Phật học trong Đạo đức Kinh doanh

18/08/202110:16(Xem: 7140)
Phật học trong Đạo đức Kinh doanh

Phật học trong Đạo đức Kinh doanh
(Entrepreneurship Dalam Perspektif Buddhis)

Phật học trong Đạo đức Kinh doanh

Là một doanh nhân hay tinh thần kinh doanh, hoặc một nhóm người sáng tạo, và sản xuất hàng hóa và tạo dịch vụ, bằng cách tận dụng các cơ hội lợi nhuận của doanh nghiệp.

Có rất nhiều ví dụ về tinh thần kinh doanh, cụ thể như ẩm thực, cửa hàng, tiệm cắt tóc, mở lớp dạy kèm, và nhiều ví dục khác về tinh thần kinh doanh mà chúng ta có thể làm. Theo quan điểm của Phật giáo, chúng ta không bị cấm kinh doanh miễn là nó không gây tổn hại đến mọi người, mọi loài. 

Vì vậy, Đức Phật khuyên chúng ta không nên tham gia vào việc kinh doanh mua bán mà cư sĩ Phật tử không nên can dự, mua bán vũ khí, mua bán người, mua bán ma túy, tạo nghiệp sát sinh từ nghề giết mổ động vật, mua bán chất độc. . . Vì vậy, hãy sống với Chánh mạng (sammavayama) và thực hành Bát Chánh đạo:

1. Chánh kiến: thấy, nghe, hay, biết một cách ngay thẳng, công minh, đúng với sự thật khách quan.

2. Chánh tư duy: suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tưởng đúng với lẽ phải.

3. Chánh ngữ: lời nói chân thật, công bình, ngay thẳng và hợp lý.

4. Chánh nghiệp: hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi ích cho người lẫn vật.

5. Chánh mạng: Sinh sống một cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện, trong sạch của mình. Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời ngay thật, không gian tham, không làm giàu trên mồ hôi, nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau khổ vì nghề nghiệp của mình.
 

6. Chánh tinh tấn: Chuyên cần, siêng năng làm việc chánh nghĩa, lợi lạc cho mình cũng như cho người và vật.

7. Chánh niệm: Ghi nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình cho người, những đạo lý chân chính quý trọng cao siêu.

8. Chánh định: Tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình và người.

Vâng, là doanh nhân, tất nhiên chúng ta phải có vốn để khởi nghiệp. Chúng ta có thể sử dụng nguồn vốn này từ đâu? Chúng ta có thể có vốn bằng cách vay vốn tại hợp tác xã, ngân hàng hoặc có thể là nhờ nhà đầu tư, và nhiều cách khác để có vốn mà khởi nghiệp. 

Nhưng chúng ta không chỉ nhận được vốn từ vật chất, chúng ta cũng cần nguồn vốn khởi nghiệp "Kinh tế học Phật giáo" để đạt được thành công. 

Đầu tiên trong kinh doanh, chúng ta có các yếu tố để đạt được thành công như trong kinh Anguttara Nikaya IV 285:

"• Uttanasampada, siêng năng và nhiệt tình trong công việc, để có được của cải thì chúng ta phải siêng năng, tất nhiên là cả sự nhiệt tình để những gì chúng ta khao khát đạt được. 

• Arakkhasampada, hết sức cẩn trọng trong việc bảo vệ của cải có được, không nên sử dụng của cải đó vào những việc không phù hợp, để thành công mà chúng ta có được, không bị mất đi bởi sự bất cẩn trong việc sử dụng nó.  

• Kalyanamitta, thường kết giao với những bạn hữu có đạo đức, phẩm hạnh tốt để đạt được thành công, trong đó những người bạn tốt có thể hợp tác đến những điều tích cực, những người luôn hỗ trợ, giúp đỡ và khuyến khích chúng ta đạt được thành công. 

