đâu cũng có sự ảnh hưởng của giáo lý Phật-đà, và người dân nơi ấy sống trong sự hòa bình và hạnh phúc. Trong triều đại của Hoàng Đế Asoka thuộc Vương Triều Maurya (thế kỷ thứ III trước TL), Phật giáo đã bắt đầu truyền bá sang các vùng biên giới của đại lục.
09/04/201313:55(Xem: 11493)
Năm 1957, chúng tôi tu học tại cao đẳng Phật học viện Srisumana Vidyalaya, đồng thời theo học trường Srisumana College, tỉnh Ratnapura, nước Srilanka. Theo Phật lịch thì năm 1957 là đúng 2500 năm tính theo tuổi thọ 5000 năm giáo pháp của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Chánh phủ Ấn Độ lần đầu tiên mở cửa cho các hành Phật tử trên thế giới được đến hành hương bốn thánh địa và những địa danh Phật tích chỉ trả nửa giá tiền trong các tuyến đường xe lửa.
10/04/201312:22(Xem: 2795)
Để hiểu rõ thêm về vai trò lịch sử trọng đại của Hoàng Đế Asoka không những đối với dân-tộc A?, mà còn đối với nhân loại qua sự truyền bá Phật giáo đến các nước khác, ta nên ôn lại đôi chút về bối cảnh lịch sử A? độ đương thời.
10/04/201312:21(Xem: 2485)
Hiện nay có khá nhiều bản dịch ra Anh ngữ về những Pháp dụ của Vua Asoka vốn được viết bằng tiếng Brahmi (Prakrit). Bản dịch Việt ngữ này đã dựa vào 2 bản Anh ngữ phổ thông nhất và được nhìn dưới 2 góc độ tiêu biểu: 1). Giới hàn lâm, của các tác giả Nayarayanrao Appurao Nikam và Richard McKeon thuộc Viện Đại học Chicago, ấn hành năm 1959 (Viết tắt "Bản Nikam") và 2).
07/01/202020:25(Xem: 1368)
Hằng năm, các nhà lãnh đạo Phật giáo ở Los Angeles, Hoa Kỳ, nhiều người trong số họ sẽ không bao giờ gặp nhau ở châu Á, vì đã cùng nhau tham dự Đại lễ Vesak, kỷ niệm ngày Phật Đản. Trong khi nghi thức Tắm Phật bằng các loại nước hoa thơm, được quan sát chủ yếu bởi những người Phật tử ở Đông Á, thì chư tôn tịnh đức tăng già và các Phật tử Phật giáo Nguyên Thủy từ Nam Á về Los Angeles, Hoa Kỳ tham dự với niềm tôn kính, mỗi người đều dùng nước hoa thơm Tắm Phật. Chư tôn tinh đức tăng già đều là thành viên của Hội đồng Tăng thân Phật giáo Nam California, Hoa Kỳ. Một hội đồng Tăng già Phật giáo như vậy là một cái gì đó tương đối mới trong lịch sử lâu dài của Phật giáo.