• Sammajivakata, sống bằng lợi nhuận chân chính, không xa hoa và không keo kiệt. Đúng như câu nói, chiếc cọc lớn trên cây sào nhắc nhở chúng ta phải sống trong sự giàu có chân chính, không chi tiêu vượt quá mức nguồn thu, như vậy sẽ gây ra nợ nần khắp nơi thêm sầu khổ".

Nếu chúng ta có thể quản lý tài chính, bằng cách cân bằng giữa chi phí và thu nhập, thì công việc kinh doanh của chúng ta luôn suôn sẻ, và chúng ta có hạnh phúc bởi không mắc nợ. Không xa hoa có nghĩa là không sử dụng nguồn thu nhập cho việc xa hoa, hoặc sử dụng nguồn thu nhập đó cho những việc không quan trọng, chẳng hạn như tiêu phí cho những giải trí tiêu cực trong cuộc sống. 

Nhưng cuối cùng không kém phần quan trọng, nghĩa là không keo kiệt, dù chúng ta khởi nghiệp kinh doanh để kiếm lời, nhưng không có nghĩa là phải bủn xỉn, chúng ta vẫn hào phóng sẵn sàng giúp những người khó khăn bằng cách quyên góp vật chất hoặc sức lực.

Ngoài ra, để chuẩn bị cho việc kinh doanh, chúng ta xem tính khả thi của việc kinh doanh với mô hình "Ehipassiko" bằng cách xác định những ý tưởng khi chúng ta bắt đầu kinh doanh, ví dụ như trong đại dịch Covid-19, việc thường xuyên rửa tay với xà phòng/xà bông/dung dịch rửa tay nhanh và nước sạch hoặc dung dịch rửa tay có cồn, vệ sinh hô hấp qua mũi, miệng là biện pháp phòng ngừa đơn giản nhưng hiệu quả giúp hạn chế khả năng lây lan dịch bệnh. 

"Ehipassiko", một tổ chức có tầm nhìn chiến lược là xây dựng tính cá nhân, cộng đồng và môi trường thông qua lối sống học tập, hành động, tu tập thiền định dựa trên Phật pháp Nhân văn. 

Quỹ Ehipassiko được Handaka Vijjānanda thành lập vào năm 2002 tại Myanmar, và được phê duyệt bởi Chứng thư thành lập Quỹ số 01/01-09-2008 tại Indonesia. 

Tên "Ehipassiko" xuất phát từ tiếng Pali, có nghĩa là "hãy đến mà xem, datang dan lihat", một trong những đặc điểm độc đáo của Phật pháp mời gọi xác minh. 

Hợp tác

Trong nước: tất cả các Tăng đoàn & hội chúng Phật giáo, các Trung tâm Tipitaka Indonesia, Tzu Chi, SIDDHI, BFI, BEC, Karaniya, Serlingpa Dharmakirti, Joky, Janitra, RAIS, Elex Media, Publisher Swadaya, TIKI, Pos, Stockists khắp Indonesia, v.v.

Ở nước ngoài: Wisdom USA, Laotian NZ, Parallax Press USA, Kong Meng San SIN, Viriya SIN, Leow Liang SIN, Wisdom Sutra SIN, BPS SLK, Mingun Tipitakadhara MYM, Sun Lun MYM, v.v.

SangGar & Nhân viên nói tiếng Anh

Như một hình thức cam kết và năng lực, "Ehipassiko" hoạt động bằng cách quản lý một Studio tiếng Anh với đội ngũ nhân viên, bao gồm nhà văn, dịch giả, biên tập viên, nhà thiết kế đồ họa, họa sĩ minh họa, kế toán, hậu cần, thám hiểm và quản trị viên. 

"Phật pháp chỉ có nhất như, không nhiều. Nảy sinh sự phân biệt vì lợi ích của những người không hiểu" (Seng-Ts'an, Sesepuh Zen Ketiga)

"Ehipassiko" là một tổ chức phi giáo phái, luôn tôn trọng sự đa dạng của các truyền thống và văn hóa Phật giáo, ngay cả những người không theo đạo Phật. "Ehipassiko" đề cập đến các nguyên tắc đạo đức Phật pháp phổ quát (Kebenaran Universal), không dành riêng cho bất kỳ cá nhân hoặc nhóm cụ thể nào, bởi vì chân lý là không biệt đối xử, ánh sáng từ bi, trí tuệ đạo Phật "như mặt trời chiếu sáng cùng khắp không gian, bagai sang surya menyinari dunia", không phân biệt, không thiên vị.  

Ngoài phương pháp nêu trên, là người Phật tử chúng ta phải nhớ rằng, của cải mình có được không phải vĩnh hằng, vì thật ra kho tàng vĩnh hằng quý giá nhất, là kho tàng phúc đức, trí tuệ không thể mất đi, không thể chia cắt, không thể cướp đoạt được. 

Vì vậy, hãy tận dụng của cải vật chất hoặc sức lực trong việc chia sẻ với những người túng thiếu, khó khăn, để tích lũy hai loại tư lương thiết yếu cho con đường đến giác ngộ, công hạnh Phúc đức và Trí huệ. Còn được gọi tắt là Phúc trí.

Có một đoạn kinh ngắn về lời dạy của đức Phật bao hàm một triết lý kinh tế. Đức Phật dạy cho anh nông dân về cách sử dụng đồng tiền mình kiếm được, cụ thể:

Nên chia số tiền mình khó khăn có được thành bốn phần, phần đầu dùng để chi tiêu cuộc sống hàng ngày, hai phần tiếp dùng để đầu tư sinh lời, phần còn lại hoặc dùng tiết kiệm hoặc giúp đỡ người nghèo khó. Theo tinh thần lời dạy này thì luôn phải có một phần tích lũy một phần tư số tiền mình kiếm được để sử dụng đến khi cần thiết. Theo Phật giáo, chỉ cần một phần tư số tiền kiếm được, chúng ta vẫn có thể có một cuộc sống thuận lợi.

Những đồng tiền bạn kiếm được thật không dễ dàng phải không nào, đừng phung phí, chi tiêu tiện tặng, hợp lý, mua những thứ cần thiết, chi những việc cần chi, đừng sống xa hoa, mơ mộng, nghĩ về cha mẹ nhiều hơn, dùng tiền mình kiếm được mua cho cha mẹ những món quà dù nhỏ, cha mẹ cũng rất vui, tin tôi đi.

Thích Vân Phong biên dịch

(Nguồn: BuddhaZine Indonesia)

 
facebook-1

***
youtube
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 14891)
Vào những năm cuối đời Ðông hán, sau khi Phật giáo truyền vào TQ, trải qua những năm chiến loạn của các triều đại như Tam quốc, Tây Tấn 16 nước và Nam Bắc triều, trong chiến tranh và khổ nạn như thế, Phật giáo đã truyền bá 1 cách nhanh chóng. Các lịch đại vương triều, từ việc giữ gìn, bảo vệ chiếc ngai vàng của mình lâu dài vững mạnh, đã biết áp dụng, lưïa chọn chính sách bảo vệ và đề xướng giáo lý Phật giáo. Do vậy, chùa chiền và số lượng tăng chúng không ngừng tăng thêm.
10/04/2013(Xem: 7593)
“This is a fight between Dhamma and A-dhamma (between justice and injustice)” -­ A member of the Alliance of All Burmese Buddhist Monks. “Đây là cuộc tranh chấp giữa chánh pháp và tà thuyết (giữa công lý và bất công)”. Lời của một Thành viên trong Liên Đoàn Phật Tăng Toàn Miến.
10/04/2013(Xem: 7068)
Ngày 27/06/2002, Unesco đã chính thức ghi nhận Tháp Đại Giác là di sản của nhân loại. Có thể nói đây là một tín hiệu đầy hoan hỷ cho cộng đồng Phật giáo trên thế giới nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng. Từ nay, tất cả những người con Phật không còn lo lắng trước những “bạo lực” và “cuồng tín” của các tôn giáo cực đoan đã và đang tìm cách ngăn chặn sự phát triển và hủy diệt các Thánh địa Phật giáo.
10/04/2013(Xem: 7061)
Sự tín ngưỡng Phật giáo tại Ðài Loan bắt nguồn từ những di dân hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Ðông vào thời Minh – Thanh. Nhưng vào thời kỳ đầu này Phật giáo chỉ chú trọng đến việc cầu phước, tiêu tai, sự tu tập chủ yếu là của các cá nhân đơn lẻ, chứ chưa có những hoạt động mang tính Tăng đoàn ở qui mô lớn.
10/04/2013(Xem: 6432)
Một hiện tượng không bình thường đang dần phát triển trong giới Phật giáo Đài Loan, đó là việc ni giới Đài Loan mấy năm gần đây vận động huỷ bỏ “Bát Kỉnh Pháp”. Hiện tượng này do sư cô Thích Chiếu Huệ khởi xướng và ngày càng lan rộng, nhận định về hiện tượng này và tìm hiểu nguyên nhân mà nó phát sinh cần có cái nhìn toàn diện về xã hội và Phật giáo Đài Loan.
10/04/2013(Xem: 7054)
Từ ngày 18-27/05/2002, nhà lãnh đạo của Phật giáo Tây Tạng, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, sẽ viếng thăm các tiểu bang Canberra, NSW và Victoria. Ðây là chuyến viếng thăm Úc lần thứ 4 kể từ năm 1996 của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, chuyến viếng thăm của Ngài sẽ bắt đầu từ ngày 18, và kết thúc vào ngày 27 tháng 05 năm 2002. Các sự kiện chính sẽ được diễn ra tại bốn thành phố: Melbourne, Geelong, Canberra và Sydney.
10/04/2013(Xem: 6591)
Theo tin đài VOA, ngày 8/1/2002, đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố tại tỉnh Sanarth, Bắc Ấn, ngày nào mà Tây Tạng còn chưa được giải phóng, Ngài sẽ tái sinh vào những nơi đất nước tự do.
10/04/2013(Xem: 6169)
Các con số thống kê chính thức của viện Thống Kê Úc Đại Lợi cho thấy rằng trong 5 năm vừa qua, những người dân Úc Đại Lợi không tin vào Thượng Đế (vô tôn giáo) đã giảm đi. Điều không thể chối cãi là các tín đồ Ki-Tô tiếp tục giảm sút nhiều hơn đối với đạo Anh Cát Giáo và đạo Nhà Thờ Hợp Nhất (Uniting Church), còn đạo Thiên Chúa La Mã bị giảm tượng đối ít hơn. Trong khi đó số người tự coi là vô thần giảm đi hơn là con số của năm năm về truớc. Vào năm 2001 chỉ có hơn 15% dân số bị xếp loại vô tôn giáo, so với 16.5% vào năm 1996. Các tôn giáo có tín đồ gia tăng là đạo Hồi và đạo Ấn, vì lý do di dân.
10/04/2013(Xem: 6541)
Kênh truyền hình Địa Dư Quốc Gia (National Geographic Channel) đã cho trình chiếu trong tháng 5/2002 vừa qua một loạt phóng sự (Mummy Road Show) về các xác ướp cận đại còn giữ gìn đuợc tốt. Chương trình nghiên cứu này do hai chuyên gia về xác ướp là ông Jerry Conlogue và Ron Beckett thực hiện.
10/04/2013(Xem: 6393)
Tin 1 triệu người thuộc giai cấp cùng đinh của Ấn Độ từ bỏ Ấn giáo, quy y Tam Bảo tại viện Ambedkar, thủ đô Delhi Ấn Độ, đã tạo ra cơn sửng sốt cho các đảng lãnh đạo Ấn giáo của chính phủ Ấn Độ và gây chấn động khắp thế giới. Thanh Tâm đã phỏng vấn đại đức Thích Nhật Từ, tu sĩ Việt Nam duy nhất tham dự đại lễ quy y này.